DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHÙM TRUYỆN NGẮN ĐÓN CHÀO NGÀY QĐND -22/12

                                                                                           Đỗ Ngọc Thạch

NGƯỜI CON GÁI SÔNG LA

 

1. 

Người con gái sông La / Đôi mắt trong tựa ngọc…” – đó là lời mở đầu bài hát Người con gái sông La, hát về những cô gái Thanh niên xung phong (TNXP) của tỉnh Hà Tĩnh trên chiến trường Khu Bốn, cụ thể là ở Ngã ba Đồng Lộc, đầy mưa bom, bão đạn những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Những cô gái TNXP đó cùng lứa tuổi với tôi và đúng vào thời kỳ không quân Mỹ tập trung đánh phá Khu Bốn thì đơn vị Ra-đa của tôi cũng chiến đấu ở chiến trường khu Bốn này. Chỉ riêng hai điều đó đã khiến cho tôi không thể quên được vùng đất này, huống chi “…trong từng nắm đất / có một phần xương thịt của Em tôi…”- EM TÔI  ở đây chính là O Việt!... 

Ngay hôm đầu tiên gặp O Việt, tôi hỏi em tên gì, nhà ở đâu thì em cứ hát hoài câu hát Người con gái sông La… Vì thế tôi đành gọi em là Người con gái sông La… 

*

Nơi đóng quân  để làm nhiệm vụ của Đơn vị Ra-đa chúng tôi gọi là Trận địa Ra-đa, cũng na ná như trận địa pháo phòng không (hoặc còn gọi là Cao xạ pháo), máy móc, khí tài được đặt trong những ụ đất cao bốn, năm mét, còn giàn Ăng-ten thì đặt trên một gò đất cao. Khi từ Nghệ An hành quân vào Hà Tĩnh, đơn vị Ra-đa chúng tôi đóng quân ở Can Lộc, tận dụng một gò đất cao tự nhiên, chỉ việc san lấp mặt bằng trên đỉnh gò một ngày là có thể kéo máy lên. Nhưng khi làm trận địa Ra-đa ở  xã Đức Thanh, huyện Đức Thọ thì tốn khá nhiều công sức: chỗ chọn làm trận  địa chỉ là bãi đất rộng đầu làng, vốn là khu trồng khoai, đậu nên địa hình bằng phẳng, toàn bộ bốn ụ đất hình chữ U để một xe hiện sóng, một xe đối không (dùng để liên lạc trực tiếp với máy bay ta), hai xe máy phát điện và một gò đất cao năm mét để đặt giàn Ăng-ten (lưới phản xạ) đều phải dùng sức người, tức lực lượng TNXP của huyện Đức Thọ. Đại đội phó Tấn đã chọn tôi làm “trợ lý” để thực hiện thi công trận địa này. 

Lực lượng TNXP giúp chúng tôi đào đắp trận địa đều của huyện Đức Thọ. Nếu không đi khắp làng quê Việt Nam những năm chiến tranh chống Mỹ thì sẽ không thể hình dung nổi lực lượng TNXP lại hầu hết là nữ. Gần 100 cô gái làm trận địa Ra-đa cho chúng tôi lúc này đều là nữ. Có ba đặc điểm làm tôi hết sức bất ngờ, đó là: 1/ Các cô gái đều đã học xong PTTH; 2/ Các cô gái đều có mái tóc dài thướt tha; và 3/ Các cô gái đều rất giỏi ca hát, giỏi đối đáp và nói chung là đều xinh đẹp tuyệt vời! Không khí làm việc sôi động không kém gì trên công trường Đại thủy nông Bắc-Hưng-Hải ở ngoài Bắc ngày trước! Như chúng ta đã biết, hát, hò đối đáp là phải “có nam có nữ mới nên vần nên điệu”, nhưng ở đây tất cả chỉ có tôi và đại đội phó là nam. Vì thế chúng tôi phải “dùng hết công suất” mà vẫn không đối đáp kịp. Rất may là có hai cô gái đã tới trợ giúp tôi và đại đội phó. Thường là nghĩ ngay ra lời đối đáp và đọc cho chúng tôi hò, khi thấy chúng tôi có vẻ sắp “đuối sức” thì hò giúp luôn! Hai cô gái trợ giúp có tên gọi là O Thanh và O Việt… 

Thông thường, mỗi trận địa làm trên địa hình bằng phẳng như thế này, với khoảng năm chục người, thì một tháng là xong. Đại đội phó muốn rút ngắn thời gian nên đã xin tăng gần gấp đôi số người, nhưng do thời kỳ này, máy bay Mỹ thường xuyên bắn  phá bến phà Linh Cảm, Ngã ba Đồng Lộc nên bay qua khu vực trận địa đang làm. Nên mỗi khi có máy bay bay qua, toàn bộ lực lượng đang làm trận địa phải tản ra tránh bom. Cứ cò cưa như vậy mất khá nhiều thời gian…Vì thế, một tháng trôi qua mà trận địa vẫn chưa hoàn thành...Đúng lúc đó lại có lệnh từ Trung đoàn phải cơ động di chuyển trận địa, đại đội trưởng đích thân tới thị sát tình hình. Hai thủ trưởng bàn tính mãi mới đưa ra kết luận: nhanh nhất cũng phải bốn ngày mới xong trận địa, nhanh hơn tính toán trước của đại đội phó là hai ngày! Tuy nhiên, đó mới chỉ là ước tính! Tôi chỉ ngồi nghe các thủ trưởng bàn tính mà không dám có ý kiến gì, ngồi suy nghĩ về câu truyện Tấm Cám trong Kho tàng Truyện cổ tích Việt Nam, khi cô Tấm ngồi khóc bên đống gạo trộn lẫn với thóc, tôi vụt nghĩ: nếu huy động được “Đàn chim sẻ” của ông Bụt đến chuyển đất từ dưới ruộng lên gò thì chỉ trong chớp mắt ta sẽ có ngay một gò đất cao để đặt giàn Ăng-ten lưới phản xạ! Tôi đang mơ màng với Cô Tấm và đàn chim sẻ thì đại đội trưởng vỗ vai tôi, nói: “Anh chàng lính sinh viên này có mưu kế gì không? Nghĩ đi, sẽ trọng thưởng bằng ba ngày “tranh thủ” về nhà!” Đối với lính tráng chúng tôi thời đó, được “tranh thủ” về nhà là phần thưởng lớn nhất! Vì thế, tôi nhận lời với đại đội trưởng sẽ có kế sách để rút ngắn thời gian hoàn thành trận địa.

Tôi đi tìm O Việt, tính nhờ O Việt huy động lực lượng thiếu niên trong xã. Khi tôi nói với O Việt về tình hình khẩn cấp của việc hoàn thành trận địa và ý định của mình, O Việt ủng hộ ngay và nói: “Anh tìm đúng người rồi đó. Năm ngoái em làm cán bộ Huyện Đoàn, phụ trách công tác Đội Thiếu niên, em có thể huy động lực lượng Thiếu niên cả huyện tới tham gia làm trận địa! Nhưng anh phải hứa sẽ giúp em một việc!”. Tôi nói ngay:”Một việc chứ trăm ngàn việc tôi cũng sẵn sàng! O Việt nói đi!” O Việt lưỡng lự một phút rồi nói: “Thôi để làm trận địa xong em sẽ nói!”…

Ngay ngày hôm sau, O Việt đã đến các xã lân cận và chỉ sau một ngày, đã huy động được hơn 100 học sinh thiếu niên tới và chỉ sau một ngày làm việc, trận địa Ra-đa của chúng tôi đã hoàn thành, trước thời gian dự kiến hai ngày! Tôi đi tìm O Việt để hỏi xem cái việc O định nhờ tôi là gì thì mới được biết O Việt cùng một tiểu đội TNXP đã được lệnh tăng cường cho khu vực Ngã Ba Đồng Lộc! Tôi bồn chồn không yên bởi đó đang là điểm đánh phá ác liệt!... 

2. 

Ngày hôm sau, đại đội Ra-đa của chúng tôi đã cơ động đến trận địa mới, xe máy, khí tài, giàn Ăng-ten … đều được đưa vào đúng vị trí không sai một li! Cũng phải thầm cám ơn Ông Trời vì không mưa gió, nếu không sẽ cực kỳ khó khăn vất vả khi triển khai máy móc, khí tài dưới trời mưa, đất bùn trơn trượt!...

Khi Trung đoàn ra lệnh mở máy chiến đấu thì tất cả đã ở tư thế sẵn sàng! Đại đội trưởng gọi tôi lên Ban Chỉ huy Đại Đội, nói: “Đúng như lời hứa, cậu sẽ được đi “tranh thủ” ba ngày! Chúc thượng lộ bình an!”. Tôi chạy về Trung đội, đã thấy Tiểu đội trưởng cầm cái ba-lô cóc của tôi đi tới đón đầu tôi và nói: “Thủ trưởng Đại đội đã báo cho cậu được đi “tranh thủ” ba ngày. Ba-lô quần áo, lương khô và có cả năm cái thư của mọi người nhờ đem về Hà Nội rồi bỏ vào thùng thư Bưu Điện cho nhanh! Đi ngay xuống nhà bếp vì có xe đi lấy gạo, có thể quá giang một đoạn!” Tôi chạy ngay xuống nhà bếp Đại đội, thấy Quản lý Mại đã ngồi trên ca-bin cái xe “gát” cà khổ, dơ tay ngoắc tôi nhanh lên! Khi tôi trèo lên thùng xe đã thấy Tiểu đội trưởng Anh nuôi Sùng và chiến sĩ nuôi quân Khang ngồi đó. TĐT Sùng đưa tôi đưa tôi cái bao tải buộc túm một đầu và nói: “Đây là tiêu chuẩn ăn ba ngày của cậu. Tớ tặng thêm cho cậu một lon thịt hộp, một lon sữa và một gói lương khô! Nhớ có quà Hà Nội nhé, tốt nhất là đem vào cho tớ một chai rượu Làng Vân!...” Tôi nói chắc như đinh đóng cột: “Nhất định là ông anh sẽ có rượu Làng Vân! Còn chiến hữu Khang, thích cái gì?” Khang không nói gì, tưởng anh ta đang “lựa chọn sở thích” tôi lại hỏi, thì Khang nói cụt lủn: “Thích về nhà với vợ! Hỏi nữa không?” Tôi giật mình và thấy như mình có lỗi với anh ta!...

Xe tới Thành phố Vinh thì Quản lý Mại nói: “Xe phải dừng ở đây rồi! Cậu đi kiếm cái xe khác nhé! Chúc may mắn!” Tôi tạm biệt mọi người rồi nhảy xuống đường. Tôi thoáng nghĩ, đứng ở đây vẫy xe không biết đến bao giờ, chi bằng vào Ga Vinh chờ tàu chắc chắn hơn. Tôi vừa đi được dăm bước thì có một chiếc “Zin 3 cầu” đi sát vào tôi, người ngồi ở ca-bin vỗ vào cánh cửa rầm rầm rồi nói: “Có đi Ngã Ba Đồng Lộc thăm người yêu không thì lên xe!” Vừa nghe thấy hai chữ “Đồng Lộc”, tôi vụt nghĩ ngay đến O Việt và không kịp suy nghĩ gì, dơ tay ra hiệu có đi nhờ và khi chiếc “Zin 3 cầu” đi chầm chậm sát bên tôi thì tôi bám thành xe nhảy lên thùng xe! Khi xe chạy được ba phút, tôi mới nhận ra mình đang đi ngược lại lúc nãy, tức về hướng Nam!... 

3. 

Tới Ngã Ba Đồng Lộc thì trời sập tối, nhưng tôi vẫn nhìn rõ con đường ngổn ngang đất đá, nham nhở những hố bom đang lấp dở. Và điều rất dễ nhận ra là cái mùi khét nồng, có cảm giác như sẽ ngạt thở - đó là cái “Mùi chiến trường” rất đặc trưng chỉ ở những nơi “Mưa bom bão đạn” hàng ngày mới có!... Trên con đường ngổn ngang, nham nhở và khét nồng đó, từng tốp, từng tốp các cô gái TNXP đang cặm cụi làm việc!...

Chưa có lệnh thông đường, chiếc Zin 3 cầu dừng lại trước một cô gái TNXP, một tay đang cầm một lá cờ trắng, là cho xe đi qua, một tay đang cầm một lá cờ đỏ, là để dừng xe lại. Người chiến sĩ lái xe nhảy xuống đất, chạy lại chỗ cô gái TNXP cầm cờ, hai người nói chuyện líu ríu, chốc chốc lại cười rúc rích! Tôi cũng nhảy xuống đất, vừa vặn có một cô gái TNXP đi tới. Tôi tóm lấy hỏi ngay O Việt ở đâu. Cô gái nhìn nhanh tôi từ đầu đến chân rồi nói rất nhanh: “O Việt mới bị thương lúc xế chiều, vết thương rất nặng, hiện đang nằm ở Bệnh viện dã chiến! Anh có đến gặp O Việt thì đến nhanh lên!”… 

Theo chỉ dẫn của cô gái TNXP, tôi chạy một mạch đến Bệnh viện dã chiến. Phải  chạy gần nửa tiếng tôi mới tới Bệnh viện. Tìm được O Việt rất nhanh, nhưng O Việt đang nằm bất động, hơi thở yếu ớt, mắt nhắm hờ. Cô Y tá nói với tôi: “O Việt này bị thương rất nặng, khó mà qua khỏi đêm nay!” Nhưng cô Y tá vừa nói đến đó thì O Việt từ từ mở mắt, nhìn thấy tôi thì mắt O như có đốm sáng bừng lên, đôi môi khô nẻ khẽ mỉm cười và thật kỳ lạ, khuôn mặt trắng bệch bỗng ửng hồng, rạng rỡ. Và O Việt bỗng cất tiếng nói, tuy rất nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ: “Cái Lan, cái Thanh học cùng lớp em đã có giấy báo vào Đại học, mà em vẫn chưa có…Nhờ anh ra Hà Nội đến Bộ Đại học hỏi giùm em và nếu có thì cầm vào cho em!...” O Việt ngừng nói, mắt lại nhắm hờ! A, thì ra cái việc mà O Việt định nhờ tôi chính là cái giấy báo gọi vào đại học! Tôi nắm nhẹ bàn tay O Việt như có ý muốn nói, tôi sẽ đi hỏi ngay! O Việt khẽ bóp tay tôi như đặt vào tôi niềm  tin mạnh mẽ!... 

Tôi thoáng nghĩ, giấy báo gọi vào Đại học gửi về các địa phương thường nằm ở văn phòng Ủy  ban xã. Ta hãy đến Văn phòng Ủy ban xã hỏi đã rồi ra Hà Nội cũng chưa muộn! Nghĩ vậy, tôi dặn cô Y tá trực canh chừng O Việt rồi chạy vút đi. Rất may là từ bé tôi đã thường xuyên chạy trên vùng đồi mênh mông quê tôi và từ hồi nhập ngũ, sáng nào lính tráng chúng tôi cũng phải chạy “có vũ trang” nửa tiếng cho nên chẳng mấy chốc tôi đã chạy tới nhà ông chủ tịch Xã của O Việt. Lúc đó đã nửa đêm, ông chủ tịch xã bị tôi dựng dậy thì cằn nhằn vài câu, nhưng khi nghe tôi nói tình trạng nguy kịch của O Việt, ông lo lắng và xem chừng rất xúc động, ông dẫn tôi đến ngay văn phòng Ủy Ban, vừa đi vừa “thanh minh thanh nga”: Xã thiếu lực lượng cán bộ trẻ nên có chủ trương giữ một số người có giấy gọi Đại học lại, dự tính hết chiến tranh sẽ cho đi học “bù”. Tôi bảo: “Sao không nói thẳng yêu cầu của xã?” Ông chủ tịch xã ấp úng rồi nói: “Nếu nói thật yêu cầu của xã thì chẳng ai chịu ở lại cả. Vùng chúng tôi là “Đất hiếu học” mà. Có giấy gọi trong tay là họ bay đi luôn!”. “Tôi thật không hiểu tại sao các ông phải dùng cách “nói dối” như thế! – tôi la lên và chạy vọt lên trước.

Chưa hết câu chuyện “nói dối, nói thật” thì chúng tôi đã tới trụ sở Ủy ban Xã. Chỉ trong ba phút, ông chủ tịch xã đã tìm thấy cái giấy gọi vào Trường Đại học Y dược Hà Nội của O Việt. Vừa cầm tờ giấy, tôi đã phóng vút đi… 

Khi tôi về tới phòng bệnh, cô Y tá đang ngồi ngủ gà ngủ gật bỗng giật mình hoảng hốt bởi tôi đã reo lên rất to: “O Việt!... Giấy gọi vào Đại học của O đây rồi!” Hình như tiếng reo to của tôi đã đánh thức O Việt. Lần này, O Việt mở mắt ra rất nhanh và ánh mắt có vẻ linh hoạt gần như thường ngày, O nói với tôi chậm rãi nhưng tiếng nói to và rõ hơn ban nãy: “Anh đọc hết nội dung cái giấy gọi vào Đại học lên cho em nghe đi nào!”. O Việt nói rồi ra hiệu cho cô Y tá đỡ mình ngồi dậy, nhìn tôi ngóng đợi. Tôi thấy bỏng rát trong cổ, chắc phải chạy đi chạy lại quá nhiều. Sau khi uống hết một bát nước đầy, tôi hắng giọng và đọc từ những dòng chữ đầu tiên. Khi đọc đến bốn chữ Phan Lê Lạc Việt, tôi thấy từ hai con mắt O Việt hai dòng nước trong vắt nhẹ nhàng chảy ra, lăn qua gò má chảy xuống đôi môi tím tái và bỗng làm cho đôi môi trở lại mọng ướt như không hề bị thương. Cô Y tá hình như bị lây truyền nên cũng nước mắt ràn rụa. Còn tôi, nhìn những dòng chữ như nhìn qua sương mù, và khi đến dòng cuối cùng, tức chỗ ghi “Ngày…tháng…năm…” thì tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi vội dụi mắt và nhìn vào khuôn mặt rực sáng của O Việt thì bàng hoàng, chân tay rụng rời bởi đôi mắt của O Việt đã khép lại vĩnh viễn, duy chỉ có đôi môi là vẫn mọng ướt và còn vương lại nụ cười của người trinh nữ!... 

4. 

Tôi cùng tiểu đội TNXP của O Việt lo tang lễ cho O Việt xong thì đã sang nửa ngày “tranh thủ” thứ hai, làm sao đủ thời gian mà đi ra tới Hà Nội nữa? Tôi đang lúi húi trồng thêm xung quanh nấm mộ của O Việt mấy khóm hoa sim thì bỗng nghe văng vẳng tiếng hát từ đâu vọng tới: Người con gái sông La / Đôi mắt trong tựa ngọc… Lời bài ca như có sức thôi miên kỳ lạ! Tôi đi như chạy ra bờ sông… Không biết tôi có nhảy xuống sông bơi qua bơi lại một vòng như mọi khi hay không nhưng khi tôi về tới đơn vị thì Đại đội phó ôm chầm lấy tôi mà nói: “Cứ tưởng cậu đang ngồi ăn kem ở  Nhà Thủy Tạ Hồ Gươm rồi chứ, ai ngờ lại thi bơi vượt sông La!...Cậu trở lại rất đúng lúc! Tớ vừa nhận được lệnh đi làm một trận địa Ra-đa nữa ở huyện Thạch Hà, chưa biết lấy ai làm “trợ lý” và chọn chỗ nào ở huyện Thạch Hà? Lại chọn cậu thì sẽ rất tốt vì tên của huyện có một chữ trùng với tên cậu?”… Người lính chúng tôi không được lựa chọn công việc mà ngàn lẻ một công việc nó đã chọn người lính chúng tôi! Vì thế tôi lại đi theo đại đội phó làm một trận địa mới!... 

Sài Gòn, 2008-2009

Đỗ Ngọc Thạch

 

Chuyện tình Sơn Nữ

 

Tính năng của máy Ra-đa là có thể phát hiện mục tiêu máy bay địch từ xa, ở khoảng cách tới bốn, năm trăm ki-lô-mét. Càng ngày, khoảng cách này càng được nối dài. Vì thế Ra-đa được gọi là “Mắt Thần”, giống như vị Thần có con mắt nhìn xa ngàn dặm trên Thiên Đình gọi là “Thiên Lý Nhãn”. Tuy nhiên, Ra-đa cũng có “Gót chân A-sin”, tức là trong vòng bán kính khoảng mười ki-lô-mét tính từ chỗ đặt máy, mục tiêu lẫn vào “sóng cố định” dày đặc nên không thể nhận ra được. Lợi dụng “Gót chân A-sin” đó của máy Ra-đa, máy bay địch cố gắng bay rất thấp, khi qua những vùng địa hình có núi cao thì luồn lách qua những khe núi (muốn bay như thế, phi công phải là những cao thủ), khi máy bay địch bay như thế, sóng phản xạ có hiện về nhưng lẫn vào đám sóng cố định nên không thể nhận ra!...

Để khắc phục “Gót chân A-sin” của Ra-đa Mắt Thần, những Đài quan sát bằng mắt thường đã được thành lập và bố trí xen kẽ với những Đài Ra-đa Mắt Thần, kịp thời bổ khuyết đường bay của máy bay địch để Sở Chỉ Huy của Lực lượng Phòng Không – Không quân theo dõi mục tiêu được liên tục và có đối sách kịp thời. Những Đài quan sát bằng mắt thường của chúng ta đã góp một phần không nhỏ vào chiến thắng của bộ đội Phòng Không – Không quân trong cuộc chiến Chống chiến tranh phá hoại bằng Không quân của Không lực Hoa Kỳ trong những năm tháng chống Mỹ hào hùng!...


                                                                                                         *

Đài Quan sát bằng mắt thường (từ đây gọi tắt là Đài quan sát – ĐQS) được biên chế thành một Tiểu đội, trực thuộc Sở Chỉ huy . ĐQS của Tiểu đội Trưởng Lê Nhãn có biệt danh là Thiên Lý, đóng “Đại bản doanh” trên một ngọn núi, chỉ cao chưa tới một ngàn mét nhưng có cái tên rất hay là Chim Ưng, vì thế, trong liên lạc thì dùng biệt danh Thiên Lý, còn trong ngôn ngữ đời thường thì gọi là Chim Ưng. Tiểu đội Trưởng Nhãn rất thích loài Chim Ưng nên anh đã nuôi được một tổ Chim Ưng trên núi.


Tiểu đội của ĐQS gồm có bảy người, ba người thay nhau trực 24/24 trên Đài Quan sát, hai người lo nhiệm vụ thông tin, liên lạc thông suốt và hai người lo nuôi quân “ăn no đánh thắng”!


Lực lượng “Hỏa đầu quân” trong quân đội chúng ta được gọi là Chiến sĩ nuôi quân, hay gọi tắt bằng cách gọi thân mật là Anh nuôi, để phân biệt với những Chiến sĩ nuôi quân gái là Chị Nuôi. Đi bộ đội, thường là chẳng ai thích làm Anh nuôi và lực lượng này thường được xếp vào bảng danh mục dưới cái tên chung là Hậu cần, để phân biệt với những đội quân xung kích chuyên lãnh ấn Tiên phong mỗi khi đánh trận!…


Hai Anh nuôi của Tiểu đội ĐQS là nhân vật chính của Truyện ngắn này và không hiểu tại sao lại là anh em sinh đôi, được bố mẹ đặt tên cho trái ngược nhau là Thủy và Hỏa, nhưng họ lại chẳng hề xung khắc với nhau như Nước với Lửa – như tên gọi của họ -, mà ngay từ nhỏ, họ đã luôn gắn bó với nhau như hình với bóng! Một điểm đặc biệt nữa của hai Anh nuôi là họ đều “không cao”, chỉ đúng một mét rưỡi! Và đặc điểm “không cao” này không chỉ của hai anh em Thủy và Hỏa mà là của cả Tiểu đội ĐQS! Tuy chưa phải là người lùn “Mét Mốt” – chiều cao chuẩn phổ biến của người Lùn trên toàn thế giới, - nhưng khi nhìn cả bảy người của Tiểu đội ĐQS đứng cạnh nhau thì người ta nghĩ ngay đến câu chuyện cổ tích “Nàng Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn”! Nhưng người nói ý nghĩ ấy ra thành lời chính là Tham Mưu Trưởng Trung Đoàn khi đến thăm Đài quan sát của “Bảy Chú Lùn”. Lúc ấy Tham Mưu Trưởng nói: “Phải chi có Nàng Bạch Tuyết đến đây thì chúng ta có được câu chuyện Cổ tích “Nàng Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn” thời hiện đại!”. Nghe Tham Mưu trưởng nói vậy, Anh nuôi Thủy ngập ngừng, nói: “Báo cáo Thủ trưởng, nếu chúng em tìm được Nàng Bạch Tuyết thì Thủ trưởng có cho ở trên núi này với chúng em không?”. Tham Mưu Trưởng cười lớn: “Nếu có cô gái nào tình nguyện làm Nàng Bạch Tuyết thì tôi sẽ ký quyết định cả hai tay, biên chế cô ta vào thành viên chính thức với nhiệm vụ Y tá!”. Tức thì Anh nuôi Hỏa nói nhanh: “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy, Thủ trưởng nhớ nhé!” Tham Mưu trưởng lại cười lớn, nhưng nhìn kỹ vào hai con mắt thâm quầng của ông, người ta thấy ươn ướt!... “Ở nơi núi cao rừng sâu này thì làm sao có cô gái nào dám mạo hiểm leo núi? Nếu là truyện Liêu Trai thì sẽ là Hồ Ly tinh mà thôi!...” – Tham Mưu Trưởng thoáng nghĩ và cảm thấy ớn lạnh nơi sống lưng!...


                                                                                              *

Vì sao Anh nuôi Hỏa lại nói với Tham Mưu Trưởng như vậy? Bởi vì ngay từ khi mới lên núi làm nhiệm vụ, lúc đi dạo quanh đoạn đường dưới chân núi, Cả Thủy và Hỏa đã gặp cô Sơn Nữ đang đi hái lá thuốc và sau khi làm quen, cô nói sẽ có ngày lên núi thăm Tiểu đội ĐQS. Thủy và Hỏa tưởng là cô Sơn Nữ nói vui miệng nên không nhớ đến câu nói đó, tức không hề có sự chuẩn bị đón khách! Vì thế, chỉ ba ngày sau, hai Anh nuôi đang đi cõng nước (từ lưng chừng núi lên đỉnh núi, gần năm trăm mét) thì bất ngờ gặp cô Sơn Nữ ở đúng nơi có mạch nước!


Nhìn bộ dạng lúng túng của hai anh chàng Cửu Vạn (khi đi cõng nước, nước đựng trong cái can bằng sắt, vốn để đựng xăng, loại 20 lít, rất nặng và phải leo lên từng bậc đá …nên “trang phục” phải gọn gàng như Đô Vật, tức chỉ mặc cái quần đùi), cô Sơn Nữ cười rúc rích một hồi rồi nói: “Hai anh sao không mời em lên núi chơi mà cứ gãi đầu gãi tai hoài như thế?” Thủy nói: “Tại…chúng tôi mắc cỡ quá!...Bây giờ cô đứng đây chờ tôi vác cái can nước này lên núi rồi quay lại đón cô nhé!” Hỏa nói thêm: “Đúng đấy! Để chúng tôi về báo cho mọi người chuẩn bị để đón tiếp cô thật đàng hoàng!”. Cô Sơn Nữ không cười nữa mà nói: “Các anh chỉ vẽ chuyện. Ngọn núi này em vẫn thường lên hái cây thuốc, từ ngày các anh tới thì em chưa lên mà thôi! Hôm nay em muốn lên giới thiệu với các anh vườn thuốc của em ở trên đỉnh núi! Tức như là em về nhà mình, bây giờ là nhà của chúng ta!” Nói rồi cô Sơn Nữ leo lên những bậc đá nhanh thoăn thoắt, khiến cho hai anh nuôi tròn mắt ngạc nhiên!


Cuộc đón tiếp cô Sơn Nữ trên đỉnh núi Chim Ưng được coi như là một sự kiện trọng đại của Đài Quan Sát. Cô Sơn Nữ còn hứa là sẽ rủ rê thêm các cô bạn nữa thường xuyên lên núi chơi, nhân tiện vận chuyển giúp Đài Quan Sát một số lương thực, thực phẩm…từ chân núi lên đỉnh núi.


                                                                                                           *

Từ khi có cô Sơn Nữ lên đỉnh núi thăm Đài Quan Sát, hai anh em Thủy và Hỏa bàn với nhau: Cứ tưởng bảy người lính chúng ta như là bị giam lỏng ở đây, sẽ chết già trong cô đơn hoang vu! Ai ngờ có cô Sơn Nữ xinh đẹp như Tiên Nữ giáng trần tới thăm, và sẽ còn cùng với các Nàng Tiên khác tới nữa. Như vậy, chúng ta phải làm cho nơi rừng núi hoang vu này biến thành chốn Bồng lai Tiên cảnh, thì mới gọi là đáp lại thiện cảm của các Nàng Tiên! Thế là ngày ngày, hai anh em Anh nuôi Thủy và Hỏa đi lấy các loại cây giống của các loại cây Đào Hoa, Đào Quả, Mận, Mơ, Mai, và rất nhiều loại hoa đem trồng trên đỉnh núi. Trên đỉnh núi trồng kín rồi thì lan dần xuống các triền núi!...


Công việc trồng cây, trồng hoa của hai anh em Anh nuôi Thủy và Hỏa nó cũng âm thầm, bền bỉ như công việc quan sát bầu trời, phát hiện mục tiêu máy bay của Đài Quan Sát. Ở Sở Chỉ huy, các sĩ quan Tham mưu và đặc biệt là Tham mưu trưởng vẫn ngày ngày đều đặn nhận được những số liệu về đường bay của máy bay địch ở khu vực hoạt động của Đài Quan Sát Thiên Lý. Cũng như vậy, trên đỉnh núi Chim Ưng, những mầm sống của cây Đào, cây Mai, cây Mận…vẫn ngày ngày phát triển. Và đến lúc cả đỉnh núi Chim Ưng đã trở thành một rừng Đào, rừng Mận thì ai cũng chưa dám tin ngay đó là sự thật…


                                                                                              *

Sáu năm sau, Đài Quan Sát được lệnh giải thể. Tính từ lúc nó được thành lập năm 1967 đến lúc có lệnh giải thể là năm 1973, chỉ có duy nhất một lần Tham Mưu trưởng và hai sĩ quan Tham mưu tới thăm sau khi nó được thành lập một tháng. Không phải người ta quên nó vì nó ở nơi heo hút xa xôi mà vì còn rất nhiều công việc khác cấp bách hơn! … Chính vì thế, như là để chuộc lại sự “bỏ rơi” suốt sáu năm qua, đích thân Tham Mưu trưởng – tác giả sáng lập ĐQS –, Lúc này đã là Trung Đoàn Trưởng, đã cầm Quyết định giải thể đến gặp những người lính ở Đài Quan Sát Thiên Lý. Ông đã nghe các chiến sĩ nói qua máy bộ đàm về vườn Đào trên đỉnh núi Chim Ưng, nhưng khi được tận mắt chứng kiến, ông vẫn hết sức kinh ngạc: Đúng là chốn Bồng Lai Tiên cảnh! Và điều ngạc nhiên thứ hai là cả Bảy chiến sĩ của Đài Quan Sát dường như là không hề bị già đi theo thời gian, ngược lại họ còn khỏe mạnh hơn lúc mới lên núi!... Khi nói về nguyện vọng sau khi giải thể, Tiểu Đội trưởng Lê Nhãn nói: “Nếu quân đội cần chúng tôi đi đâu, chúng tôi xin sẵn sàng! Nhưng sau khi kết thúc chiến tranh, chúng tôi xin được phục viên về đây làm nghề trồng Đào Tiên, vì đang có bảy người vợ và mười bốn đứa con đang chờ đợi!” Nói rồi Tiểu đội trưởng Lê Nhãn dẫn Tham Mưu trưởng xuống Làng Chim Ưng ở sườn núi, nơi gần với mạch suối nước: Có bảy ngôi nhà ẩn hiện trong những cây Đào Quả lúc lỉu và những cây Đào Hoa rực rỡ!...


Việc Tham Mưu Trưởng tức Trung Đoàn Trưởng ra quyết định cho cả Bảy chiến sĩ của Đài Quan Sát Thiên Lý được phục viên ngay sau quyết định giải thể chỉ mãi sau ngày 30-4-1975 người ta mới tán đồng, tức là khi ông bị đột tử trong một vụ tai nạn giao thông. Còn khi mới ra quyết định cho cả Bảy chiến sĩ của Đài quan sát phục viên, ai cũng phản đối! Chỉ khi người ta chết đi thì mọi việc làm trước đó mới được nhìn nhận chính xác chăng?


Bây giờ, đến đỉnh núi Chim Ưng (đã được đổi tên thành Vườn Đào Bảy Chú Lùn), ta sẽ thấy ngôi mộ của Tham Mưu Trưởng và Bức Tượng “Tham Mưu Trưởng và Bảy Chú Lùn” rất đẹp!

Đỗ Ngọc Thạch 

 

Các bài khác:
· “NHỚ” CỦA PHẠM TIẾN DUẬT – BÀI THƠ KHÔNG QUÊN
· 'ĐIÊN' LÀ MỘT CÁCH ỨNG XỬ CỦA BÙI GIÁNG
· ĐÊM TÂN HÔN BẤT HẠNH CỦA LỖ TẤN
· NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG - MỘT HỒN THƠ TINH QUÁI
· TÁC PHẨM VĂN HỌC NHƯ LÀ CẤU TRÚC NỘI DUNG ĐỘNG
· NHÀ VĂN, NHÀ BÁO, NHÀ GIÁO, NHÀ THƠ ĐOÀN VỊ THƯỢNG
· BÀI THƠ NAM QUỐC SƠN HÀ KHÔNG PHẢI CỦA LÍ THƯỜNG KIỆT VÀ...
· TẠ DUY ANH - VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM
· TẤM LÒNG CỦA NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM CẦM BÚT ĐỐI VỚI VĂN HỌC MIỀN NAM
· ĐỒNG ĐỨC BỐN - CHUYỆN PHỐ CHUYỆN QUÊ
· MAI HỒNG NIÊN BỎ QUÊ NHẬP CUỘC LỮ HÀNH TỨ PHƯƠNG
· CẢM THỨC CÔ ĐƠN TRONG THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· NHÀ THƠ THU BỒN VÀ TÔI
· PHẠM DUY - THƠ PHỔ NHẠC
· LƯU QUANG MINH VÀ NHỮNG TÂM HỒN ĐỒNG ĐIỆU
· TRÒ CHUYỆN VỀ THƠ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
· CÁI TÔI TRỮ TÌNH ĐỜI THƯỜNG TRONG 'TÂY TIẾN'
· TIỂU THUYẾT GIA 10 TUỔI - NGUYỄN BÌNH THÔNG MINH VÀ HÓM HỈNH
· TƯ TƯỞNG NGUYỄN DU QUA 'ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH' 10
· TÍN HIỆU THẨM MỸ TRONG 'NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA' CỦA NGUYỄN DUY

 

  
Gia đình Bích Khê