DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 


Bạn có thể gửi bài viết về địa chỉ thobichkhe@gmail.com
HỖN NHẬP NGÔN NGỮ - MỘT GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HÓA TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM PHẠM QUỲNH

Phạm Quỳnh đã nhận ra tình trạng bất ổn ấy, và ông xem đó là những dấu hiệu khủng hoảng của văn hóa dân tộc trên con đường hòa nhập với phương Tây. Ông nhận thức một cách rõ ràng: nền văn hóa dân tộc đang cần một cuộc cải cách lớn. Trong hàng loạt những công việc phải tiến hành, có một việc hết sức cấp thiết: hiện đại hóa tiếng Việt. Điều này xuất phát từ mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa và ngôn ngữ. Phạm Quỳnh tâm niệm: "muốn có một nền văn hóa dân tộc thì phải tồn tại một ngôn ngữ dân tộc hoàn thiện xứng đáng là ngôn ngữ văn hóa"

TÔI CHẲNG NGẦN NGẠI ĐÁNH CƯỢC CUỘC ĐỜI MÌNH

Trần Thị Ngọc Lan sinh năm 1979 tại thị trấn Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hoá. Lên 5 tuổi, do một trận sốt bại liệt biến chứng sang não, chị bị  bại liệt biến dạng nửa người bên phải, tổn thương thần kinh ngoại biên, làm méo giọng nói, chân phải và tay phải bị liệt, và nửa bên trái cũng yếu. Ngày mới bị lâm bệnh, chị phải bò. Sau hai năm luyện tập chị đi lại được, nhưng rất khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, Ngọc Lan đã tìm đến với văn chương.16 tuổi, chị ra mắt tiểu thuyết đầu tay nhan đề Ánh sao rơi. Năm 1999, chị viết thư gửi trực tiếp cho ông Nguyễn Minh Hiển, lúc đó là Bộ trưởng Bộ GDĐT. Khi ấy, Bộ GDĐT quy định không cho những người tàn tật không đủ sức khoẻ dự thi vào đại học. Trong thư chị đã viết: "Tôi là người có năng khiếu văn chương, đã có tác phẩm được xuất bản, và trên hết tôi muốn là người có tri thức, sống có ích cho xã hội. Đề nghị ông cho tôi được dự thi đại học, để tôi có thể thành công dân tốt, có ích cho xã hội, và để bản thân tôi, gia đình tôi đỡ thiệt thòi".  Bộ trưởng đã đồng ý, đánh công văn về cho Trường Viết văn Nguyễn Du - nay là khoa Sáng tác và Lý luận phê bình văn học, Đại học Văn hoá Hà Nội, đề nghị trường cho chị dự thi như những thí sinh khác. Và chị đã đỗ vào trường.  Cho đến nay Trần Thị Ngọc Lan đã cho ra mắt 4 tiểu thuyết, 4 tập thơ và 3 tập truyện ngắn

YẾU TỐ VIỆT CỔ TRONG NGÔN NGỮ THÁI
Tộc Thái là một trong 54 tộc người, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có tiếng nói và chữ viết rất gần với người Việt. Đặc biệt trong ngôn ngữ Thái hiện nay còn giữ được rất nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ. Ngoài do sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong quá trình phát triển của những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh, thì chủ yếu là do tộc Thái với những yếu tố khách quan, giữ được nhiều tinh hoa của ngôn ngữ Việt cổ, phát triển hoàn thiện như bây giờ.
HOÀNG TRẦN CƯƠNG-NGƯỜI HÓA GIẢI NHỮNG NỖI NIỀM, KHÁT VỌNG
Với một tay nghề già dặn, thơ Hoàng Trần Cương là thứ phù sa kết đọng mang nét tổng kết cuộc đời sau những năm tháng vật lộn gian nan. Như một tấm gương lồi, nhà thơ đã phản ánh được những vấn đề chân thật và bản chất nhất có tính đặc thù của thời đại ta đang sống. Soi vào dòng thơ Hoàng Trần Cương ta thấy bóng dáng mình thấp thoáng nổi chìm. Nhà thơ đã cảnh báo: sống đâu phải dễ, phải kiên cường lắm mới mong sống sót ở đời. “Trầm tích”  và “Quà tặng của của thế kỷ” của Hoàng Trần Cương là những thi phẩm có giá trị được kết tinh bằng máu huyết của một thi nhân tạo nên khí cốt tầm vóc thi bá. Văn học Việt Nam hiện đại ghi thêm một tên tuổi mới sáng giá về trường ca: Hoàng Trần Cương! Trầm tích  là bản trường ca về cuộc sống, bài ca về số phận con người mang ý nghĩa nhân văn bởi nó đã khêu gợi và truyền lửa cho ta hành động. Thơ Hoàng Trần Cương là quyển cách trí, là sách học làm người bằng thơ hướng cho con người một thế đi, dáng đứng. Sau chiến tranh thơ ta đang có xu hướng khai thác đời tư và những mảnh đời vụn vặt, nhàn tản thì Hoàng Trần Cương đã dám xông thẳng vào những vấn đề thế sự gai góc nóng bỏng của xã hội hôm qua và hôm nay để hướng tới ngày mai tươi sáng với cái nhìn sắc bén, tổng lực cất lên tiếng nói mạnh bạo có trọng lượng, đầy ma lực  nghệ thuật. Trầm tích là thiên trường ca có lẽ là hay nhất trong các trường ca hay của nửa cuối thế kỷ XX đầy giông bão.
PHONG CÁCH THƠ NGẢI THANH VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ PHÁI TƯỢNG TRƯNG

Ngải Thanh tên thật là Tưởng Hải Trừng (sinh ngày 27-3-1910, mất ngày 5-5-1996) sinh ra trong một gia đình địa chủ họ Tưởng, tại làng Kim Hoa, huyện Tưởng, tỉnh Chiết Giang. Ông là một trong những nhà thơ mới Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đến các nhà thơ mới ở thời kỳ sau.


• Các tin khác:

» NHÀ VĂN NÀO ĐẠI HỘI ẤY
» SỨC SỐNG DAI DẲNG CỦA KỸ THUẬT 'DÒNG CHẢY Ý THỨC'
» TẢN ĐÀ - THI SĨ CỦA HAI THẾ KỶ
» HÌNH ẢNH LẠ 'MẮT BÒ CÁI' LÀ CỦA THƠ TRẺ HAY THƠ GIÀ?
» QUAN NIỆM NGHỀ ĐỘC ĐÁO CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN
» LINH HỒN SƠN NAM - NỬA LƯU BẾN CÁT NỬA VỀ MỸ THO
» CHÙM THƠ BÁO HIẾU LỄ VU LAN CỦA MAI BÁ ẤN
» PHÊ BÌNH PHẢI TRI ÂM VỚI SÁNG TÁC
» NGUYỄN VỸ - 100 NĂM... NHÌN LẠI
» THANH TÂM TUYỀN - NGƯỜI ĐI TÌM TIẾNG NÓI


|  1  |  2  |  3  |  4  |  5  |  6  |  7  |  8  |  9  |  10  |  11  |  12  |  13  |  14  |  15  |  16  |  17  |  18  |  19  |  20  |  21  |  22  |  23  |  24  |  25  |  26  |  27  |  28  |  29  |  30  |  31  |  32  |  33  |  34  |  35  |  36  |  37  |  38  |  39  |  40  |  41  |  42  |  43  |  44  |  45  |  46  |  47  |  48  |  49  |  50  |  51  |  52  |  53  |  54  |  55  |  56  |  57  |  58  |  59  |  60  |  61  |  62  |  63  |  64  |  65  |  66  |  67  |  68  |  69  |  70  |  71  |  72  |  73  |  74  |  75  |  76  |  77  |  78  |  79  |  80  |  81  |  82  |  83  |  84  |  85  |  86  |  87  |  88  |  89  |  90  |  91  |  92  |  93  |  94  |  95  |  96  |  97  |  98  |  99  |  100  |  101  |  102  |  103  |  104  |  105  |  106  |  107  |  108  |  109  |  110  |  111  |  112  |  113  |  114  |  115  |  116  |  117  |  118  |  119  |  120  |  121  |  122  |  123  |  124  |  125  |  126  |  127  |  128  |  129  |  130  |  131  |  132  |  133  |  134  |  135  |  136  |  137  |  138  |  139  |  140  |  141  |  142  |  143  |  144  |  145  |  146  |  147  |  148  |  149  |  150  |  151  |  152  |  153  |  154  |  155  |  156  |  157  |  158  |  159  |  160  |  161  |  162  |  163  |  164  |  165  |  166  |  167  |  168  |  169  |  170  |  171  |  172  |  173  |  174  |  175  |  176  |  177  |  178  |  179  |  180  |  181  |  182  |  183  |  184  |  185  |  186  |  187  |  188  |  189  |  190  |  191  |  192  |  193  |  194  |  195  |  196  |  197  |  198  |  199  |  200  |  201  |  202  |  203  |  204  |  205  |  206  |  207  |  208  |  209  |  210  |  211  |  212  |  213  |  214  |  215  |  216  |  217  |  218  |  219  |  220  |  221  |  222  |  223  |  224  |  225  |  226  |  227  |  228  |  229  |  230  |  231  |  232  |  233  |  234  |  235  |  236  |  237  |  238  |  239  |  240  |  241  |  242  |  243  |  244  |  245  |  246  |  247  |  248  |  249  |  250  |  251  |  252  |  253  |  254  |  255  |  256  |  257  |  258  |  259  |  260  |  261  |  262  |  

  
Gia đình Bích Khê