DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HẢI CHÂU TỬ CÓ SƯU TẬP TÚ XƯƠNG? AI LÀ TÁC GIẢ "QUỐC VĂN TÙNG KÝ"?

                                                                            Đỗ Tiến Bảng 

 

Quốc văn tùng ký là sưu tập thơ, văn, từ, phú,… bằng chữ Nôm, văn bản chép tay; mở đầu ghi: “Trong tập này xuyết thập của những bậc danh nhân sau này”, và tên “Hải Châu Tử biên tập”. Ngoài phần kê biên tên tác giả, cùng học vị, chức danh, là lời dẫn; rồi chia ra thượng, hạ hai quyển: thi, phú, văn, bát cổ, câu đối, hát nói, văn sách, tạp văn. Sách không ghi thời gian biên tập, không biết xuất hiện trên văn đàn từ khi nào. Cho đến giờ vẫn không có ai nghi ngờ về tác giả Quốc văn tùng ký và những tác phẩm trong đó.

Vào cuối năm 1970, GS Trần Nghĩa chỉ đặt vấn đề  Quốc văn tùng ký chép “nhầm” thơ người khác làm thơ Tú Xương. Trong bài “Loại bớt một số bài thơ không phải của Tú Xương”(1), GS Trần Nghĩa đã chỉ ra 17 bài thơ của người khác xếp vào thơ Tú Xương, trong đó 15 bài được chép trong Quốc văn tùng ký đều từ bài của các tác giả in trên Tạp chí Nam Phong. Đó là Vũ Thanh Đàm, Vũ Đình Khôi, Vũ Tích Cống, Châu Tử, Ái Hoa, Mân Châu; họ có thơ đăng những số từ năm 1920 đến 1932. GS còn cho biết: “Theo thống kê sơ bộ…có tới trên ba mươi trường hợp thơ của người khác đăng trên Nam phong được xếp chung với thơ Tú Xương trong Quốc văn tùng ký” . Từ đó, GS Trần Nghĩa đưa ra nhận định: “Quốc văn tùng ký có thể xem như đầu mối của các hiện tượng nhầm lẫn. Người biên soạn ra bộ sách này là Hải Châu Tử, tên thật là Nguyễn Văn San, tên chữ là Văn Sơn, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, không rõ sinh và mất năm nào”. PGS. TS Nguyễn Tá Nhí khi lý giải nguyên nhân nhầm lẫn tác giả, có dẫn ý kiến này trong bài viết “Vì sao có hiện tượng nhầm lẫn tác giả (2). Những nhận xét này từ 45 năm nay mà vẫn chưa có người truy xét tiếp. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là, có phải Hải Châu Tử Nguyễn Văn San là tác giả của  Quốc văn tùng ký?

Tìm hiểu về tác gia Hải Châu Tử, thân thế và tác phẩm, một số sách mô tả còn sơ sài. Nhà nghiên cứu văn chương, GS Phạm Việt Tuyền, từ 1953, khi bàn về quá trình sáng tạo chữ Nôm, ghi chú về tác gia này như sau: “Ông Hải Chu Tử, tên là Nguyễn Văn San, hiệu là Văn Đa cư sĩ, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, sống vào đầu đời Tự Đức, đã từng nghiên cứu cái học của Vương Dương Minh và soạn ra 3 quyển sách: Quan châm thực lục, Độc thư cách ngôn, và Đại Nam quốc ngữ (3). Trong “Lược truyện tác gia Việt Nam, tập I ( Trần Văn Giáp chủ biên), mục 589 – Nguyễn Văn San, ghi: “Nguyễn Văn San, tự Văn Sơn, hiệu Hải Châu Tử, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên cũ, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Theo bài tựa sách Quan châm tiệp lục, A.217, ông sống khoảng năm Tự Đức thứ 14 ( 1861). Tác phẩm của ông có: - Đại Nam quốc ngữ..- Quan châm tiệp lục…- Độc thư cách ngôn…v.v (4). Ở hai nguồn tư liệu trên đều không nhắc đến Quốc văn tùng ký. Cho đến năm 2012, PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh khi kê cứu tự, hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, giới thiệu về Hải Châu Tử, vẫn chưa biết năm sinh năm mất: “Về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Văn San hiện chưa rõ, được biết ông sống vào thời Nguyễn”; và tác phẩm: “Biên tập các sách: Đại Nam quốc ngữ , Độc thư cách ngôn, Quan châm tiệp lục, Quốc văn tùng ký, Thế truyền bảo huấn”(5). Như vậy, loại trừ về gọi tên hiệu, tên tự khác nhau, các nhà nghiên cứu trên đều không xác định được năm sinh năm mất của tác gia Hải Châu Tử Nguyễn Văn San, nên có cho cuốn Quốc văn tùng ký là của ông cũng là điều dễ hiểu. Nhưng vẫn có những nhà nghiên cứu khá dè dặt, không kê tác phẩm Quốc văn tùng ký trong trước tác của Hải Châu Tử.

Một điều lạ, và thật khó hiểu, là trong Thông báo Hán Nôm học 2009 có bài giới thiệu và dịch “Bài dẫn trong sách Quốc văn tùng ký của Nguyễn Văn San” của Trương Đức Quả. Tác giả biết rõ năm sinh, năm mất của Hải Châu tử Nguyễn Văn San (1808-1883) mà vẫn cho “Quốc văn tùng ký là cuốn sách do Hải Châu tử biên tập (trang 2 cuối dòng 2 đề rõ như vậy) », và đánh giá « Quốc văn tùng ký là một công trình gần như một tổng tập văn học viết bằng chữ Nôm có giá trị » (6). Đến năm 2013, ở cuốn “Khảo cứu từ điển song ngữ Hán – Việt  ĐẠI NAM QUỐC NGỮ” do TS. Lã Minh Hằng khảo, phiên, dịch, chú; với nhiều nguồn cứ liệu tìm được đã giới thiệu rõ ràng, đầy đủ, chính xác về tác gia Nguyễn Văn San như sau: “(1808 – 1883) tự Hải Châu, hiệu Văn Sơn phủ quân, biệt hiệu Văn Đa cư sĩ, là Tú tài sáu khoa triều Nguyễn, Hội trưởng Hội Tư văn Thọ quan. Ông sinh ngày mồng 9 tháng 6 nhuận năm Mậu Thìn ( tức ngày 31/7/1808) trong một gia đình có nề nếp thi thư tại làng Đa Ngưu, tổng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên)…”,(đúng ra phải ghi là huyện Văn Giang, vì huyện Châu Giang thành lập khi hợp nhất hai huyện Khoái Châu và Văn Giang, từ 1979, đến 1999 lại tách ra 2 huyện như trước). Phần kê trước tác chỉ viết: “Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ 3 quyển – Quan châm tiệp lục…- Độc thư cách ngôn…- Đại Nam quốc ngữ” (7). Không có Quốc văn tùng ký! (Về tác gia Nguyễn Văn San, gia tộc còn giữ bức chân dung được “truyền thần” vào tuổi 60 (1867-68), và bốn câu thơ đề từ với thủ bút của Cụ)

Đến đây vấn đề khá đơn giản là, chỉ cần đối chiếu năm sinh năm mất của Nguyễn Văn San (1808 – 1883) với Trần Tế Xương ( 1870 – 1907) ta biết ngay không thể có chuyện Hải Châu Tử sưu tập thơ của Tú Xương! Khi Nguyễn Văn San mất Tú Xương mới 13 tuổi! Trong lời Dẫn mở đầu Quốc văn tùng ký còn nói rõ thời gian Tú Xương thi đỗ: “Rồi đến ông Trần Kế Xương người làng Vị Xuyên tỉnh Nam Định, đỗ tú tài đời vua Thành Thái năm thứ mười hai( 1891)”( tờ I .10b). Năm 1891, Tú Xương đỗ tú tài, Nguyễn Văn San đã mất được 8 năm !Rõ ràng là một sự ngụy tạo chứ không phải là nhầm lẫn! Trong Quốc văn tùng ký còn có thơ, phú, hát nói của “khoảng 35 tác giả”, có những người là thế hệ sau Hải Châu Tử, như Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), Chu Mạnh Trinh (1861 – 1905), Phạm Quang Sán (1865 - ?), Nguyễn Thượng Hiền (1868 – 1925)... Thơ Bà Huyện Thanh Quan lại có cả “Nhàn Khanh thi tập”? Nhân đây xin được nói một ít về Nhàn Khanh theo sự tìm biết của tôi. Bà Dương Nhàn Khanh có thơ in trên tạp chí Nam Phong (từ số 5/ 1917 đến số 10/ 1918). Với lời giới thiệu của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng (cháu ngoại Dương Lâm) ngoài “Nhàn Khanh thi tập”, ta biết được gia thế thân phận, phẩm hạnh của tác giả: “Bà Nhàn Khanh là con gái cụ Phó Đô Ngự Sử họ Dương làng Vân Đình, tổng Phương Đình, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, em gái quan Thượng thư Dương Khuê và cụ Thiếu Dương Lâm… Bà cụ sinh trong nền khanh tướng, có nhan sắc có trí tuệ, thuở nhỏ học hai anh ở nhà, năm 17, 18 tuổi đã thiệp liệp kinh sử. Lại có tài ngâm vịnh, nhất là lối thơ ca quốc âm thời hay chuyên làm. Nhời nhẽ thanh tao, vẫn hàm súc những chua chát với thời đại, mà lắm bài khinh ngạo người nhiều, cho nên vẫn bị cụ quở mắng. Vì thế mà tiếng thơm sớm nổi trong châu quận, dây duyên xe lại cùng cụ ông ngâm thơ giai lão, cũng là phỉ nguyền rồng phượng. Cụ ông là con cụ Tuần Trịnh đỗ nhị giáp tiến sĩ ở làng Định Công”. Nam Phong số 80/ 2. 1924 đưa tin buồn:  “Cụ Dương Nhàn Khanh, nội tướng cụ huyện Trịnh Đình Kỳ, thân mẫu ông cử Trịnh Đình Rư, thọ chung tại quí quán làng Định Công hạ. Hưởng thọ 65 tuổi”. Như thế là biết năm sinh năm mất của Bà (1860 – 1924), chồng là Trịnh Đình Kỳ đỗ Cử nhân khoa Bính Tý (1886) con cụ Trịnh Đình Thái (1823 - ?) đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi (1847), tri phủ Thái Bình, Án sát Nam Định, Tuần phủ Lạng Bình. Anh là Trịnh Tiên Sinh đỗ Cử nhân 1884, Án sát Hải Dương. Trong Quốc văn tùng ký gán Nhàn Khanh thi tập cho Bà Huyện Thanh Quan. Lại có cả tác giả Trần Mỹ, đương làm tuần phủ Hà Nam, thơ và từ khúc in trên Nam Phong; từ số 24/ tháng 6.1920, đến số 28/ 11.1920. Chỉ cần nhắc đến 2 tác giả này có thơ, từ khúc ở Quốc văn tùng ký đã thấy vô lý, không thể nào do Hải Châu Tử sưu tập. Như vậy, một số tác giả, tác phẩm trong Quốc văn tùng ký được chép từ tạp chí Nam Phong (từ số 5 năm 1917, cho đến 1932) có thể không dừng ở con số trên ba mươi, như GS Trần Nghĩa phát hiện.  

Ngoài ra, xem hình thức, lối viết chữ cũng không phải là của Hải Châu Tử, như chữ “thời” là chữ “húy” thời Nguyễn; ở cuốn sách in Đại Nam quốc ngữ tác giả đều tuân thủ triệt để (xem phần “Khảo cứu văn bản” )(8). Còn ở Quốc văn tùng ký thì viết bình thường (tr I.1b, I.9a, tên Ngô Thời Nhậm)! Ta chưa biết cuốn Quốc văn tùng ký chép tay, có độ dày 224 tờ (448 trang) xuất hiện từ thời gian nào. Nhưng rõ ràng, người chép sách đã lấy những tác phẩm, tác giả in trên tạp chí Nam Phong đưa vào. Từ đây có thể đặt giả thiết, người chép Quốc văn tùng ký từ năm 1932, đã ngụy tạo, “mượn” tên Hải Châu Tử để gắn vào cuốn sách của mình cho có vẻ “cổ” không? GS Trần Nghĩa khi chú thích chỉ mới đặt vấn đề nghi ngờ phần chép thơ người khác vào thơ Tú Xương chứ không cho là sai từ Hải Châu Tử : “ phần thơ này, cũng như một số bài thơ nữa chúng tôi ngờ do người khác chép thêm vào, chứ không nhất thiết là Hải Châu Tử”(9). Trong phạm vi khảo sát văn bản thơ Tú Xương ông chỉ mới có nhận xét: “Có thể vì tác giả cuốn Quốc văn tùng ký sưu tầm thiếu thận trọng nên đã lấy nhầm thơ người khác vào làm thơ Tú Xương. Mà cũng có thể vì tác giả Quốc văn tùng ký sắp xếp bộ sách chưa khoa học, gây cho người đời sau nhiều nhầm lẫn”(10). Có lẽ vấn đề không phải chỉ nhầm lẫn ở phần thơ Tú Xương, mà có thể còn ở những tác giả khác nữa. Nhất là khi khẳng định: Nguyễn Văn San không làm sách Quốc văn tùng ký.

 Vì thế vấn đề tác giả Quốc văn tùng ký cần phải được thẩm định cùng với tác giả - tác phẩm và văn bản được sưu tập. Bởi từ cuốn sách này “là đầu mối của các sự nhầm lẫn”. Nhiều nhà làm tuyển tập thơ văn, bình chú…đều căn cứ vào Quốc văn tùng ký mà sao chép, luận bình. Không biết một nhà văn có Hán học như Ngô Tất Tố dựa vào sách nào mà đưa bình bài “Hương Sơn phong cảnh ca”, cho là của Lê Thánh Tông (11). Ai cũng biết đây là bài hát nói của Dương Lâm (1845 -1915). Chưa kể hàng loạt các tuyển thơ văn bằng chữ quốc ngữ sau này, cứ theo nhau mà chép. Nhận xét của GS Trần Nghĩa tuy “nặng lời” nhưng cần thiết: “…Dù thế nào, sự nhầm lẫn cũng đã thành sự thật. Văn đàn bảo giám, Vị Xuyên thi văn tập, Việt thi, Thân thế và thơ văn Tú Xương, Văn thơ Trần Tế Xương, Tú Xương, con người và nhà thơ v.v…đều đã hoặc nhiều hoặc ít theo nhau gánh lấy món nợ vay chằng vay bửa của Quốc văn tùng ký mà ngày nay nhất định ta phải trả”(12). PGS TS Nguyễn Tá Nhí nhắc đến bài của GS Trần Nghĩa, và nói rõ hơn: “… phần thơ Nôm của Trần Cao Xương…là do người đời sau sưu tập nên đã nhầm lẫn với thơ của nhiều người khác”(13)

Tuy chưa khảo sát được toàn diện văn bản, nhưng có điều chắc là Hải Châu Tử Nguyễn Văn San không phải là tác giả cuốn Quốc văn tùng ký chép tay (mang kí hiệu AB 383) hiện có ở Thư viện Hán Nôm và đang lưu hành. Tác giả là ai thì chưa rõ. Còn vấn đề các tác giả khác có thơ, văn, từ, phú trong đó có đúng của họ không thì chúng tôi chỉ dám nghi ngờ. Để bảo đảm sự minh bạch về Quốc văn tùng ký, xin chờ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia văn bản học thẩm định, đánh giá, kết luận. Từ đó mà xem “Quốc văn tùng ký là một công trình gần như một tổng tập văn học viết bằng chữ Nôm có giá trị » đến đâu ? Bài viết này chỉ là một đề nghị giới nghiên cứu chú tâm, để giải tỏa một “nghi án” văn chương.

 

 

---------

 

1.Trần Nghĩa, bài Loại bớt một số bài thơ không phải của Tú Xương “  Tạp chí Văn học, số 6/ 1970

2. Nguyễn Tá Nhí, bài Vì sao có hiện tượng nhầm lẫn tác giả ,Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, Nxb KHXH, 1983, tr 350.   

3. Phạm Việt Tuyền,  Nghị luận văn chương, Nxb Thế giới, Hà nội, 1953, tr 105; có tên sách ghi sai: “thực”, đúng là “tiệp” - “Quan châm tiệp lục”

4. Trần Văn Giáp ( chủ biên)- Tạ Phong Châu- Nguyễn Văn Phú- Nguyễn Tường Phượng- Đỗ Thiện, Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập I, Nxb KHXH, Hà Nội, 1971, tr 445

5. Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt nam, Nxb KHXH, 2012, tr 162 -163

6. Trương Đức Quả,  Bài dẫn trong sách Quốc văn tùng ký của Nguyễn Văn San  hannom.vass.gov.vn/noidung/thongbao/Pages/baiviet.aspx?ItemID...

7. Lã Minh Hằng, Khảo cứu từ điển song ngữ Hán – Việt  ĐẠI NAM QUỐC NGỮ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013;8 tr

8. Khảo cứu từ điển song ngữ Hán – Việt  ĐẠI NAM QUỐC NGỮ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; tr 29

9. Tạp chí văn học 6.1970, chú 19, tr 95, b.đ.d;

10.Tạp chí văn học 6.1970, b.đ.d

11.Ngô Tất Tố, Thi văn bình chú, Nxb Văn học, 2010, trang 37-41; Cao Đắc Điềm đối chiếu, chỉnh sửa theo bản in đầu, 1941.

12.Tạp chí văn học 6.1970 tr 95, b.đ.d

13.Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, s.đ.d, tr 350

 

 Nguồn: vanvn.net

 

Các bài khác:
· ẤN TƯỢNG PHẠM NGỌC THÁI VÀ THƠ
· SƠN NAM KỂ CHUYỆN CƯỜI
· BIỂU TƯỢNG MIỆNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
· CHÙM THƠ CỦA VŨ QUẦN PHƯƠNG, ĐỖ DOÃN PHƯƠNG, NGUYỄN NHÃ TIÊN
· ĐOÀN THẠCH BIỀN - VIẾT QUA HAI CHẾ ĐỘ
· NGUYỄN DU-LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT
· CỐT CÁCH NGUYỄN DU QUA NHỮNG TRANG TIỂU THUYẾT
· CỐT CÁCH NGUYỄN DU QUA NHỮNG TRANG TIỂU THUYẾT
· XUÂN TRONG HỆ KÍ HIỆU MÙA THƠ XUÂN DIỆU
· NGUYỄN THÁI SƠN - CHẬP CHỜN VĂN CHƯƠNG
· "HÀ HƯƠNG PHONG NGUYỆT TRUYỆN"-TIỂU THUYẾT VN ĐẦU TIÊN BỊ CHO LÀ "DÂM THƯ"
· TRANG THƠ LÊ THỊ MÂY
· BÚT TRE-NGƯỜI KHỞI ĐẦU NHIÊN CỨU VĂN HÓA THỜI HÙNG VƯƠNG
· THƠ VÀ NGƯỜI ĐỌC TRONG KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HÓA
· LÊ HUY QUANG VÀ NHỮNG ĐỔI MỚI NGÔN NGỮ THƠ CA
· BÀI THƠ ĐƯỢC CHỌN
· TRẦM HƯƠNG - CHÂN DUNG NGƯỜI ĐÀN BÀ VIẾT
· PHÊ BÌNH SINH THÁI TINH THẦN TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC HIỆN NAY
· CÁI TÔI TRIẾT LÝ TRONG THƠ HỮU THỈNH
· NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

 

  
Gia đình Bích Khê