THÔNG TIN
 
VẤN ĐỀ THÂN PHẬN KẺ SĨ NHÌN QUA TRƯỜNG HỢP ĐÀO DUY TỪ

  • Mai Thu Huyền

Bị ruồng bỏ ở Đàng Ngoài, vào Nam theo chúa Nguyễn, lập nên sự nghiệp hiển hách là những điểm chính trong tiểu sử Đào Duy Từ (1572-1634). Hẳn là ám ảnh về một số phận không hề bình thường, kẻ sĩ đương thời và sau đó đã xây dựng nên nhiều giai thoại đẹp để bù vào những chỗ trống và bí mật trong cuộc đời ông. Những giai thoại này là kết quả của sự hư cấu, chọn lọc từ các mẩu chuyện về những nhân vật nổi tiếng ngày xưa (các nhà quân sư, mưu sĩ…) với mục đích tôn vinh tài năng, đức độ và vị trí của Đào Duy Từ trong lịch sử. Sẽ là không cần thiết khi bàn đến độ tin cậy và gạn lọc hư - thực ở những giai thoại (và cả chính sử), bởi bản thân việc tạo dựng giai thoại đã cho thấy tính tiêu biểu ở trường hợp Đào Duy Từ về thân phận kẻ sĩ trong lịch sử.

Tế thời tố hữu hiền nhân chí/Trạch chủ đa tàm trí giả minh” (Ta cũng có cái chí người hiền ra giúp đời/ Ta còn thẹn thiếu cái chí người khôn biết chọn chúa). Một năm sau khi làm bài thơ Khiển muộn, Phùng Khắc Khoan đã đi về hướng Tây Nam, theo giúp nhà Lê. Nỗi niềm của Phùng Khắc Khoan trong bài thơ này là tâm sự chung của bất cứ một kẻ sĩ chân chính nào mang khát vọng “trí quân trạch dân” và mong gặp được thánh chúa để nhiệt tâm và tài năng có cơ hội được giải phóng.

 “Minh chúa” là hình mẫu người cầm quyền lý tưởng, là yếu tố quan trọng nhất tạo nên “thời” (conditions) để kẻ sĩ nhập thế hành đạo, trở thành “tôi hiền”, “trụ thạch quốc gia”. Không được phép ứng thí dưới triều Lê vì là con nhà phường chèo, Đào Duy Từ bỏ Bắc Hà ra đi, vào Nam theo chúa Nguyễn. Tại sao ông lại lựa chọn chúa Nguyễn chứ không phải nhà Mạc - bấy giờ vẫn tồn tại với tư cách một trong ba thế lực cát cứ lớn nhất?

Kỳ thực, đến năm 1592, nhà Mạc đã không còn nắm được thực quyền trên phạm vi lớn như trước. Tuy phải co cụm về Cao Bằng, nhà Mạc vẫn xây dựng một triều đình và tiếp tục mở những cuộc tấn công lớn nhỏ để khẳng định mình như một thế lực “đáng gờm” mà lực lượng Lê - Trịnh cần lưu ý tới. Thậm chí, vào năm 1600, khi Nguyễn Hoàng bỏ vào Thuận Quảng để chính thức thực hiện ý đồ cát cứ, Trịnh Tùng run sợ đưa vua về Thanh Hoá, “nguỵ Mạc” đã chớp thời cơ đánh chiếm kinh thành với ý đồ tái thiết vương triều mà không vấp phải sự phản đối của quan quân tướng sĩ trong nước. Nhưng hơn ai hết, trước khi khép lại một đời chinh chiến, Phò mã đô uý thái phó Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn là người ý thức rõ nhất về khả năng cầm quyền trở lại của họ Mạc, để rồi cuối cùng phải chua chát thừa nhận khí vận nhà Mạc đã hết. Những cố gắng của họ Mạc sau đó bất chấp lời trăng trối của Mạc Ngọc Liễn cuối cùng vẫn không cứu vãn được số phận của gia tộc này.Sớm nhận ra điều ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm hồi hương, gia nhập vào đội ngũ Di Tề, trở thành tấm gương tiêu biểu cho lối hành xử “minh triết bảo thân” đầy day dứt khi không thực hiện được thiên chức của kẻ sĩ. Mang nhiệt tâm tráng chí, hậu bối Đào Duy Từ không thể chọn cho mình một ngõ cụt như vậy.

Trong khi đó, chúa Nguyễn và đất Thuận Quảng là một môi trường lý tưởng để kẻ sĩ chứng tỏ và phát huy năng lực kinh bang tế thế. Đất Thuận Quảng hứa hẹn những điều kiện thuận lợi cho việc kiến thiết một cơ đồ “ngang ngửa” với Bắc Hà. Là một vùng đất mới, nó không mắc phải rào cản là sự tồn tại đến trạng thái cổ điển của những mô hình, cơ chế quản lý cũng như tâm lý quần chúng khiến cho bất cứ một cải cách nào cũng bị sự chi phối, ghì giữ của cái đã thành truyền thống. Thêm vào đó, “Đoan quận công [Nguyễn Hoàng] có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hoà, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yên tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp”[1]; “Thuỵ quận công [Nguyễn Phúc Nguyên] chăm lo việc phòng thủ, sửa thành luỹ, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài mến phục nên gọi là chúa Phật, chúa Sãi hay Sãi vương”[2]. Nếu học thuyết Nho giáo lấy lễ nghĩa làm chuẩn mực để xác định người cầm quyền xứng đáng cho kẻ sĩ phụng sự: “Quân tử ba lần đến ba lần đi: Đón rước long trọng và có lễ độ, nói gì đều sẽ làm theo lời nói ấy thì đến, lễ độ chưa giảm nhưng nói chẳng nghe theo thì đi. Thứ nữa, tuy chưa làm theo lời mình nói nhưng đón rước long trọng và có lễ độ thì đến, lễ độ giảm thì đi. Cuối cùng là sớm tối chẳng có ăn, đói lả không thể ra khỏi cửa ngõ, vua nghe tin nói: “Lỗi lớn của ta là chẳng thể hành đạo lại chẳng thể nghe theo lời người ấy, khiến người ấy đói lả trên đất của ta, ta coi đó là điều sỉ nhục”, rồi chu cấp cho, thế thì cũng có thể tiếp nhận, đó là để khỏi chết mà thôi” (Mạnh Tử, Cáo Tử hạ) thì việc chúa Nguyễn Phúc Nguyên thay mũ áo chỉnh tề để đón Đào Duy Từ như trong giai thoại phần nào đã chứng tỏ lễ độ của bậc minh chủ. Sự nghiệp hiển hách của Đào Duy Từ sau này đã khẳng định tính đúng đắn của tầm nhìn chiến lược ấy. Được chúa Nguyễn hậu đãi, trọng dụng, Đào Duy Từ có cơ hội thi thố và khẳng định tài năng trên nhiều phương diện: quân sự, chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá. Hổ trướng khu cơ, tác phẩm lý luận hướng dẫn về binh pháp với những trận đồ và cách chế đúc các loại vũ khí công thành của Đào Duy Từ có thể sánh với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Việc thiết kế và tổ chức thi công luỹ Trường Dục và luỹ Nhật Lệ một mặt đã tận dụng “địa lợi” để ngăn chặn những đợt tấn công của Đàng Ngoài, mặt khác đã tạo cho vùng đất này sự ổn định lâu dài để xây dựng cơ đồ. Lũy Trường Dục và lũy Nhật Lệ cùng những luỹ khác được xây dựng sau khi ông mất như luỹ Trường Sa, luỹ Trấn Ninh… đã bảo vệ phía bên này sông Gianh cho đến tận cuối thế kỉ XVIII (khi Hoàng Ngũ Phúc nhân cơ hội rối ren đem quân vào Thuận Hoá) và là tiền đề quan trọng cho sự phát triển thịnh vượng của Đàng Trong. Đường lối đối ngoại khi mềm khi cứng với thế lực Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và Chiêm Thành, Chân Lạp ở phía Nam cùng các sắc tộc thiểu số vùng Tây Nguyên của Đào Duy Từ đã tạo điều kiện để chính quyền Đàng Trong củng cố, xây dựng lực lượng. Bên cạnh đó, những chính sách về kinh tế - xã hội và khoa cử do ông đề xuất đã đưa vùng đất mới này dần dần đi vào quỹ đạo của một chính quyền thực sự. Quản lý xã hội - thiên chức hàng đầu của kẻ sĩ - vốn không xa lạ với Đào Duy Từ khi ông đã có thời gian dùi mài kinh sử để đi thi và (có thể) trau dồi thêm lúc ở ẩn. Trong khi đó, những người theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng và thuộc hạ của chúa Sãi bấy giờ hầu hết là những quan võđủ tài năng để trấn thủ biên thuỳ nhưng không có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc tổ chức xã hội, xây dựng chính quyền. Vị trí quân sư và tài năng hơn người đã giúp Đào Duy Từ thực hiện lý tưởng kinh bang tế thế một cách hoàn hảo. Ngoài việc xây dựng và tổ chức chính quyền, ông còn được coi là người hoạch định vùng văn hoá Đàng Trong với việc sáng lập và quản lý Hoà Thanh Tự - cơ quan phụ trách múa hát chính thức của “nhà nước Đàng Trong”, huấn luyện chuyên môn cho các nghệ nhân và biên soạn các điệu ca vũ như Hoa đăng, Nữ tướng xuất quân…, cung đình hoá nghệ thuật tuồng; đưa văn Nôm vào miền đất mới với hai sáng tác Tư Dung vãn và Ngoạ Long cương vãn, mở đầu cho sự phát triển của văn học Nôm ở miền Nam sau này với các tác giả Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Phúc Đán, Hoàng Quang… Những đóng góp trong nhiều lĩnh vực của Đào Duy Từ đã góp phần đưa Thuận Quảng từ chỗ là nơi đày ải các tù nhân, “nhà ở toàn bằng cỏ tranh không có nhà ngói lợp. Đường xã nghìn dặm không có lấy một quán hàng” (Ô Châu cận lục) thành nơi có “phong tục khác nơi Bắc Hà - Một bầu thế giới bao la - Chốn ngâm bạch tuyết nơi ca thái bình” (Hồng Hoan Lương sử). Việc nhà Nguyễn sau này xếp Đào Duy Từ vào hàng thượng đẳng trong số các Khai quốc công thần không hề là sự tôn vinh quá đáng. Sự nghiệp của Đào Duy Từ có thể nói là điều đáng mơ ước của bất kì một kẻ sĩ chân chính nào bỏ nhiều công phu trong việc học hành, ôm khát vọng “thượng trí quân, hạ trạch dân, dương thanh danh, hiển phụ mẫu”.

Tám năm tham chính không phải là thời gian dài để một người mang khát vọng lớn như Đào Duy Từ khi nhắm mắt xuôi tay có thể mãn nguyện. Ông không gặp phải bi kịch của những bậc khai quốc công thần của các triều đại trước như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn… hay sự nghi kị của bậc quân trưởng như trường hợp Phùng Khắc Khoan. Sự trọng thị của chúa Sãi với Đào Duy Từ là cách đối xử mà bất cứ một bề tôi nào cũng mong muốn nhận được từ phía người cầm quyền. Tuy nhiên, nhìn vào những gì chính sử cũng như giai thoại còn lưu lại sẽ thấy sự thuận lợi trong sự nghiệp của Đào Duy Từ còn là kết quả của “tài thiệp thế”: “Đào Duy Từ khéo can ngăn trước khi có việc, chúa phần nhiều lựa ý nghe theo” (Đại Nam liệt truyện tiền biên).

Đào Duy Từ đã khiến chúa Sãi vượt qua nỗi ngại khó ban đầu để đồng ý đắp luỹ Nhật Lệ. Khi chúa lệnh cho mua các sản vật quý như yến sào, hồ tiêu, kỳ nam và mời Đào Duy Từ tới định giá, ông mặc quần áo lái buôn vào phủ, tay cầm cân, chúa biết ý, liền bãi lệnh trên. Khi Nguyễn Hữu Tiến giết viên kỳ trưởng đội thuyền, ông mượn chuyện Tôn Vũ chém vợ yêu của vua Ngô để giữ nghiêm quân lệnh mà xin tha tội cho Nguyễn Hữu Tiến, nhân đó nhắc nhở chúa Sãi về bài học dựng nghiệp bá. Nhờ vậy, Nguyễn Hữu Tiến không những không bị trách phạt mà còn có cơ hội chứng tỏ tài năng của mình và sau này cùng với Nguyễn Hữu Dật là hai vị tướng tài giỏi, lập được nhiều công trạng của Nam Hà.

Lời dạy của cổ nhân và kinh nghiệm lịch sử đã buộc kẻ sĩ phải “khôn ngoan” trong ứng xử với người cầm quyền và những người xung quanh. Trong nhiều trường hợp, chuyện “tôi hay gián chúa hay nghe” chỉ là “ước” mà thôi, kẻ sĩ rơi vào tình trạng “lực bất tòng tâm” và một bộ phận đã bị tha hoá: “Từ đời Đoan Khánh [1505-1509] trở về sau, lối thanh nghị suy kém quá, thói luồn cúi thịnh dần. Kẻ quyền vị ít có người giữ được lẽ liêm khiết nhún nhường, nơi triều đình ít thấy lời dám can ngăn kích thiết. Gặp chuyện khó thì chịu hèn để khỏi vướng bận, thấy cơ nguy thì bán nước để cầu an. Cả đến những bậc gọi là danh nho cũng yên lòng nhận lấy cái ân sủng bất nghĩa mà vẫn thơ ca đi lại, khoe hay khoe đẹp với nhau. Phong thái sĩ phu thật hỏng nát không bao giờ bằng. Sự tệ hại của cuộc biến đổi không thể nói xiết được”. Lối ứng xử của quan lại chép trong Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn) một mặt phản ánh tình trạng phân hoá trong nhân cách kẻ sĩ thời Lê - Trịnh, mặt khác cho ta thấy sự đáng thương của thân phận kẻ sĩ nói chung. Hơn ai hết, tự do phải là đặc điểm đầu tiên của kẻ sĩ, nghĩa là không bị ràng buộc bởi chức phận hay bất cứ một yếu tố nào khác, để họ có thể độc lập trong suy nghĩ và hành động. Dưới chế độ chuyên chế với quyền lực tối thượng thuộc về hoàng đế, khi cái cười và cái chau mày cũng phải dè sẻn[3] thì tự do của kẻ sĩ gần như là điều không tưởng. Mâu thuẫn giữa quyền tự do chính đáng và sự câu thúc chặt chẽ của mô hình quyền lực tập trung đã đẩy kẻ sĩ tới lối hành xử “giả dối”: dùng lễ để che chắn, tiết chế những xúc cảm, tình cảm tự nhiên; lựa chọn cách nói hàm ngôn, thận ngôn thay vì “gọi sự vật theo tên của nó”; tìm kiếm sự hiểu nhau qua những đối thoại vô ngôn, ý tại ngôn ngoại - không chỉ giữa người với người mà còn giữa con người với thiên nhiên (đối diện đàm tâm)…

Lưu danh hậu thế bởi một số phận không bình thường, bởi một sự nghiệp hiển hách, Đào Duy Từ là hiện thân cho khát vọng và nghị lực của kẻ sĩ trên hành trình thực hiện lý tưởng. Lối hành xử của Đào Duy Từ vừa có những nét đặc thù về phương thức ứng xử của một bộ phận kẻ sĩ thời loạn, vừa mang những đặc điểm chung cho thân phận kẻ sĩ dưới chế độ chuyên chế. Từ trường hợp của Đào Duy Từ nhìn về người trí thức hiện đại, sẽ thấy thân phận kẻ sĩ dù không phải là một vấn đề mới nhưng cũng chưa từng cũ. Nhưng qua trường hợp Đào Duy Từ cũng góp phần nhận thức về chúa Nguyễn ở Nam Hà giai đoạn đầu như là một đối sánh để thấy rõ hơn chúa Trịnh ở Bắc Hà với kẻ sĩ, một sự so sánh có thể cắt nghĩa nhiều lý do khác nhau.

 



[1]Phủ biên tạp lục, in trong Lê Quý Đôn toàn tập,tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1977, tr. 50.

[2]Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, Tp.HCM, 2001, tr. 128.

[3]Cao Bá Quát: “Duyệt thế phương tri kiệm tiếu tần” (Trải cuộc đời mới biết là nên dè sẻn cái cười và cái chau mày, Tặng Di Xuân).

Nguồn: vanhoanghean,Thứ tư, 23 Tháng 5 2018 09:49

 

Các bài khác:
· HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI KIẾN TẠO NIỀM TIN
· VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC GS PHAN ĐÌNH DIỆU
· MỘT GIẢ THIẾT KHÁC VỀ HÀNH TRÌNH ĐI SỨ CỦA NGUYỄN DU NĂM 1813 - 1814
· CON GÁI TRẦN QUỐC TẢNG CÓ RA TRẤN ẢI CỬA BIỂN VÂN ĐỒN (QUẢNG NINH) KHÔNG?
· HỒI ỨC VỀ TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO
· PHẠM QUỲNH LÀ AI?
· HAI NGƯỜI LÍNH TRONG KHÚC CA HÒA BÌNH
· THỐNG NHẤT VĂN HÓA ĐỂ THỐNG NHẤT LÒNG NGƯỜI
· PHƯƠNG TÂY VÀ SỰ HÌNH THÀNH DIỄN NGÔN VỀ BẢN SẮC VIỆT NAM (TRƯỜNG HỢP PHAN BỘI CHÂU TỪ 1905-1908)
· MỸ - NGA - TRUNG, SYRIA VÀ BIỂN ĐÔNG NAM Á
· 5 CUỐN SÁCH BILL GATES ĐÃ ĐỌC TRONG NĂM 2017
· CHỮ HÁN CỦA NGƯỜI VIỆT
· XE KÉO - HOÀI NIỆM XƯA HAY DẤU ẤN CỦA MỘT THỜI NÔ LỆ?
· CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ BÀ THATCHER
· MẬT ĐÀM GIỮA KISSINGER VÀ CHU ÂN LAI
· MAXIM GORKY- CON NGƯỜI CỦA HUYỀN THOẠI
· LỄ TỨ TUẦN ĐẠI KHÁNH CỦA VUA KHẢI ĐỊNH
· HẠNH PHÚC TRONG QUAN NIỆM CÁC TÔN GIÁO TÂM LINH
· HỘI KIẾP BẠC
· SƠN MỸ - NỖI ĐAU NGÀN ĐỜI KHÔNG THỂ QUÊN

 

  
Gia đình Bích Khê