DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGUYỄN TRUNG HIẾU

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGUYỄN TRUNG HIẾU

(18/02/1930 – 18/12/2018)

TIN BUỒN

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM  VÀ GIA ĐÌNH

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC BÁO TIN:

Nhà thơ Nguyễn Trung Hiếu

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Nguyên Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Ngãi

Đã từ trần vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 18/12/2018 tại tư gia

(Phường Nghĩa Lộ, Tp Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi)

Lễ viếng bắt đầu từ 10 giờ ngày 19/12/2018.

Lễ Truy điệu vào lúc 6 giờ ngày 21/12/2018.

Lễ Di quan từ 07 giờ ngày 21/12/2018.

An táng tại Nghĩa trang Nghĩa Kỳ, Quảng Ngãi

-------------------

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ CỦA “MÀU XANH THỜI GIAN” - NGUYỄN TRUNG HIẾU

                                                                                                - Mai Bá Ấn

          Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Trung Hiếu sinh ngày 18/02/1930 tại xã Nghĩa Lộ, thị xã Quảng Ngãi (nay là Tp Quảng Ngãi), tỉnh Quảng Ngãi đã chính thức giã biệt đồng nghiệp, đồng chí, bạn hữu và gia đình vào lúc 11 giờ 40 ngày 18/12/2018 (nhằm ngày Giáp Thân-12/11 năm Mậu Tuất).

          Sau một quãng đời từ tuổi thanh thiếu niên tham gia kháng chiến sôi nổi và đầy nhiệt huyết cách mạng đến ngày hòa bình về, anh Nguyễn Trung Hiếu đã sống lặng lẽ và ra đi lặng lẽ ở tuổi thượng thọ 89 tuổi Âm.

          Sinh ra vào đúng năm Đảng CSVN ra đời, tham gia cách mạng từ 1945, vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1968, nhà thơ Nguyễn Trung Hiếu trưởng thành trong suốt một chặng đường máu lửa của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại, hào hùng của dân tộc. Vừa cầm súng vừa cầm bút, Nguyễn Trung Hiếu vừa góp máu xương vừa góp tài năng cho cả hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Và sau đó là chặng đường, anh lặng lẽ viết và lặng lẽ cống hiến tâm lực để dâng hiến cho đời những tác phẩm văn học ghi lại những chặng đường đi của cả dân tộc nói chung và của Quảng Ngãi nói riêng.

Nguyễn Trung Hiếu chính thức nhập ngũ tháng 4 năm 1950. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1954, anh là nhân viên Tổ in thạch bản của Ban Tuyên huấn tỉnh Quảng Ngãi. Nghĩa là ngày từ tháng năm đầu nhập ngũ, anh đã gắn liền cuộc đời mình với sự nghiệp báo chí và văn nghệ nhằm tuyên truyền động viên phong trào kháng chiến.

Từ tháng 10/1954 đến tháng 5/1955, anh là cán bộ tuyên truyền thuộc Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Khu 5. Tháng 6 năm 1955 anh ra Bắc tham gia khóa học thông tin của Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam.

Tháng 4 năm 1956 anh học Trường Sĩ quan lục quân Việt Nam. Do điều kiện sức khỏe từ 1957, anh tham gia dạy Bổ túc văn học tại Quân khu 4. Đến tháng 9 năm 1959, anh chuyển ngành học Thủy văn ở Hà Nội. Từ tháng 01/1960 anh là học viên Trường Tuyên giáo Trung ương Hà Nội thuộc Hội Báo chí Việt Nam.

Tháng 12/1960, anh chính thức trở thành phóng viên, khởi nghiệp từ Báo Gang thép Thái Nguyên. Năm 1965, anh được cử đi học Trường Tuyên giáo Trung ương. Và tháng 3/1966, anh chính thức về lại miền Nam, công tác tại Ban Tuyên huấn Huyện ủy Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Từ tháng 11/1971 anh là phóng viên, biên tập viên Báo Giải phóng Quảng Ngãi cho đến ngày hòa bình.

Sau ngày thống nhất đất nước, anh là Trưởng phòng Biên tập báo Nghĩa Bình. Khi chia tách tỉnh, anh về quê làm Trưởng Đài Truyền thanh thị xã Quảng Ngãi. Sau đó anh được tín nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Ngãi và trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cho đến lúc về hưu.

Có thể nói, cả cuộc đời của nhà văn Nguyễn Trung Hiếu là cả cuộc đời gắn chặt với hoạt động báo chí, tuyên truyền và văn nghệ. Tài năng của anh được bộc lộ sớm khi anh được triệu tập dự Hội nghị Các nhà văn trẻ miền Bắc lần thứ nhất (năm 1959) cùng với các tên tuổi lừng danh trong văn giới Việt Nam như Anh Đức, Lê Anh Xuân, Trúc Thông…

Từ tuổi thanh niên cho đến khi giã biệt cuộc đời ở tuổi vượt “cổ lai hi”, Nguyễn Trung Hiếu đã gắn trọn đời mình cùng ngòi bút. Đến lúc ra đi, anh đã kịp để lại cho đời gần 20 tác phẩm gồm 9 tác phẩm văn xuôi, 6 tác phẩm thơ và một tập ca khúc phổ thơ cùng 3 Tuyển tập cuối đời là “Nguyễn Trung Hiếu tuyển truyện”, “Nguyễn Trung Hiếu tuyển thơ” cùng “Hợp tuyển Nguyễn Trung Hiếu”.

 Truyện - ký Nguyễn Trung Hiếu chứa chan hơi thở đời sống, nhất là đời sống trong những tháng năm dài kháng chiến. Nó như một mạch nguồn xuyên chảy suốt hành trình chiến đấu trong chiến tranh và hành trình sống trong hòa bình với bao nhiêu trăn trở, âu lo cùng những niềm tin sáng lên từ những nụ mầm sinh sôi nẩy nở trong công cuộc dựng xây đất nước.

Xuất phát từ một phóng viên chiến trường, khởi nghiệp từ báo chí, vì thế, sự nghiệp văn chương anh khẳng định trên văn đàn là những tác phẩm văn xuôi, nhưng càng về cuối đời, càng chiêm nghiệm, hồn thơ của anh ngày càng nổi trội và để lại những tác phẩm thơ đủ sức chống chọi với thời gian. Anh thật sự trở thành tấm gương nghệ sĩ cho lớp văn nghệ sĩ trẻ Quảng Ngãi với đức khiêm tốn, lặng lẽ đến lạ thường. Người ít nói chỉ để cho hồn thơ nói hộ. 

Sức sống bền vững của thơ anh theo thời gian chính là ý thức tự vượt lên mình trong hình thức thể hiện, còn con người và thơ Nguyễn Trung Hiếu từ trước đến nay thì vẫn thế: Lặng lẽ xanh một màu xanh hồn hậu.            

Cùng với truyện - ký, thơ anh giai đoạn đầu là tiếng lòng xanh tươi của một chặng đời trai trẻ chiến đấu say mê, lãng mạn:

Ô, đẹp quá! Quanh mình ta gió vờn, mây quyện

Xe ta đi xua dậy sóng trăng vàng…

Nhìn đâu cũng rực rỡ sắc màu: vàng óng lúa, đỏ bụi Trường Sơn:

Xe ta băng qua những cánh đồng vàng óng

Mặc bom rơi, đạn xối đỏ đường

Nghìn núi, nghìn sông không cản được

Thác người đi giải phóng quê hương (Đường về-1966).

Đúng là tiếng thơ mang hào khí chung của cả một thế hệ thơ đánh Mỹ. Nhưng càng dấn thân vào chiến trận, Nguyễn Trung Hiếu đủ để trưởng thành và tạo cho thơ mình một dáng nét riêng bằng những câu thơ đẫm mồ hôi hiện thực, nước mắt gian lao và cả xương máu hi sinh giật giành sự sống:

Mỗi túp lều còn đây

Trải bao cơ cực

Phải giành từng tấm tranh, nuột lạt

Bằng mồ hôi

Cả máu xương của trăm người! (Tiếng gà xóm Bãi-1972).

Về cuối cuộc chiến tranh, thơ Nguyễn Trung Hiếu chín dần, màu xanh đã thêm một chút “đậm đà”, lắng lại như “nước chè xanh”:

Những bát nước chè xanh trao nhau rất vội

Đậm đà sao tình nghĩa quân dân

Và trong khí thế bừng bừng của ngày giải phóng quê hương, thơ anh vẫn không quá “lắm lời” mà lắng lại “trầm ngâm suy nghĩ” cùng những hi sinh, mất mát đã qua:

Thiên Bút Phê Vân

Có phải bởi biết hi sinh nên chẳng nói nhiều lời

Người đứng đó trầm ngâm suy nghĩ…?

Nghe sóng dậy Long Đầu Hí Thủy

Mà lòng máu rướm Mỹ Lai! (Chúng con luôn làm vui lòng Bác-29.3.1975).

Về với trời xanh thời bình, thơ Nguyễn Trung Hiếu càng “thấm đậm”, “ngát xanh” hơn. Dù cuộc sống có muôn vàn khó khăn, cuộc nhân thế có bao điều cay đắng, đời riêng đã nghiêng về phía “lá vàng rơi” của tuổi già, thơ Nguyễn Trung Hiếu vẫn xanh mãi với thời gian một “màu xanh không đổi”:

Một chiếc lá vàng rơi

Màu xanh dường không đổi

Đôi khi ta vô tình

Để một ngày ở lại (Màu xanh thời gian).

Nếu thử làm phép thống kê, ta sẽ thấy thơ anh ngập tràn màu xanh. Và, chúng ta có thể vững tin rằng, cho mãi đến muôn sau, hồn thơ Nguyễn Trung Hiếu vẫn mải mê “xanh suốt cùng thời gian”:

Câu thơ nào đẹp vậy

Xanh suốt cùng thời gian

Em trong anh một nửa

Như vầng trăng trong ngần (Màu xanh thời gian). 

Xanh để nhìn thấy rõ những trắng đen, dâu bể cuộc đời:

Đâu rồi, hỡi những giòng sông

Hãy xanh cho thấy hết lòng nông sâu! (Một sáng tháng ba).

Suốt cuộc đời cách mạng và cuộc đời sáng tạo của mình, Nguyễn Trung Hiếu đã được tặng thưởng: Huân chương Giải phóng hạng Ba, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp VHNT Việt Nam.

Anh Hiếu ạ, như vậy cuộc đời anh đã trọn vẹn cả đôi đường. Vừa là chiến sĩ vừa là nghệ sĩ thực thụ bằng chính máu xương hi sinh và tài năng bền bỉ của chính mình.

Anh còn là một con người trung hậu trong cả chuyện đời, chuyện nghề và chuyện tư riêng. Tạo lập gia đình trong khó khăn gian khổ và đến những ngày cuối đời được sống trong sự chăm sóc ân cần của người vợ nhu hòa và con cháu yêu thương. Chính sự thuận hòa của những đứa con, sự thấu cảm của người vợ hiền mà có một thời gian dài sau khi tái lập tỉnh, nhà riêng của anh chị đã trở thành Văn phòng Hội VHNT Quảng Ngãi cho mãi đến khi chuyển về địa chỉ 68 Hùng Vương hiện nay. Ngay tại ngôi nhà và mảnh vườn khiêm tốn, ấm áp, thâm tình này, anh đã dìu dắt rất nhiều những bạn văn trẻ trưởng thành. Cũng tại sân nhà này là nơi đã từng thay mặt Hội lúc khó khăn, tiếp đón những nhà thơ, nhà văn tài danh cả nước mỗi khi ghé về thăm Quảng Ngãi. Đó là những Xuân Diệu, Tế Hanh, Hữu Loan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha… cùng rất nhiều bạn bè văn nghệ sĩ của anh cùng trưởng thành trong kháng chiến.

Hôm nay, chính nơi này - một ngôi nhà nhỏ, một khu vườn nhỏ tại một con hẽm nhỏ giữa lòng thành phố quê hương, anh đã ra đi. Trọn vẹn, ấm áp, nghĩa tình. Rất tiếc anh ra đi vào những ngày cuối năm Dương lịch với bao nhiêu bộn bề công việc, bạn văn anh, những người anh em thân thiết của anh ở xa không kịp trở về tiễn đưa anh lần cuối. Nhưng không sao, đời anh là vậy. Sống lặng lẽ, âm thầm và ra đi cũng âm thầm lặng lẽ.

Tiễn biệt anh, xin nhắc lại những câu thơ anh viết về ngày giải phóng 1975 trong bài thơ “Đường về”: Ô, đẹp quá! Quanh mình ta gió vờn, mây quyện/ Xe ta đi xua dậy sóng trăng vàng… Bây giờ thì anh cùng đang trên đường về với thế giới bên kia, hồn anh cũng đang theo “gió vờn mây quyện”  để đi vào cõi hư vô. Và hình như có một ánh trăng vàng ở cõi cực lạc kia đang chờ đón anh về. Người ở lại xin mãi cùng thơ anh ngân lên một tình yêu bất diệt để cây đời luôn mãi xanh tươi:

Một chiếc lá vàng rơi

Màu xanh dường không đổi

Đôi khi ta vô tình

Để một ngày ở lại

 

Trong cơn đau nghiệt ngã

Càng hiểu hơn lòng em

Người nối dài nhịp sống

Ngày thường ta dễ quên

 

Câu thơ nào đẹp vậy

Xanh suốt cùng thời gian

Em trong anh một nửa

Như vầng trăng trong ngần (Màu xanh thời gian).

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Trung Hiếu. Vĩnh biệt một nhân cách lặng thầm thể hiện qua phong cách sống cùng những trang thơ, trang văn lặng thầm mà đầy sức tỏa lan của anh. Anh Nguyễn Trung Hiếu kính yêu! Nhưng xin anh hãy tin những “câu thơ đẹp” của anh cùng “vầng trăng trong ngần” sẽ “xanh suốt cùng thời gian” và luôn mãi sáng soi trên dặm đường thơ của dân tộc.

Xin cúi đầu vĩnh biệt!

                                                               (Trích điếu văn do Nhà văn Mai Bá Ấn - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn VN tại Quảng Ngãi, Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Ngãi thay mặt Hội Nhà văn Việt Nam đọc tại lễ tang)

 

                                                                  

 

 

Các bài khác:
· KIM TUẤN VÀ TRỜI BUỒN MÂY TRẮNG BAY
· MÙA XUÂN VÀ NHỮNG KHÚC HOAN CA TRONG THƠ XUÂN DIỆU THỜI THƠ MỚI
· “THƠ CHỌN” CỦA HAI NGƯỜI LÍNH THÀNH CỔ
· HỒN QUÊ VÀ MẸ TA XƯA
· HOLDERLIN VÀ "THI CA TƯ TƯỞNG"
· HOÀNG VIỆT VÀ BẢN GIAO HƯỞNG BỎ DỞ
· CÒN MÃI MỘT HỒNG NGUYÊN ĐỂ NHỚ
· CHÙM THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN - HÀ HƯƠNG SƠN
· TƯ TƯỞNG TỰ DO MANG TẦM THỜI ĐẠI CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ
· VĂN HỌC VÀ VĂN HỌC HIỆN THỜI QUA MỘT GÓC NHÌN
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· NGƯỜI DƯNG ĐÂU PHẢI NGƯỜI XA LẠ!
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ
· PUSKIN VÀ NGUYỄN DU - HAI NHÀ TIÊN TRI CỦA HAI DÂN TỘC
· ĐỌC “HƯƠNG QUÊ” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
· MAI BÁ ẤN VÀ BÀI THƠ TẶNG NGÔ MINH
· NHÀ THƠ NGÔ MINH QUA ĐỜI VÀ BÀI THƠ CUỐI CÙNG
· NHÀ THƠ CHÂN QUÊ- VŨ CHÂU PHỐI
· ĐỌC “MỢ HỮU” CỦA TRẦN NHUẬN MINH
· PHẠM NGỌC THÁI VỚI THIÊN TÌNH CA TRÁC TUYỆT

 

  
Gia đình Bích Khê