DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HỒNG MÃO: MỖI GIỌT THƠ - MỘT GIỌT HỒNG

 

 MAI BÁ ẤN

            Cách đây vừa đúng 63 năm, vào những tháng cuối năm 1954, trong không khí chia tay bịn rịn giữa người đi kẻ ở nhằm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ; dưới những tàn dừa xanh Bồng Sơn (Bình Định), có một chàng thanh niên 24 tuổi của Đoàn Văn công Quân khu V đã đứng giữa đám đông hô Bài chòi một bài thơ mình vừa sáng tác làm lay động lòng người và đã được đồng chí Nguyễn Chánh - Chính ủy Quân khu V lúc bấy giờ trực tiếp trao Huy hiệu Hồ Chủ tịch. Đó chính là chàng thanh niên Hồng Mão. Và bài hát ấy là bài “Em vẫn đợi chờ anh” trong bối cảnh chia tay của nhiều cặp vợ chồng son trẻ. Người vợ ở lại miền Nam, người chồng tập kết ra miền Bắc với lời ước hẹn sắc son:

Hẹn ngày gặp dưới trăng thanh

Ôm trăng bên rặng dừa xanh quê mình.

Nhưng không phải đợi đến lúc ấy, người ta mới biết đến nghệ nhân Hồng Mão! Sinh ra trong một gia đình công nhân nghèo bên bến Tam Thương (Cửa Bắc, thành phố Quảng Ngãi), trưởng thành trong sự dắt dìu của một người cha có giọng Hò khoan say đắm lòng người, 16 tuổi đầu, chàng thiếu niên Nguyễn Hồng Mão đã là đội viên Đội Văn nghệ xã Nghĩa Lộ. Và con đường nghệ thuật của anh bắt đầu từ ấy cho đến hiện nay với danh hiệu cây bút lão thành 87 tuổi đời của làng thơ Quảng Ngãi.

            Tập kết ra Bắc, với tài năng thiên bẫm, đầu năm 1955, anh được phân công về Đài Tiếng nói Việt Nam, làm biên tập Chương trình Dân ca nhạc cổ. Sự nghiệp sáng tác dân ca chuyên nghiệp của anh bắt đầu từ đó. Mà dân ca khởi phát từ ca dao dân gian, và vì vậy, có thể nói, sự nghiệp thơ ca của anh cũng khởi phát từ những bài dân ca do chính anh sáng tác:

Nhìn lên tấm bản đồ Tổ quốc

Quê hương tôi - khúc ruột miền Nam

Nhớ Khu năm - nhớ Hải Vân

Đèo chen dốc ngược sương lam giăng màn (Nhớ Khu Năm - 1957).

Từ năm 1962, nhằm kịp thời phục vụ cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam, Đài Phát thanh Giải phóng A ra đời, lập tức anh được biệt phái sang công tác ở đó. Đây là thời gian mà anh tự gọi là mình là một “ẩn sỹ” cho dù những bài ca của anh luôn vang vọng trên làn sóng làm nức lòng cả nước. Cũng chính vì lẽ đó mà một Đài Phát thanh của miền Nam tồn tại ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội, nhưng kẻ thù ráo riết truy lùng vẫn chẳng biết tìm nó ở đâu! Và cũng từ làn sóng phát thanh bí mật ấy, để kịp thời phục vụ cho cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam, bên cạnh tiếp tục sáng tác Dân ca Khu V, anh tự mày mò và sáng tác những bài Cải lương Nam bộ trực tiếp phục vụ cuộc kháng chiến ở Nam bộ và kể cả các làn điệu Chèo để phục vụ nhân dân miền Bắc. Hòa bình, thống nhất, thoát khỏi giai đoạn “ẩn sỹ”, Hồng Mão về làm Phó ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến năm 1988, anh được điều động vào làm Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam 2 tại thành phố Hồ Chí Minh (về sau là Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam ở phía Nam). Năm 1996, Hồng Mão chính thức nghỉ hưu và đến 2007, anh về định cư tại quê nhà (Thành phố Quảng Ngãi).

            Với một bài viết ngắn, thật rất khó để tái hiện đầy đủ chân dung một nghệ sĩ đa tài, đa diện như Hồng Mão. Suốt cuộc đời gắn bó với sự nghiệp sáng tác và biểu diễn dân ca, là một trong những người đặt viên gạch đầu tiên cho Chương trình Dân ca nhạc cổ của Đài Tiếng nói Việt Nam, có thể nói, Hồng Mão là một nghệ nhân thực thụ có công lớn trong sự nghiệp giữ gìn và phát triển dân ca và nhạc cổ truyền dân tộc. Ở đây, chúng tôi xin chỉ được khắc họa chân dung thơ Hồng Mão.

            1. Sinh năm Canh Ngọ (1930), anh tự ví mình là “con ngựa gian truân” trên nẻo đường vặn dặm của thơ ca, nghệ thuật. Hồn thơ của anh chỉ thực sự được khai thông trở lại sau khi đất nước thanh bình, đặc biệt là những năm tháng giã từ công việc để về lại với quê hương. Xét về thơ, những bài thơ hay của anh chính là những bài viết về quê hương yêu dấu của mình. Anh yêu quê đến tưởng chừng như suốt cả thời gian xa quê của cuộc đời mình lại chỉ càng khiến cho lòng yêu quê hương thêm sâu sắc. Điều này lý giải vì sao, công tác lâu năm ở Hà Nội, con cháu đã định cư ở Thủ đô mà khi rời thành phố Hồ Chí Minh về hưu, hai vợ chồng già dắt díu nhau về định cư bên bờ Nam sông Trà Khúc! Cái tâm trạng trở lại quê hương của anh quyện chặt với những kỷ niệm khôn nguôi về một thời quá khứ khổ nghèo:

Con về cha khuất núi rồi

Mẹ thân yêu đã về nơi vĩnh hằng

Chị - Anh rời bỏ trần gian

Mang theo bao nỗi nhọc nhằn khổ đau.

“Khổ đau” là thế sao anh lại tự nguyện trở về với cái nơi đã từng đau khổ ấy? Đó chính là cái tình quê. Đọc hai câu thơ này của anh, ta mới hiểu hết cái tình nghĩa thẳm sâu của hai tiếng quê hương thiêng liêng réo gọi:

Buồn vương - một cánh chim trời

Về quê - nhưng phải tìm nơi ngủ nhờ (Về quê).

Không ngoa ngữ chút nào đâu, tôi xin cam kết với mọi người rằng, đây là hai câu Lục bát đầy hồn vía quê hương, lay động cả đến nơi sâu thẳm nhất của trái tim người đọc. Hòa bình, thống nhất về với quê, nhưng mẹ cha, người thân đã biệt bóng; ngôi nhà cũ cũng chẳng còn, phải tìm chỗ để ngủ nhờ trên chính quê hương mình… mới thấy hết cái sự hy sinh của những con người dấn thân đi làm cách mạng, nhận thức đến ý nghĩa tột cùng của lòng yêu tha thiết quê hương. Đúng là:

Gần sáu mươi năm cách biệt

Cuối đời - về với quê hương (Thành phố Quảng Ngãi trong tôi).

Hòa bình, về quê, anh cảm nhận một cách đớn đau cảnh xác xơ của quê hương sau cuộc chiến; những thắng cảnh kỳ vĩ, thơ mộng của một thời, nay phủ ngập một màu tang tóc:

Sơn Mỹ phủ trắng màu tang

Sông Trà cạn dòng nước bạc

Thiên Bút phê vân ngơ ngác

Thiên Ấn niêm hà ưu tư

Đâu còn câu hát hố, bài chòi

Khúc ca buồn vương phố thị

Tan nát La Hà kỳ vĩ

Rào gai khóa chặc con tim (Thành phố Quảng Ngãi trong tôi).

            Nhưng rồi gian khổ cũng đi qua, dù còn lắm những gian nan trên bước đường dựng xây đất nước, nhưng Hồng Mão vẫn vững một lòng tin tưởng vào con đường phía trước của quê hương:

            60 năm, xa mẹ, xa cha

            60 năm, bàn tay ta tự lập

            60 năm, vượt đạn bom, áo cơm, bão táp

60 năm, vun đắp một mối tình

Phía trước Quê hương vẫy gọi Em và Anh (60 năm một mối tình).

            Trong bức thư tay anh gửi tôi đề ngày 09/11/2017 - những ngày Quảng Ngãi và quê hương miền Trung ngập chìm trong biển lũ của cơn bão số 12, “nằm nhà mà ngắm mưa rơi”, anh “càng nhận biết nỗi khổ đau của bà con miền Trung quê mình”, và thơ đã đến với anh trong nỗi đau của “con ngựa già” những ngày hưu trí mà trí chẳng thể hưu:

Khi sông Hồng đón gió mùa Đông Bắc

Lúc Cửu Long con nước bắt đầu ròng

Là mưa dầm ập đến miền Trung

Là bão tố uốn cong vùng đất hẹp.

            Trong thư, anh cũng lo cho tôi trong bối cảnh tình hình xã hội và thơ ca đương đại sẽ khó viết về anh. Anh tâm sự: “Hồng Mão… Không phải Hồng từ Đầu mà toàn thân đều nhuốm màu Hồng và Hồng từ những ngày còn chập chững bước vào làng thi ca (1954)… nên anh có thể đọc được Niềm tin của tôi vào Đảng và Bác, dân tộc, đất nước trước sau như một. Tôi biết với tình hình hiện nay,… vấn đề này có gây khó khăn, suy nghĩ khi hạ bút viết về một người như tôi, nhưng tôi tin anh…”. Đọc thư anh, càng thấy thương quý tình anh đối với một kẻ hậu sinh như tôi. Nhưng anh không lo, chính thơ anh là giọt máu hồng đọng mãi trong thế hệ hậu sinh một tình yêu quê hương thiết tha và bất diệt:

Phiêu dạt mười phương

Cuối đời - con lại về bến Tam Thương quê mẹ

…Tam Thương… Tam Thương

Đọng mãi trong tôi một giọt máu quê hương (Bến Tam Thương).

            Giọt máu quê hương” đọng lại trong anh chính là cái “Bến Tam Thương” nơi anh sinh trưởng, là một giọt máu hồng trên bản đồ chữ S Việt Nam. Hồng từ Đầu đến cả toàn thân như anh cũng đáng một màu hồng làm sáng lên chất thơ của một hồn thi sĩ. Người Cộng sản chân chính chính là người thi sĩ nhất vì họ rung cảm cùng và nói lên được nỗi đau của đất nước, con người. Hồng được như thơ anh cũng xứng đáng để thế hệ chúng tôi học cách hồng anh Mão ạ!

            Không chỉ nặng nợ ân tình với nơi chôn nhau cắt rốn, hồn thơ Hồng Mão còn chan chứa tình thương yêu trên mọi nẻo quê hương. Từ “đỉnh Fansipan lộng gió” “đến với Sa Pa” - “thành phố trong sương”, xuôi tận chót “Mũi Cà Mau… đón gió Thái Bình Dương”… qua “Tuần Châu bạc đầu sóng gọi”, lên “Đà Lạt tôi yêu… với màu hoa Dã quỳ vàng” và đặc biệt là về với thủ đô ngàn năm văn vật:

Chưa được một giờ bay

Anh và em

Đã chạm tay vào năm cửa ô Hà Nội (Chạm tay).

Và vân vân các miền quê khác. Điều này cũng dễ hiểu bởi khi sáng tác dân ca của cả ba miền, ắt hẳn người viết phải lắng lòng mình để hiểu sâu về vùng đất ấy mới gợi mở trái tim cất tiếng gọi thi ca.

2. Suốt cuộc đời dấn thân theo con đường cách mạng, cũng như chính cuộc đời mình, thơ Hồng Mão dù có những lẫn lộn vui buồn trước cuộc đời dâu bể vẫn sáng tươi những giọt hồng thủy chung, son sắt. Đó là “Một mối tình” đã gắn bó giữa tình riêng với nghĩa chung trên suốt cuộc hành trình dài dằng dặc:

Hồi nhớ lại tháng ngày rời quê mẹ

Để lại sau lưng nắng xế trăng tà

Trà Khúc, Lại Giang nước pha máu lệ

Nửa thân mình Tổ quốc - mù sa.

Đường tập kết đưa ta ra miền Bắc

Anh về Thủ đô - Em dạt Thành Nam

Nhớ quê nội, buồn thương dằn vặt

Cái rét đầu đời, quặn thắt tim gan (Một mối tình).

Đó là người luôn luôn đặt lợi quyền của Tổ quốc, nhân dân lên hàng đầu với những vần thơ sảng khoái niềm tự hào như một lời tuyên ngôn thủy chung cùng đất nước:

Việt Nam

Dân tộc hiền như đất

Trước lũ xâm lăng - không bao giờ cúi mặt

Biết thắng quân thù khi chúng dám can qua (Biển ta đó ).

            Gắn bó với sự nghiệp chung, Hồng Mão đã có những vần thơ đầy ân tình cùng Đảng cho dù anh thừa biết trên con đường đi tới ắt vẫn sẽ còn lắm vất vả, gian truân:

Là những người yêu nước, thương dân

Mang nặng trong lòng trái tim Cộng sản

Chưa thể yên vui, khi trong vùng ánh sáng

Lãng đãng mây đen, loáng thoáng sóng ngầm

Giữa dòng đời còn lắm chuyện thương tâm

                                         (Trường ca Đất nước, Nhân dân và Đảng).

Với lãnh tụ Hồ Chí Minh, cảm nhận sâu sắc sự nghiệp cùng đức độ của Người, Hồng Mão đã có những áng thơ rất “hồng” nhưng cũng rất dịu dàng ghi nhận một cách thật thà về một con người mà tư tưởng và đạo đức tỏa rạng khắp thế gian như “một vồng sen đỏ”, sống mãi với thời gian dù mưa nắng bốn mùa:

Trời ngả nắng vàng đưa Hà Nội vào thu

Nắng ấm quanh lăng để Bác Hồ yên ngủ

Lăng của Người như một vồng sen đỏ

Nở suốt bốn mùa… con cháu tụ về đây (Hà Nội trong tôi).

            Năm 2016, khi cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tĩnh đăng bài thơ “Đất nước mình ngộ lắm phải không anh?” gây xôn xao dư luận. Kẻ khen cũng lắm người chê cũng nhiều. Tôi thử trích bốn câu kết:

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết em làm sao biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu...

Với sự mẫn cảm của một hồn thơ và là một hồn thơ “hồng” một niềm tin về dân, về Đảng, dù chỉ là một cán bộ hưu trí bình thường, Hồng Mão vẫn không thể lặng yên, anh lập tức có thơ trả lời câu hỏi đặt cuối bài thơ của cô giáo trẻ:

Đất nước mình “Ngộ” lắm đó… phải không?

Một ngàn năm trong vòng “Bắc thuộc”

Vẫn vẹn nguyên điệu hát chèo tha thướt

Thấm đượm lời ru thao thức đêm đêm…

… Đất nước mình “Ngộ” lắm phải không em

Dẫu biết hy sinh, vẫn tìm về phía trước

Cỡi áo trao nhau khi lìa Tổ quốc

Nắm đất mang theo để nhớ nước, nhớ nhà

                                     (Đất nước mình “Ngộ” lắm phải không em!).

            Đúng là những vần thơ rút ruột viết ra, thấm đượm sắc hồng suốt một cuộc đời thủy chung cùng đất nước.

3. Trở về với cuộc sống thường ngày, Hồng Mão là một người nghệ sĩ trọn vẹn ân tình trong lòng bè bạn, trọn đạo nghĩa vợ chồng và tình yêu thương con cháu. Nói với cháu con, Hồng Mão cũng thủ thỉ bằng một chất liệu giáo dục vừa nhẹ nhàng vừa đầy tình cảm và trách nhiệm. Với con:

Nhìn con mình ăn cháo trắng mà thương

Mặc áo vá đến trường cùng chúng bạn (Một mối tình).

Với cháu:

Ông đã đi - đi khắp ba miền

Một góc quê cha chìm trong nỗi nhớ

Mái tóc xanh hoen màu đạn lửa

Đêm nằm mê súng nổ quanh mình

…Cháu nội ông bà cầm tinh con ngựa

Nước có giặc phải là chiến mã

Đất bình yên phải hóa rồng vàng (Ông và cháu).

Trong tình cảm riêng tư dù lỡ mối duyên đầu, đến với lương duyên mới, anh vẫn thật thà tâm sự, nói thật lòng mình như một sự hàm ơn:

Gần suốt cuộc đời - Anh mang nặng tình em

Lỡ bước sang ngang - gặp thuyền nhân ái

Sáu mươi năm buồn vui trang trải

Thắp sáng chữ Tâm, một cõi Đi. Về (Một mối tình).

            Và anh cũng không thiếu những câu thơ rất trẻ trung và đầy lãng mạn về tình yêu thủy chung son sắt ấy:

Một ngày em vắng nhà

Căn phòng tia nắng át

Một tuần em vắng nhà

Bữa cơm ăn lưng bát

Một tháng em vắng nhà

Giấc ngủ chẳng tròn canh

Một năm em vắng nhà

Trái tim anh muối xát (Nắng rát).

            Với bạn bè, đặc biệt là những bạn thơ, anh dành cho họ một sự tri âm và trân trọng không phân biệt thứ bậc, tuổi tác, sang hèn. Phải là một người thơ thực thụ, Hồng Mão mới cảm nhận được để trút nỗi nhớ thương, kính trọng của mình với những bậc tài danh, vừa khái quát vừa cụ thể ân tình:

Lưng tựa tháp Chàm nhớ Chế Lan Viên

Về Vỹ Dạ không quên Hàn Mặc Tử

Vượt núi leo đèo đọc thơ Tố Hữu

Hồn Nguyễn Du mát rượi đến nao lòng

Thơ tình gửi em viết dưới tán rừng

Câu nhớ câu thương vấn vương Xuân Diệu

Nghe tiếng hát tuồng giãi bày trung hiếu

Đào Tấn Mãi còn với điệu Nam Xuân (Khúc ruột miền Trung).

*

            Có thể nói, phần lớn thơ Hồng Mão thuộc dạng thơ chính luận, gắn chặt với hiện tình đất nước, thở trong hơi thở của cuộc đời, cho nên thơ anh nặng về chất tự sự. Điều này cũng dễ hiểu bởi xuất phát điểm của hồn thơ anh là làm thơ để hát lên là chính. Nhưng cho dù nặng chất tự sự của dân ca, Hồng Mão vẫn có những bài, những đoạn những câu đủ sức níu giữ chất thơ giữa bộn bề sự kiện. Đã gần 90 tuổi đời, Hồng Mão vẫn khiêm tốn thốt lên những lời thơ, mà theo tôi, mỗi giọt thơ anh là một giọt hồng ngời lên sắc đỏ thủy chung, đầy tình cảm và tinh thần trách nhiệm trước vận nước, trước cuộc đời:          

Hãy làm một đóa hoa

Dẫu hương tàn sắc nhạt

Đừng làm chiếc lá bạc

Quay cuồng trong gió hoang (Gởi cô gái thành đô).

           

                                                   Xóm Chòi Dầu, Quảng Ngãi sáu Bão số 12/2017

 

TRANG THƠ HỒNG MÃO

 

NẮNG RÁT

Một ngày em vắng nhà

Căn phòng tia nắng át

Một tuần em vắng nhà

Bữa cơm ăn lưng bát

Một tháng em vắng nhà

Giấc ngủ chẳng tròn canh

Một năm em vắng nhà

Trái tim anh muối xát.

                        Tháng 02/1994

 

ĐÀ LẠT TÔI YÊU

Đà Lạt tôi yêu

Thành phố của ngàn hoa

Sáng phơ phất hương xuân

Trưa nắng hè oi ả

Chiều nghiêng giọt mua thu

Đêm - sương giá giăng màn

 

Đà Lạt tôi yêu

Thành phố thở gió ngàn

Màu hoa Dã quỳ vàng “Đồi thông hai mộ”

Đôi tình nhân sánh vai bên “Hồ Than Thở”

“Thiền viện Trúc Lâm”, chuông chiều đổ thu không

Đêm nằm nghe

“Thác Prenn” hối hả tuôn giòng

 

Đà Lạt tôi yêu

Hoa phượng tím đường cong góc phố

Cô gái học trò, tóc cài hoa phượng nở

Gió đẩy đưa - hoa cặp bờ môi

Tiếng ve râm ran… trỗi khúc nhạc đường đời

 

“Cam ly! Cam Ly!”… mùa mưa nước nổi

Bọt trắng tung bay

Vương mái nhà ai… phố, vườn, đồng nội

Gieo mát lành - xua bớt nỗi gian lao

Đà Lạt vươn cao… Rộng cánh tay chào

Khách muôn phương về với Đà Lạt ngàn hoa đang nở rộ

 

Thành phố của Cao nguyên

Đêm đêm điện thay trăng sáng tỏ

Nâng bước em đi quanh “Hồ Xân Hương”

Huyền ảo mơ màng

 

Đà Lạt tôi yêu

Dẫu hoa tàn… vẫn sực nứt mùi hương…

                                      Đà Lạt, tháng 7/2016

 

 

 

ĐẤT NƯỚC MÌNH “NGỘ” LẮM PHẢI KHÔNG EM!

Đất nước mình “Ngộ” lắm phải không em

Bốn ngàn năm - đi trên đất bỏng

Bốn ngàn năm - vượt qua biển động

Vang vọng câu hò - Hy vọng - Ước mong…

 

Bão tố không sao ngăn được Lạc Long

Tay bế tay bồng đàn con xuống biển

Mười tám vua Hùng đất Rồng Tiên bay liệng

Một cõi Văn Lang - Văn hiến Lạc Hồng

 

Đất nước mình “Ngộ” lắm đó… phải không?

Một ngàn năm trong vòng “Bắc thuộc”

Vẫn vẹn nguyên điệu hát chèo tha thướt

Thấm đượm lời ru thao thức đêm đêm

 

Đất nước mình “Ngộ” lắm phải không em

Cọc Bạch Đằng giang xuyên tim bầy giặc Thát

Một Quảng Trung - quân nhà Thanh tan tát

Chui rúc ống đồng mong thoát thân… hèn

 

Đất nước mình “Ngộ” lắm phải không em

Dẫu biết hy sinh, vẫn tìm về phía trước

Cỡi áo trao nhau khi lìa Tổ quốc

Nắm đất mang theo để nhớ nước, nhớ nhà

 

Đất anh hùng vang mãi khúc quân ca

Triệu triệu con người xông ra tiền tuyến

Thân xác chôn vùi lòng sông đáy biển

Rực sáng lên… hai tiếng Việt Nam

 

Đất nước mình “Ngộ” lắm đó… phải không?

Pháp, Mỹ cuốn cờ, Bắc Nam chung đất Tổ

Đảng tiên phong - vầng dương chói lọi

Việt Nam ơi! Một cõi Đi… Về

 

Đường đời… tránh sao được tiếng Khen, Chê

Chỉ mong em tìm về vùng sáng

 

Tìm nhân tài - khi quê hương vượt cạn

Tìm yêu thương trong thác loạn xa hoa

Tìm nụ cười khi bóng xế trăng tà

Tìm niềm vui lúc đường xa gánh nặng

 

Đời là thế! Đảng ta là thế

Sinh ra đâu phải để sống nhờ

Nếm trải đắng cay mới tìm được bến bờ

Vinh - Nhục - Nghèo - Giàu đang chờ ta phía trước

 

Bốn ngàn năm lao đao dựng nước

Bốn ngàn năm quyết vượt đầu thù

Mỗi tấc đất giang sơn – một dòng máu đổ

“Ngộ” lắm phải không em? Hoa sen đỏ Việt Nam

 

Phía trước chúng ta… Còn lắm thác ghềnh

Dẫu là đường cao tốc - vẫn còn ổ gà - ổ voi đứt gãy

Mong em góp phần làm sạch đường quang bến bãi

“Ngộ” lắm phải không em? Người con gái Việt Nam

 

                                                            Tháng 6/2017.

 

 

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· NGHĨ TỪ THƠ TỰ DO
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· LƯU QUANG VŨ - VẪN TIẾNG LÀNG, TIẾNG NƯỚC CỦA RIÊNG TA
· HÌNH TƯỢNG MA NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIẾT
· ĐỂ NGƯỜI TRẺ ĐỊNH VỊ MÌNH TRONG THI CA
· LÊ LỰU - HOÀI VỌNG VÀ CÔ ĐƠN
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· LỐI ĐI TÂM LINH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
· LÊ THANH PHÁCH - "HỒN NEO ĐẬU BẾN SÔNG QUÊ"
· TÀI THÔI MIÊN CỦA NHÀ VĂN PHẠM CAO CỦNG
· CHÙM THƠ PHẠM CÔNG TRỨ
· HOÀNG CẦM - GÃ PHÙ DU KINH BẮC
· CHÙM THƠ CỦA NGUYỄN KHÁNH DUY
· CHIỀU CỔ LOA NỔI GIÓ
· CHÙM THƠ ALĂNG VĂN GÁO
· HUYỀN THƯ - BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG MANG THEO CẢ NỖI NIỀM XỨ SỞ
· BÙI GIÁNG - 20 NĂM "VỀ CHÍN SUỐI ĐÁ VÀNG"
· TỪ KẾ TƯỜNG - CÒN NHỮNG ĐÁM MƯA TAN TRONG MẮT
· LÀNG QUÊ CỦA MỘT HỒN THƠ

 

  
Gia đình Bích Khê