DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
METRO ĐÃ KHỞI HÀNH

                                                                                                                          Bùi Việt Phương



          Thú thật, những năm gần đây tôi không mấy mặn mà với các thể dài hơi như trường ca, tiểu thuyết và cả phim truyền hình dài tập. Nói thế, không hẳn vì sùng bái “phản đại tự sự” mà đơn giản chỉ là chuyện của giọng điệu và cấu trúc. Hai tiêu chí quan trọng để đánh giá trường lực của người viết và cũng là những điều lý thú để lôi cuốn người đọc. Nếu như giọng điệu - với bản chất là thái độ cảm xúc được hình thức hoá - có lẽ thiên về cảm tính thì cấu trúc lại mạnh về nhận thức lý tính. Một thứ lý tính của ý thức sáng tạo. Cấu trúc (với nhà văn chuyên nghiệp) thể hiện khả năng nhận thức của anh ta về nghệ thuật. Thậm chí nói không quá thì đó còn là diện mạo của lòng tự trọng trong sáng tạo. Cứ tâm niệm như thế nên khi Metro của Thanh Thảo vừa khởi hành, dù chưa dám quả quyết nhưng tôi luôn tin vào lòng tự trọng trong sáng tạo của nhà thơ này. Hay nói đúng hơn, tin vào con người luôn biết làm mới lòng tự trọng của mình.

Thanh Thảo, từ bút danh đã nói lên một con người điềm đạm nhưng quyết liệt, bình thản mà sôi sục. Không khoe khoang chữ nghĩa nhưng chất thơ lắng đến từng chữ cái. Sở dĩ sự điềm đạm ấy có thể giành được uy thế, tạo được chỗ đứng vững chắc và trở nên quyết liệt là bởi anh có một “chất nghĩ” có tầm từ những ngày đầu “thử nói” bằng thơ:

“màu đỏ thật không ồn ào

máu lặng lẽ ướt đầm ngực áo”


                                  (Thử nói về hạnh phúc)

Có lẽ 4 chữ “lặng lẽ ướt đầm” là cụm từ đủ khái quát lên một kiểu lập ngôn rất Thanh Thảo. Thơ anh (cũng là máu của anh) không “ồn ào” tuôn chảy, hùng hồn áp đặt, gán cho người đọc trách nhiệm phải hiểu, nhưng lại khiến ta nhìn ra dòng máu tươi “lặng lẽ ướt đầm ngực áo”. Thông điệp thẩm mỹ này gửi đến ta với một nhã hứng đối thoại, một kết cấu mở đánh thức dung cảm trong ta. Có lẽ từ cái gốc gác ấy mà trong suốt hành trình thơ và trường ca anh luôn gợi mở, thách thức sự khám phá của người đọc bằng hai dữ kiện: Thứ nhất: đó là một mê cung của những hình ảnh, biểu tượng, triết lý…đã bị xoay, bị lật úp, lật nghiêng chỉ còn thấy lấp lánh những tín hiệu mĩ cảm. Thứ hai: đó là một cánh cửa hé mở để gợi sự tò mò khám phá từ nhan đề như: khối vuông rubich, hay những suy tưởng khác: những bè giao hưởng, con “chíp” chất nghĩ [1]… Phải chăng đến trường ca Metro sẽ có một kiểu kết cấu mới xuất hiện, một kết cấu vượt ra mọi suy đoán và tưởng tượng của những người mê thơ anh.

Trong thi ca biểu tượng đoàn tàu, toa tàu, ga… cũng rất phổ biến, gắn với chủ nghĩa xê dịch, với hành trình khám phá miền đất hứa hay trở về cố hương. Với Metro, Thanh Thảo hoàn toàn không có ý định viết một kí sự hoả xa bằng thơ, hay truyện thơ về một chuyến đi dối già. Tác giả dựa trên cơ sở thực tế về một phương tiện giao thông công cộng với đặc trưng là cách biệt với thế giới bên ngoài, đồng thời mượn những đặc tính hiện đại của nó để thể hiện những mạch cảm xúc khá ngầm và kín. Cũng như bao lần thách đố người đọc bằng những mê cung dễ thương, lần này Thanh Thảo còn tỏ ra pro hơn khi không chỉ hé lộ một biểu tượng metro mà kèm theo cả một cơ chế vận hành:

“những khoảng khắc ga

đoàn tàu thời gian băng tới

ký ức vùn vụt trôi ngược lại

metro

hai trong một

chạy tới chạy lui

trên cùng một đường ray”


Thì ra Metro là vậy, “đoàn tàu thời gian” chạy qua những ga “khoảng khắc” bỏ lại sau lưng những cột mốc “ký ức” đó là một biểu tượng đẹp. Nhưng thử hỏi đoàn tàu ấy chạy về đâu? Về với Trường Sơn thầm gọi ư? Sao lại có: hai trong một / chạy tới chạy lui / trên cùng một đường ray./ Chả lẽ tất cả những sự xê dịch đó chỉ nằm trong quy luật đẩy đưa vô vi, kiểu ru ngủ thực tại.

Tuy nhiên khi nhìn lại toàn bộ trật tự của trường ca tôi chợt nhận ra anh thể hiện tác phẩm của mình theo một trình tự khá thú vị. Có vẻ rất sành như người nhà tàu vậy. Này nhé: xác định từ đường ray, điểm xuất phát, điểm đến. Thế rồi nhận mặt từng ga, từng toa, cuối cùng là một khúc vĩ thanh về tâm trạng của người hành khách vừa ngẩn ngơ tiếp đất thì đâu phải là thường.

Những bước chuẩn bị

Mở đầu bản trường ca là những câu mang tính triết luận, nó khiến ta liên tưởng đến một sự chuẩn bị thật chu đáo trước lúc khởi hành:

“tôi đi qua con đường ấy chỉ một lần

có thể yêu nhiều nhưng chỉ một lần

có một lần phiền người khác phải khiêng mình trèo đèo tụt dốc

sốt rét nhiều lần nhưng có một lần đầu

sinh nhật 63 lần nhớ một lần

và con đường ấy chỉ một ”

Sáu câu thơ xoay quanh một triết lý về thứ nhất, nhiều nhất, duy nhất và “đỉnh” nhất. Thì ra đường ray Metro là thế này đây. Không mới, không cũ, sự lặp lại không làm mòn vẹt cảm xúc: Có thể yêu nhiều nhưng chỉ một lần; không lấp đầy được những hố thẳm của mắc nợ: Có một lần phiền người khác phải khiêng mình trèo đèo tụt dốc; thời gian và tuổi tác không làm mờ đi hành trình ấy: Sinh nhật 63 lần nhớ một lần

Đường ray đã ổn nhưng metro sẽ đi từ đâu đến đâu?

Ngay sau những câu thơ trên là một đoạn khá dài anh viết về được và mất. Hai đối cực này đã được anh so sánh, ứng chiếu, rồi từ định lượng đến định danh bản chất của nó bằng một chữ thèm. Được thèm và mất thèm: hạnh phúc có khi / là được thèm nhiều thứ rất vớ vẩn/ và đối cực kia là: bây giờ thỉnh thoảng / con nghĩ không biết mình thèm cái gì. Vậy là đã rõ, mất thèm là ở đây, được thèm là ở phía xa kia, là Trường Sơn nơi có những “khu rừng triệu năm”, “khu rừng biệt tăm”. Mất thèm ở đây thì vô vị, đơn điệu, được thèm ở kia thì muôn vàn cung bậc, lôi cuốn và mời gọi. Còn đợi gì nữa, đường ray đã đẹp, điểm đến đã xác định rồi metro đã có thể start ? Không, còn phải kiểm lại một lần lúc đi xa, người khách thời nào cũng vậy. Nhưng thôi, ta là kẻ mất đi tìm được thì nào phải lo quên gì. Nhưng Thanh Thảo vẫn nhớ ra một điều: những người bạn đồng hành năm nào giờ cũng đang thấp thoáng đâu đó trên sân ga. Nhưng chỉ là một thoáng thôi, “nhớ Đồng”, “nhớ Mai”, “bạn hiền Lê Điệp”, quán bia hơi Đường Thành… họ cũng không đủ làm anh chậm bước. Người ấy đã bước lên tàu, cửa metro đã tự động đóng.


Nhận diện từng mặt ga

Quyết tâm và hào hứng để đi đến đích cuối cùng là thế mà khi metro chỉ vừa mới khởi hành người khách đã trở tính, nảy ra cái ý định nhảy tàu xuống những ga xép. Tất nhiên nhà tàu chả bao giờ chiều lòng những tình yêu manh động như thế:

bình tĩnh đã nào, tàu đang chạy

qua nhiều ga xép không dừng

nhưng tôi từng yêu ở cái ga nhỏ bé này

cho tôi xuống!”




“hết sức kiềm chế! tôi không nghĩ anh sẽ nhảy tàu

để gặp lại mối tình cách đây 40 năm

vả, có muốn nhảy cũng không được

cửa metro đóng mở tự động

anh chỉ dược quyền yêu những ga chính.”


Gay nhỉ, ngay cả đi trên đường ray của mình mà không phải ga nào cũng được nhảy xuống. Có một sự lệch pha nào đó giữa hành trình của metro và anh nên mới có chuyện khác biệt trong quan niệm về ga chính, ga phụ, điểm dừng, điểm đỗ, quan trọng thứ yếu chăng? Tất thảy những sở thích: mê cảnh đẹp, mê vẻ hoang sơ hơn là quan phương tô vẽ, lấy phụ làm chính; lúc động thì tĩnh, lúc tĩnh thì động: muốn dừng lại mà suy tư trước những chuyển động vô cảm rồi lại bỏ đi trước cái sự gì đó đợi mình…đó đều là cái bệnh của thi sĩ. Bệnh nhảy tàu vặt đã làm đau đầu các nhà quản lý lộ trình tư tưởng. Mưu sự là thế mà hành sự bất thành nhưng có lẽ vị hành khách độc đáo này cũng không tuyệt đối tuân thủ cái quy định lạnh lùng: anh chỉ được quyền yêu những ga chính. Thế là anh đã tìm cho mình một cách để thay đổi cơ chế chuyển động của tàu. Metro không còn là tàu điện chạy bằng động cơ nữa mà nó đã được hoán đổi bằng một đầu kéo khác: trường lực của cảm xúc. Từ đó kéo theo một thay đổi lớn, thay bằng dừng ở những địa danh (không gian) nó sẽ đỗ nghỉ ở những mốc thời gian nên độ dài giữa các ga cũng được thay bằng sự khoan nhặt của cảm xúc. Vì thế những con số rất thực, rất chi tiết: 9h31’ ngày 13 tháng 4 năm 2009; 11 phút sau; 10h16’ cùng ngày… chỉ là sự giả trang tạo ra một lịch trình như thật để tăng tính thuyết phục về phương diện hư cấu. Ga cảm xúc không xác định điểm dừng cố định, nó nhường chỗ cho những mối liên tưởng phát huy mạnh mẽ: ga nhớ/ ôi nhớ miên man nhớ mông lung nhớ đụp nhớ quàng/ 38 năm không hết nhớ/ 38 năm không biết quên;/ ga của gặp gỡ, của trò đùa tâm linh: mười sáu giờ mười ba phút: nhưng hạnh phúc/ là gì?/ câu hỏi này của chị Dương Thị Xuân Quý/ người hỏi không thể tự trả lời/ vì chuông đã rung/ hết giờ!.

Không hiểu sao khi chứng kiến những cuộc gặp gỡ của anh với những ga cảm xúc, những cú nhảy tàu thực sự về với tiếng gọi nhân bản trong anh, tôi lại nhớ đến những câu thơ Nôm của hơn 500 năm về trước. Đó là thơ Quốc Âm của Nguyễn Trãi với các mục nổi tiếng như: Ngôn chí (21); Tích cảnh (13), Bảo kính cảnh giới (61)…trong đó gồm rất nhiều thủ (liên kết theo lối thủ vĩ liên hoàn). Các thủ ấy vừa có tính độc lập cao khi có thể tự mình tạo ra những liên tưởng ngang vừa liên kết để thúc đẩy một chuyển động dọc. Vậy sự gần gũi giữa hai tác phẩm của hai thời đại này ở những điểm nào? Biết đâu thử lan man với những đối sánh ngẫu hứng lại nhận ra được lắm điều thú vị ở Metro.

Điều thứ nhất. Khí lực của trường ca chính là chất anh hùng ca. Chất anh hùng ca của metro ở đâu? bi thế nào và hùng thế nào? hẳn trong Metro khó xác định. Có lẽ bí quyết của trường tồn là quyền biến, được cụ thể hoá bằng những biến thể. Đó không phải là sự méo mó, kém bền vững mà là một sự biến đổi để hoà nhịp với nhịp sống (môi trường thiết yếu của mọi tồn tại). Trong thời chiến bộc lộ chất anh hùng ca trực tiếp là điều dễ hiểu. Trong thời bình nếu vẫn cố nói theo cách cũ chưa hẳn đã nhàm nhưng dễ bị đóng khung, bị ngăn cách với thực tại thành một kiểu sử thi lạc thời. Nhất thiết phải tìm cho chất anh hùng ca một diện mạo mới mà vẫn giữ được gen gốc. Truy nguyên ở cội nguồn nguyên hợp của anh hùng ca để tìm một điều như thế thì rất nhiều nhưng có lẽ sự Anh minh là nổi bật nhất. Đó là một trong hai phẩm chất của nhân vật chính trong sử thi (khoẻ mạnh về thể chất, anh minh về trí tuệ). Sự Anh minh ấy cũng là phẩm chất tối thượng để nhận diện những giá trị cũ. Sự sáng suốt giúp ta nhìn ra những gì là được, những gì mất, tiếc gì và “buông” gì. Xét trong bối cảnh của văn học thời kì đổi mới, tự vấn cũng chẳng là Anh minh đó sao ? Thanh Thảo đã không bi hoá mọi nỗi đau, cũng không hùng hoá thời cầm súng của mình. Bi-hùng tương sinh tương khắc trong tâm hồn người lính:

“ga Thường Tín

buổi sáng ấy người ta không cho má anh tới tiễn con

sợ bà khóc làm đau những thằng lính ra trận

họ nhầm!

nếu không có nước mắt người mẹ

những đứa con sao tìm thấy đường về.”


Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến một yếu tố hậu thuẫn cho cái hùng-bi, cho sự Anh minh, đó là giọng điệu. Giọng điệu phải như thế nào để hợp với Metro ? Nếu cứ viết mãi về chiến tranh, về Trường Sơn bằng cái giọng cũ thì hẳn sẽ rất khó bởi thời gian sẽ làm “mờ” tất cả, biến ta thành người khách trên một metro đi giật lùi ngày càng xa những kỷ niệm. Thế nhưng ở đây là một giọng rất giọng suồng sã [2] như là nói với chính mình của 40 năm trước mà lại rất nghiêm. Xưa là cái suồng sã, tếu táo của lính, nay là cái suồng sã của lương dân. Xưa nói thế để thanh thản đi vào cái chết và mãnh liệt sống đến hôm nay, còn giờ đây nói thế để trút bỏ gánh nặng của một con người được sống, tri ân hay vỗ nợ những người nằm xuống thay cho mình:

“ga ni ga mô ri?


( xin chú thích: tiếng Huế

nghe giống hệt tiếng Tây

tạm dịch: ga này là ga gì?)

ga nhớ

ôi nhớ miên man nhớ mông lung nhớ đụp nhớ quàng

38 năm không hết nhớ

38 năm không biết quên

những thằng bạn như cây rừng run rẩy

xanh nhợt la lả

những thằng bạn nói cười rồi chết như không

như chẳng là gì cả.”

Giọng ấy không phải là sự trượt dài của bi lụy, tiếc nuối, cũng không hẳn là một biến thể khác của giải thiêng mà phải qua rất nhiều bước nhận thức của thời hậu chiến tranh mới có được.

Một bên là người quân tử thời hậu chiến, một bên là người lính, người thơ nhân văn, họ đã tự đến gần với nhau bằng một thái độ cảm xúc ấy.

Trở lại với sự liên tưởng đối sánh đã nói ở trên, theo tôi các “ga” cảm xúc của Metro gần với nhiều bài thơ Nôm Quốc âm là bởi giọng đó. Trong Quốc âm những suy cảm nhân sinh đã tìm được những xúc cảm dân sinh nhuốm màu sex [3] để thể hiện, để đi vào cổ điển. Nó chưa thành được một bè chính trong giọng điệu trữ tình hiện đại nhưng sự “tiếc đêm”trong Tích cảnh là một minh chứng. Phải chăng cũng rất suồng sã mà cũng rất nghiêm.

Điều thứ hai. Nhiều “ga” trong trường ca này độc lập và độc đáo như một bài thơ lẻ. Không có dấu hiệu của “tổ khúc”, “hoạt cảnh”, “giao hưởng thơ” mà vẫn không bị văng ra khỏi mạch của trường ca, đường ray của metro:

“9h31’ ngày 13 tháng 4 năm 2009

giống như chứng thấp khớp

tình yêu đau trong tôi khi trái gió trở trời

những thoáng chuyển mùa lạnh buốt

bây giờ nhớ lại những vệt mờ

miếng vỏ cây anh bóc trước nhà em

trong đêm chờ đợi

con chó nhà bên sủa nhàn nhã

không ra báo hiệu không ra đồng loã

anh cách em chỉ một bức tường

mờ sương

40 năm.”

Điều khiến ta nhớ đến những liên thủ trong các mục thơ Quốc âm chính là sự độc lập trong từng thủ như những “ga” này. Sự liên hoàn thủ-vĩ tuy không có ở Metro nhưng chính những mốc thời gian nằm giữa các “ga” đã làm thay điều đó. Chúng cứ tự nói không lệ thuộc vào phía sau, phía trước nhưng vẫn tự giác liên hoàn theo một chuỗi cảm xúc. Tuy không phải lúc nào hình thức chất liệu (hình thức bên ngoài) cũng quan trọng nhưng ở nhiều trường hợp những sự tổ chức này nhìn từ bề ngoài đã gợi ý cho người đọc nhiều điều rất mới. Việc phân tách thành nhiều tiết đoạn với sự độc lập tương đối về nội dung ấy không chỉ tạo ra trình tự của trường ca mà còn gợi sự tương đương, bình đẳng về xúc cảm nghệ thuật giữa chúng như những bản kể khác nhau về cùng một sự việc. Ta có cảm giác đang chứng kiến chuyến tàu đêm với những ánh đèn trên các toa tuần tự chiếu dọi một vật mốc:

“có lắm sự thật

bao cách nhìn

Trường Sơn chỉ một.”


Chính nó đã tạo nên một kết cấu động trong trường ca Metro.

Điều sau cùng. Một sự đẩy đưa nào đó đã gợi ý cho tác giả tạo nên một ứng xử với thời gian rất thật lạ. Mạo muội được “diễn Nôm” phép ứng xử (nhiều gợi cảm) ấy là: thời gian trôi xuôi thì ta “nhảy tàu” ngược lại. Không giống như hoài niệm là ngồi im một chỗ mà ngoái cổ về, lần “ngược” này lại chính là một đối trọng (cùng phương, ngược chiều) với sự trôi chảy của nhật nguyệt kia để nâng tầm hiện tại. Ta thử xem cụ Nguyễn Trãi đã từng ứng xử thế nào nhé:

Thương cảnh vì nhân cảnh hữu tình

Huống chi người lạ cảnh hoà thanh

Xuân ba tháng trời thu ba tháng

Hoa nguyệt dun dùng mấy phát lành.


                                        ( Tích cảnh, thủ thứ 9)

Hẳn dun dùng (co đi đẩy lại) ấy của “hoa nguyệt” vừa là thời gian [4], cũng vừa là xuân, vừa là tình, cũng là thời tuổi trẻ mà mấy trăm năm sau một thi nhân hậu sinh ngoại lục tuần đã gửi nó lại Trường Sơn. Hoa nguyệt của hôm nay chẳng phải là: những cô gái hồi ấy viết nhật ký/ như thủ dâm/ cứ mỗi đêm họ lại vượt Trường Sơn/ cứ mỗi đêm đá tai mèo mọc trong ngực/ đó sao. Tiếc thế cũng là yêu!


Vĩ thanh cảm ứng

Như rất nhiều trường ca khác Metro cũng phải đến hồi kết. Vị hành khách trở tính này đã được tiếp đất thật sự nhưng sự choáng váng thì còn rất nhiều. Hết thật. Ở phía mất thèm kia ta không là ta, ở phía được thèm này cũng mất hết nhưng ta còn. Với thi sĩ thuở nào cũng vậy, sau bao trải nghiệm dẫu chưa viên mãn thì cũng không có gì cấn cá, nếu còn chút băn khoăn gì đó hẳn chỉ còn là chuyện thơ:

“hạnh phúc

là được viết những câu thơ bất chợt

cho mình

không hạnh phúc

cũng là viết những câu thơ như bắt được

cho mình”

Nên hiểu những dòng này thế nào nhỉ? Có phải bản năng cắt nghĩa hạnh phúc luôn thường trực trong tâm hồn Thanh Thảo không? Cũng có thể, nhưng có được metro cũng là hạnh phúc rồi.

                                                                                           Thịnh Lang, 24/07/2009
                                                                                                 Bùi Việt Phương

                                                        (Tổ 4, phường Thịnh Lang, thành phố Hoà Bình,
                                                                             tỉnh Hoà Bình, ĐT: 0988440316)


------------------------------------------------------
Chú thích:
[1] Xem thêm: Trường hợp Thanh Thảo – TS Chu Văn Sơn. Tôi cho rằng những trường hợp này ngoài Khối vuông rubich phần nào đã được Thanh Thảo hé lộ qua tên tập thơ. Phần còn lại đều dựa vào những phát hiện của Chu Văn Sơn. Đó là một minh chứng cho nhận định về vai trò của nhà phê bình với người đọc

[2] TS Chu Văn Sơn đã nói vắn tắt về giọng điệu trường ca này khi trả lời phỏng vấn của Trần Thiện Khanh.

[3] Xem thêm Nguyễn Trãi và sex - Nguyễn Hùng Vĩ ( phongdiep.net)

[4] “Với hoa chỉ Xuân, nguyệt chỉ Thu” – Xem thêm Nguyễn Hùng Vĩ, Tlđd

 

Các bài khác:
· MƯỜI NĂM TRƯỚC ĐÃ CÓ CHUYỆN “ ĐƯỜNG BÍCH KHÊ”…
· CHÙM THƠ MỚI CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG
· NHẠC TÍNH TRONG THƠ MỚI
· ANH HÙNG VÀ...TÙ NHÂN
· TIẾP CẬN VĂN BẢN "ĐÀN GHI TA CỦA LORCA" (THANH THẢO)
· NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ KHÁT VỌNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC
· ĐƯỜNG THƠ, ĐƯỜNG NÀO ?
· THƠ CẦN THIẾT CHO AI?
· TẾ HANH TRONG LÒNG QUÊ HƯƠNG QUẢNG NGÃI
· CÓ NHỮNG CÁI ĐẦU TIÊN
· NHÌN NHẬN YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ MỚI
· Một tài liệu cần được biết
· Hai bài thơ tiếng Anh của một văn hào Argentina
· "Những khúc ca trên cỏ" - tập thơ của khát vọng
· Trương Nam Hương với 99 Mini thơ
· Có chia
· William Carlos Williams: Thơ cài trên tủ lạnh
· Hoa trong thơ Tế Hanh
· Những quan niệm thơ
· Cỏ xanh và Lửa đỏ - một đối lập lôgic của thơ Thanh Thảo

 

  
Gia đình Bích Khê