DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ NGHỆ THUẬT DỰNG CHÂN DUNG

                                                                                      ĐỖ THỊ CẨM NHUNG

Có nhà báo đã cho rằng “người đàn ông Trần Đăng Khoa bây giờ chỉ là cái bóng mờ của cậu bé tám tuổi Trần Đăng Khoa xưa kia”. Đã có lúc, Trần Đăng Khoa phải vừa tỏ ra khiêm nhường, nhưng cũng vừa tự tin bảo vệ cho mình: “Tôi rất kinh ngạc có những người cứ lấy Trần Đăng Khoa ngày xưa để đo Trần Đăng Khoa bây giờ. Ai mà đi lấy cậu bé ngày xưa mười tuổi để đo tôi xù xì hôm nay? Phải đo cùng chủng loại mới đúng chứ?”. Bất ngờ, năm 1998, Trần Đăng Khoa cho ra đời tập Chân dung và đối thoại, và được người đọc đón nhận như hiện tượng thứ hai trong cuộc đời mình. Người đọc gặp Trần Đăng Khoa “trong một vùng văn nghệ khác” không kém thú vị. Đã có rất nhiều ý kiến khen chê xung quanh cuốn sách này, nhưng bản lĩnh, cá tính thể hiện ở nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa thì không ai phủ nhận được. Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng cho rằng: “Chính ở việc vẽ chân dung người khác, Trần Đăng Khoa càng nỗ lực tỉa tót, tô vẽ bao nhiêu thì chân dung anh lại càng tự nổi lên bấy nhiêu… Có thể nói bao nhiêu tư chất, bao nhiêu tài hoa có được ở Trần Đăng Khoa đều phát tiết ra ở những thao tác họa chân dung các nhà văn này”.




1. Sự nhạy cảm nắm bắt thần thái của đối tượng
Dù muốn hay không, khắc họa chân dung nhân vật cũng gần với nghệ thuật hội họa và điêu khắc. Điều khác nhau chỉ là ở chỗ, họa sĩ vẽ chân dung bằng đường nét và màu sắc, còn nhà văn thì dùng ngôn từ để miêu tả. Trong hội họa, dù vẽ chân dung theo kiểu truyền thống hay sáng tạo, họa sĩ cũng cần phải giỏi trong việc nắm bắt thần thái đối tượng, tìm ra nét riêng của từng khuôn mặt, để với chỉ vài nét phác thảo, ta đã có thể nhận ra đó là nhân vật nào. Trong văn học cũng vậy, khắc họa chân dung thì đòi hỏi đầu tiên là phải giỏi nắm bắt thần thái của đối tượng. Và khả năng này lại là thiên bẩm của Trần Đăng Khoa. Ngay từ nhỏ, khi các nhà thơ nhà văn chưa tin vào khả năng thần đồng của Khoa đã đến tặng thơ và muốn Khoa làm thơ phát biểu cảm tưởng. Cậu bé thần đồng ngày ấy dù chỉ mới nơi “góc sân” nhà mình đã không ngần ngại hướng đến đồng vọng với những “khoảng trời”. Sau khi được đọc thơ Huy Cận, một hồn thơ ôm nhiều nỗi “nhớ không gian”, Trần Đăng Khoa đã có bài thơ Nửa đêm thức giấc đề tặng chú Huy Cận; cả bài thơ được làm nên bằng một thế giới hình ảnh chất chứa cảm thức không gian. Với Xuân Diệu, người nặng cảm thức thời gian, Khoa lại viết tặng bài Ở nhà chú Xuân Diệu với sự cảm nhận về từng bước đi mong manh của thời gian. Với Tố Hữu - phong cách thơ đậm tính dân tộc, Trần Đăng Khoa viết bài Kính tặng chú Tố Hữu bằng thể thơ lục bát, giọng thơ mượt mà, cùng những từ ngữ, hình ảnh lấy ngay từ thơ Tố Hữu…
Sau này, khả năng nắm bắt thần thái của đối tượng phát huy đến cao độ trong Chân dung và đối thoại. Chỉ cần vài nét phác, Trần Đăng Khoa đã dựng được chân dung các nhà văn, nhà văn hóa và cả những con người bình dị xung quanh anh một cách độc đáo, ấn tượng nhất. Nét ấn tượng đầu tiên vẫn là chân dung Xuân Diệu, cũng với cảm thức thời gian: “Những năm cuối đời, Xuân Diệu hay nghĩ đến thời gian. Ông chợt hỏi tôi: Này, năm nay, Khoa bao nhiêu rồi nhỉ?” Ngày sinh tháng đẻ của Khoa, ông còn lạ gì, nhưng đó là sự thảng thốt của một người muốn níu kéo thời gian. Sau đó ông lại nói với Khoa: “Cậu còn trẻ quá. Còn mênh mông thời gian ở trên đầu. Muốn làm gì mà chẳng được. Khoa còn đến nửa thế kỉ nữa để sáng tạo, để vượt lên. Quỹ thời gian của mình còn ít quá…” Phải là người rất hiểu Xuân Diệu mới nắm bắt được những thần thái cảm xúc rất Xuân Diệu này.

Với Lê Lựu, một người rất thân thiết, Trần Đăng Khoa cũng có những đoạn tả chân dung bằng thần thái đối tượng. Không thích cách Lê Lựu tả nhân vật Tuyết trong Thời xa vắng, Trần Đăng Khoa đem điều này hỏi Lê Lựu, thì: “Lê Lựu cười hấc hấc, rồi thì đột nhiên anh bỗng im lặng. Gương mặt thoáng buồn rượi. Trong khoé mắt đã hằn nếp nhăn của anh, ầng ậng một cái gì như là nước mắt”. Phải hiểu thật sâu con người và cuộc đời Lê Lựu, Trần Đăng Khoa mới vẽ được nét mặt này của ông. Thời xa vắng như một cuốn tự truyện của chính cuộc đời Lê Lựu.
Ở chân dung ông nhà văn nông dân Phù Thăng, thần thái của nhân vật hiện lên đầy ấn tượng với hình ảnh hạt thóc - con gà, mang cái tâm và sự cảm thông sâu sắc: “Ông mặc tấm áo may-ô vàng ố, cái quần kaki đã bạc, ống thấp, ống cao. Phù Thăng như từ thửa ruộng cày bước thẳng vào phòng khách. Ông ngồi lọt thỏm trong ghế sa-lông. Một ông già nhỏ thó, đen đúa. Hàm răng đã rụng hết. Trông ông teo tóp như một hạt thóc lép. Chỉ có đôi mắt là long lanh sáng… Bất giác, tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn. Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sẫm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy...” Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Hễ viết cái gì đụng đến nông thôn và nông dân dù là nông dân Việt Nam, Nga hay Mĩ cũng lập tức sinh động hẳn lên, ngôn ngữ sắc sảo, nổi góc nổi cạnh hẳn lên, một thứ ngôn ngữ cũng lấm láp, lam lũ như những nhân vật ưa thích của Khoa”.

2. Dùng đối thoại để khắc họa chân dung

Trần Đăng Khoa là một nhà báo sắc sảo, nên anh vận dụng kĩ thuật phỏng vấn, đối thoại rất hiệu quả trong việc khắc họa chân dung nhân vật. Không chỉ trong Chân dung và đối thoại mà trong cả Đảo chìm, Người thường gặp của Trần Đăng Khoa, thông qua hình thức đối thoại, những chân dung đã hiện lên thật tự nhiên và sống động.
Trong Chân dung và đối thoại, trừ chân dung tự họa, 22 bài viết thì đến 8 bài được viết bằng thể phỏng vấn, đối thoại, người hỏi - người đáp. Với cách viết này, thông tin đến với người đọc nhanh chóng, chính xác, và qua từng bài viết, chân dung các nhân vật cũng hiện lên độc đáo từ cách trả lời của họ. Trần Đăng Khoa chọn cho mình cách đối thoại rất riêng, rất duyên, như Vũ Phương đã nhận xét một cách hình tượng: “Đây không phải đối thoại theo kiểu khoác com-lê, thắt ca-vát trịnh trọng bước lên diễn đàn tưởng tượng, rồi cao giọng phán truyền, ban phát chân lí…, mà ngược lại, kẻ viết biết chọn cho mình một kiểu đối thoại khá độc đáo, pha rất đậm chất suồng sã theo lối người nhà quê, nhưng là người nhà quê thông minh, từng trải, đầy tự tin và hình như không hề có ý định thuyết phục ai”.

3. Kết hợp nhiều điểm nhìn trần thuật để khắc họa chân dung nhân vật

Cùng với việc sử dụng miêu tả, đối thoại, việc thay đổi điểm nhìn trần thuật trong trong văn tự sự cũng làm cho nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa thêm sinh động.
Đặc điểm chung trong cách tiếp cận chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa là từ xa đến gần. Nhưng ở nhân vật nào anh cũng gửi vào đó cái nhìn nội cảm của một nhà thơ nên khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật trở nên gần gũi, cũng vì thế mà chân dung nhân vật càng hiện lên rõ nét.
Dựng chân dung Tố Hữu, trước hết Trần Đăng Khoa đứng từ điểm nhìn của văn học sử và có thêm suy nghĩ của riêng mình: “Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Cả cuộc đời ông gắn liền với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán. Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ. Thơ ông dường như chỉ có một giọng. Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách mạng…” Nhưng đến khi đã “tập kích” vào nhà Tố Hữu theo cách tiếp cận của “lính Điện Biên Phủ”, thì ngay lập tức điểm nhìn đã thay đổi, và chân dung Tố Hữu được vẽ gần gũi như một con người, một số phận ở giữa cõi đời “như một vị nguyên soái đã giã từ vũ khí, giã từ mọi thứ xiêm áo lỉnh kỉnh mà tạo hóa đã bỡn cợt khoác lên ông, nhiều khi che khuất cả chính ông, để ông chỉ còn lại là một già làng, có phần cô đơn, bé nhỏ, da mồi, tóc bạc… dường như đã quá quen với trận mạc, với mọi biến cố, thăng trầm của cõi đời dâu bể”.
Với Nguyễn Đình Thi, “người mà cái tài thì đàn ông ghen, cái tình thì đàn bà ghen” (Kim Lân), Trần Đăng Khoa lại dựng chân dung ông bằng bài thơ Quê hương Việt Nam rất quen thuộc. Nhưng ta thực sự thú vị với cách bình thơ rất mới, rất Trần Đăng Khoa. Anh cho rằng Nguyễn Đình Thi là thái cực của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân thì gò lưng luyện chữ, muốn đưa ra những con chữ hoàn toàn mới, còn thì Nguyễn Đình Thi lại cố gắng xoá hết những chữ mới đi, chọn những chữ mòn nhẵn, những con chữ mà các thi sĩ khác vứt bỏ: “Mọi cố gắng của Nguyễn Đình Thi là để làm một nhà văn không có chữ. Cái hay của thơ Nguyễn Đình Thi không nằm ở chữ. Nó là cái hồn phảng phất ở đằng sau những con chữ bạc phếch kia”.
Nguyễn Văn Lưu thú vị nhận xét: “Phải thừa nhận Trần Đăng Khoa có cái độc đáo trong tư duy, trong cách diễn đạt ý tưởng, trong ngôn ngữ. Y chẳng đam mê gì, và nói chung, y là một gã vô tích sự. Một câu ngắn gọn đã bộc lộ tất cả tính cách và bút pháp của Trần Đăng Khoa. Đó là một tính cách hóm hỉnh, hài hước, luôn nhìn sự vật và con người ở những khía cạnh khác lạ, trái khoáy với ánh mắt thâm trầm đầy cợt mỉa, luôn biến cái nghiêm túc thành cái cười cợt, nói cái này ra cái kia, nói thế này nhưng phải nên hiểu thế kia”.

Đến với Lê Lựu thì dường như điểm nhìn giữa tác giả và nhân vật không còn khoảng cách, có thể nói thẳng cái hay cái dở của nhau mà không sợ giận hờn, thân mật đến độ có thể suồng sã vì họ đã hiểu nhau như là ruột thịt. Vì vậy, khi kể về Lê Lựu, anh dùng những nét lôi thôi nhếch nhác, mà đọc lên nó mới dậy mùi Lê Lựu làm sao! Cái mùi ấy trở thành hương, thành duyên, thành một sức hấp dẫn chỉ Lê Lựu mới có: “Anh có vốn sống phong phú, sự trải đời lọc lõi. Đó là một gã ma mãnh, quái quỷ nhưng lại mang vẻ mặt xuề xoà, chất phác của một anh nhà quê. Bởi thế, anh rất dễ thuyết phục người khác. Lê Lựu có nói dối và nói thẳng ra rằng: “Tôi đang nói dối đấy” thì người ta cũng vẫn cứ tin, chẳng ai ngờ vực cả. Bởi xưa nay, người ta chỉ dè chừng những kẻ giảo hoạt, những tay láu cá, chứ mấy ai nghi ngờ thợ cày”.
Cùng nhà văn Tô Hoài ngắm phố phường Hà Nội, Trần Đăng Khoa vừa ngưỡng mộ, kính trọng vừa giữ một khoảng cách vừa đủ để lắng nghe, học hỏi. Và từ điểm nhìn tưởng như khách quan, qua cuộc đối thoại ấy, người đọc vẫn thấy hiện lên chân dung nhà văn Tô Hoài với vốn sống cùng trí nhớ tuyệt vời và một tình yêu Hà Nội từ trong tâm khảm.

4. Kết hợp đan xen giữa tả, kể, đối thoại và bình luận văn chương để làm nổi bật chân dung nhân vật
Tác phẩm là những đứa con tinh thần của tác giả. Vì vậy, khắc họa chân dung không có gì hơn là qua đứa con tinh thần đó mà nhận diện gương mặt nhà văn. Ở đây, nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật của Trần Đăng Khoa lại có thêm một sức hấp dẫn khác nữa. Ấy là cái nhìn trực diện theo chính kiến của mình, đúng sai có thể còn phải đối thoại, nhưng thái độ đánh giá, khen chê là rõ ràng - điều mà không ít nhà phê bình e ngại và né tránh.
Chẳng hạn, Trần Đăng Khoa đã dùng đứa con tinh thần tiêu biểu nhất của Lê Lựu là Thời xa vắng để vẽ chân dung tác giả: “Với ba trăm trang sách, tiểu thuyết Thời xa vắng đã ôm chứa một dung lượng lớn. Riêng đối với một số bạn đọc thông thường, có thể coi đây là cuốn sách viết về hôn nhân gia đình. Trong chuyện có tảo hôn, cưới vợ đẻ con, cãi cọ, ra toà li dị, chia tài sản, con cái. Riêng cái vỉa này cũng đã đủ là một cuốn sách thú vị. Những chuyện chăn gối, hay cảnh sinh hoạt vợ chồng thành phố, vợ chồng nhà quê rất sinh động. Có những nhân vật phụ, chỉ thoáng qua, nhưng Lê Lựu khắc hoạ rất giỏi, rất sống, ví dụ gã thợ điện, một tay tài tử phóng đãng, chim gái thành thần. Một thiếu phụ trẻ, vừa đọc xong Thời xa vắng, nói với tôi: Em rất thích gã thợ điện. Đấy là nhân vật hay nhất trong tiểu thuyết Thời xa vắng. Hắn lưu manh, nhưng phải nói là rất tuyệt diệu. Đàn ông thế mới là đàn ông! Hình như em đã gặp hắn ở đâu đó trong buổi sinh nhật cô bạn. Hắn ngồi lơ đãng hút thuốc. Cái điệu vẩy tàn thuốc của hắn thì không thể không mê được. Hắn đểu giả, nhưng có sức hút khủng khiếp. Vợ Sài chết là phải. Em đọc mà sợ ông Lựu quá. Ông ấy rất am tường đàn bà, rất lọc lõi. Có cảm giác ông ấy vừa sợ đàn bà vừa thích đàn bà, lại vừa khinh đàn bà, coi đàn bà như cái giẻ chùi chân”.
Viết về Lưu Trọng Lư, tác giả Tiếng thu, Trần Đăng Khoa nhận ra: “Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó ở đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Và cũng để rồi làm nổi bật ý tưởng: Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ”.
Với những tác phẩm thơ, như Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, năm bài lục bát của Nguyễn Đình Thi, Bằng Việt, Trúc Thông, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, ngòi bút của Trần Đăng Khoa đều mượn ngôn từ trong thơ mà vẽ chân dung người như thế.
Người đọc gặp ở đây cách nhìn người qua tác phẩm theo lối riêng của Trần Đăng Khoa. Này đây, một “Nguyễn Đình Thi là người đa tài. Ông viết văn, soạn kịch, làm thơ, viết nhạc, làm lí luận. Ở lĩnh vực nào cũng có thành tựu, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của từng thể loại đó. Nhưng cũng bởi sự đa tài này mà rồi chính ông lại tự che khuất ông. Khi cần ngắm ông ở thể loại này, lại thấy ông lấp lánh sáng ở thể loại khác”; một Bằng Việt mà “đọc anh, tôi cứ hình dung một chàng trai sinh viên cố đô, trắng trẻo đến xanh xao, suốt ngày ngồi trong phòng kín, bao quanh là bốn bức tường sách vở Âu, Á. Cuộc sống phải xuyên qua bốn bức tường sách vở ấy mới đến được với anh”, cũng từ đó mà “thơ Bằng Việt mang cái dáng vẻ nhàn tản, đài các. Nó là một dạng “thơ thính phòng”; một Trúc Thông mà qua bài thơ Bờ sông vẫn gió, Trần Đăng Khoa nhận ra anh “vốn là người con hiếu thảo, nhớ thương mẹ, Trúc Thông trở về, đi thập thững trên con đường xưa mẹ đi, mà anh quên mất mình là nhà cách tân”; một Phạm Công Trứ với Lời thề cỏ may gần với Nguyễn Bính vì “giữa lúc người ta xuôi về thành phố, thì Phạm Công Trứ ngược ra ngoại ô, trở về làng quê, và rồi anh cứ đi mãi, đi hút mãi về xứ dân gian” v.v…

Trần Đăng Khoa còn vào vai ma trong bài viết Nguyễn Khắc Trường và… để dựng chân dung các bậc tiền bối của nền văn học Việt Nam hiện đại như Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Khải, Nguyễn Khắc Trường, Ý Nhi… bằng việc phê bình các tác phẩm của họ. Đây là bài viết gây xôn xao dư luận nhất, vì Trần Đăng Khoa đã xới lại các vấn đề tưởng chừng đã ổn thỏa của những “di tích đã xếp hạng” trong văn học Việt Nam. Trước làn sóng khen chê quyết liệt đó, Trung Trung Đỉnh đã đưa ra lời nhận xét chí tình: “Cái sự khen chê vốn dĩ không dễ chút nào, huống hồ là các giá trị tưởng như đã được khẳng định, nay anh chỉ phẩy lên vài nét mà nó đã hiện lên đúng với vóc dáng của nó. Các giá trị không vì thế mà giảm giá trị, thực ra nó càng được trân trọng hơn vì nó được trở về đúng với mình”. Nguyễn Đăng Mạnh cũng có ý tương tự: “Từ đã lâu, phê bình không được cười, không được đùa (tôi không nói đùa tếu, đùa nhảm). Nay lần đầu tiên Khoa dám đùa và cũng biết đùa. Không khí phê bình nếu được thế thì cũng vui. Nó kích thích cảm hứng sáng tác cũng như phê bình”. Và Trần Đình Sử cũng xác nhận: “Lâu nay phê bình có khuôn mặt quá nghiêm trang, lại có lúc bặm trợn, đằng đằng sát khí nữa. Bây giờ tiếng cười tạo một không khí vui vẻ hòa đồng. Anh dùng tiếng cười để nhìn lại các giá trị văn học đã xếp hạng”.

Có thể khẳng định, dựng chân dung văn học, không chỉ có riêng Trần Đăng Khoa, nhưng bằng sự vận dụng linh hoạt nhiều thủ pháp, anh đã có cách dựng chân dung riêng. Và đó cũng là một lối riêng của anh khi đi vào lĩnh vực phê bình văn học !


Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội Online
 

 

Các bài khác:
· VẺ ĐẸP CỦA HOẠN THƯ TRONG TRUYỆN KIỀU
· CON NGƯỜI KHÁT KHAO HƯỞNG THỤ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
· LỤC BÁT TRẺ 'RỪNG ONG ĐỔ MẬT...'
· NHỮNG TIẾNG CÒI BÁO ĐỘNG GIẢ VỀ CÁCH TÂN
· “THƠ LÀ NHỮNG QUÂN CỜ” TRONG “ĐÊM VÀ NHỮNG KHÚC RỜI CỦA VŨ”
· VUA VỌNG CỔ ÚT TRÀ ÔN - NỖI BUỒN ĐEM THEO, NIỀM VUI GỬI LẠI
· THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI, CÁI NHÌN TỪ MÔ THỨC NHỊP ĐIỆU
· NGUYÊN LÝ CẤU TRÚC NHỊP THƠ
· 5 THÀNH PHỐ VĂN HỌC CỦA THẾ GIỚI
· 'THÚY KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN' - NIỀM VINH QUANG DANG DỞ
· NGHE TRẦN ĐĂNG KHOA NÓI TRẠNG
· VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ MỘT HỆ HÌNH NGÔN NGỮ (phần 1)
· NHÀ THƠ MAI LINH - THƠ LÀ 1 CUỘC ĐÓN ĐƯỜNG KHÔNG HẸN TRƯỚC
· HUY CẬN - NGƯỜI SUỐT ĐỜI GẮN BÓ VỚI CÁCH MẠNG VÀ THI CA
· MỘT DI CẢO CỦA CHẾ LAN VIÊN VỀ MỐI TÌNH HÀN MẶC TỬ VÀ NGƯỜI 'ĐÂY THÔN VỸ DẠ'
· BỖNG DƯNG TÔI NHỚ NHÀ THƠ TRẦN LÊ VĂN
· NHÀ VĂN VÀ NGƯỜI VIẾT
· NHẠC SĨ PHẠM DUY: VẪN KIẾM TÌM NƠI TÌNH XANH MÃI MÃI
· VỀ BÀI THƠ 'ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA' CỦA THANH THẢO
· VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC PHÂN NGÀNH LỊCH SỬ VĂN HỌC, LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH

 

  
Gia đình Bích Khê