DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGHĨ TỪ THƠ TỰ DO


thanh thảo

                           

Thơ văn xuôi – nói đúng hơn là thơ tự do – mà sự xuất hiện đã được Ioxip Brodski (thi hào Nga – giải Nobel) giải thích một cách chí lý: “Thơ tự do, một cá nhân nào đó muốn sử dụng nó thì phải đi qua lịch sử của thơ vận luật trước khi anh ta giải phóng chính bản thân anh ta khỏi nó”. 

Vậy thì điều kiện đầu tiên để có thơ tự do là chủ thể làm thơ phải tự do. Thế nhưng, chủ thể làm thơ vận luật lại không tự do sao? Có nhà thơ đích thực nào lại không tìm được sự tự do trong tâm hồn khi làm thơ? “Thân thể tại ngục trung – Tinh thần tại ngục ngoại” (Hồ Chí Minh) cơ mà!

Có lẽ, ở đây I.Brodski muốn nói đến sự giải phóng khỏi những lề luật của thơ vận luật, một sự giải phóng không thể đến trước khi có ý thức về sự giải phóng cá nhân trong xã hội. Vận luật, niêm luật của thơ, nói cho cùng cũng là một thứ chế tài, một thứ yên cương đóng vào những cấu trúc chữ, nhằm tạo ra những con đường riêng, thiết lập những “cổng” riêng mà rất nhiều phong cách thơ có thể đi qua, có thể “chung đường” dù họ là những kẻ lữ hành xa lạ với nhau. Có lẽ, một đứa trẻ khi bắt đầu với Thơ, nó “nói” những câu thơ tự do, nhưng khi bắt đầu có ý thức “làm thơ” nó lập tức lại trở về với thơ vận luật, cố làm thơ cho đúng vần đúng nhịp. Ấy là khi nó bắt đầu có ý thức về những quy định, là khi những lề luật bắt đầu khống chế nó. Tới khi nó trở thành một nhà thơ, thì vận luật đã đi vào vô thức, đã hằn những “rãnh” trên tư duy sáng tạo, và cho dù có yên cương, thì những con ngựa hay vẫn là những con ngựa hay, nhiều khi “yên cương” niêm luật lại trở thành một thách thức, một đập chắn để dòng nước tự chứng tỏ được sức mạnh của mình. Nhưng là nhà thơ, bao giờ cũng nuôi khát khao vượt thoát một cái gì. Cái gì đó có khi chính là chữ, là vần, là nhịp, là nhạc, là tất cả những gì tạo nên cái vỏ vật chất của bài thơ. Khát khao vượt thoát, ý hướng tự giải phóng đó gặp được một hình thức thích hợp: đó là thơ tự do. Chính sự liên kết lỏng lẻo giữa các chữ, những khoảng trống giữa các câu, những kết nối mập mờ giữa phần lộ của nghĩa và phần ẩn của chữ, những nhạc điệu vượt ra ngoài ý nghĩa bài thơ, dường như có một giá trị độc lập tương đối nào đó… tất cả đã là tiền đề để có thơ tự do. Tiền đề ấy có sẵn trong những bài thơ Đường nghiêm nhặt nhất về niêm luật, hay trong những sonnet mười bốn câu chặt chẽ.

Về thể thơ, thì thơ tự do là kết quả của một quá trình phát triển rất lâu dài của hình thức thơ. Nhưng về thực chất, thơ tự do đã tiềm ẩn ngay từ khi nhân loại biết làm thơ, từ khi thơ có thể tách khỏi âm nhạc mà vẫn tồn tại được. “Nghệ thuật là sự giải thoát cho vật chất”. Hình như Octavio Paz đã nói như vậy, câu ấy rất đúng với Thơ. Mà đã được “giải thoát” nghĩa rằng đã có “tự do”, đứng về mặt nào đó.
Nhưng một khi đã có thơ tự do, đã làm được thơ tự do, thì nhà thơ đừng bao giờ quên rằng, tự do tâm hồn mình, tự do tư duy mình mới là cái “tự do đầu tiên và cuối cùng”, nó quyết định cho thơ tự do của mình có thật sự tự do không. Chứ nếu chỉ đánh vật với lời chữ, chỉ “tân hình thức” một cách rắc rối và vô bổ trong khi không biết mình đang “múa gậy trong bị” một cách thê thảm, thì chẳng bao giờ nhà thơ có được thơ tự do đúng nghĩa. Và cao hơn, có được tự do đúng nghĩa cho cuộc đời mình.

Sự phát triển những hình thức thơ tân kỳ trên thế giới, giờ đây đã có mặt trong thơ Việt Nam. Đó cũng là một biểu hiện của hội nhập, của một  “thế giới phẳng về…Thơ” nào đó mà lâu nay chúng ta ít nói tới, trong khi lại nói nhiều về kinh tế trong mô hình thế giới này.

Nhưng Thơ khác kinh tế. Lịch sử cho thấy, một khi những phát triển hay thay đổi về hình thức câu thơ đi trước sự thay đổi của nội dung câu thơ, thì thơ dễ dàng đi vào bế tắc. Sự thay đổi về nội dung câu thơ bao giờ cũng chậm hơn sự thay đổi về hình thức câu thơ. Trong khi nhiều nhà thơ hăng hái cách tân hình thức thì lại rất quanh quẩn về nội dung. Có một dạo, tình hình biển đảo Việt Nam nóng lên, chúng ta được đọc nhiều bài thơ viết về đề tài này, với hình thức thơ không mới không cũ. Nhưng nội dung thì lặp lại, dẫm chân lên nhau, thậm chí có bài thơ lại hai người tranh nhau bản quyền, có thể vì nó giống nhau quá. Điều đó cho thấy, một khi ngọn lửa của lòng yêu nước cháy không đủ mạnh, thì thơ về đề tài này vẫn thiếu sức thu hút và lan tỏa. Bây giờ, khi gần như không còn những đề tài “cấm kỵ” trong thơ như hồi xưa, thì xem ra, thơ tình quanh quẩn lại lên ngôi, trong khi dòng thơ gọi là “thế sự” giảm hẳn. Thơ viết về người dân nghèo, người nông dân càng thưa vắng hơn. Truyền thông mạnh mẽ đưa chức năng giải trí lên hàng đầu, như ẩn một thông điệp: “ cứ vui chơi nào, và quên đi”. Quên cái gì, thì những nhà thơ tử tế đều biết.

Sự tự do trong thơ là không định hướng, nhưng rất cần một cốt lõi. Cốt lõi ấy, với nhà thơ Việt, là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước, là sự tìm về với cội nguồn nhân dân. Và khởi đầu là tư tưởng nhân văn. Kỷ niệm 50 năm Mậu Thân, nhìn lại mới thấy sự hy sinh của nhân dân là vô cùng kinh khủng. Chỉ ca ngợi chiến thắng, mà không nhìn thấy sự hy sinh kinh khủng đó, thì không phải nhà thơ. Thấm nhuần tư tưởng nhân văn trong Thơ, chúng ta có thể hội nhập với thế giới bằng chính trái tim mình. Chỉ cần có lòng yêu nước, có tình yêu thương thật sự với nhân dân mình, chúng ta có thể khẳng định bản chất và bản lĩnh Việt Nam trong thơ trước thế giới. Càng hội nhập, thì lại càng phải dân tộc. Về nguồn, là để ra biển. Không ai tặng quà tự do cho mình cả, tự mình phải có nó, phải tự sắm nó như một thành phần tất yếu trong bản thể, và trong thơ mình. Khi những bức xúc xã hội, những đau đớn của nhân dân, những nguy cơ của đất nước không hề đi qua bộ lọc của nhà thơ, khi nhà thơ đặt “tường lửa” trước tâm hồn mình, thì phải xem lại nhân cách và lương tâm của nhà thơ. Nhà thơ, nghĩ cho cùng, cũng là một người bình thường, một công dân bình thường. Nhưng họ làm thơ. Và thơ họ, thì không thể bằng lòng ở mức “thường thường bậc trung”, ở mức “dĩ hòa vi quí” được.         

 

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· LƯU QUANG VŨ - VẪN TIẾNG LÀNG, TIẾNG NƯỚC CỦA RIÊNG TA
· HÌNH TƯỢNG MA NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIẾT
· ĐỂ NGƯỜI TRẺ ĐỊNH VỊ MÌNH TRONG THI CA
· LÊ LỰU - HOÀI VỌNG VÀ CÔ ĐƠN
· CHÙM THƠ LÊ THANH HÙNG
· LỐI ĐI TÂM LINH TRONG THƠ HOÀNG CẦM
· LÊ THANH PHÁCH - "HỒN NEO ĐẬU BẾN SÔNG QUÊ"
· TÀI THÔI MIÊN CỦA NHÀ VĂN PHẠM CAO CỦNG
· CHÙM THƠ PHẠM CÔNG TRỨ
· HOÀNG CẦM - GÃ PHÙ DU KINH BẮC
· CHÙM THƠ CỦA NGUYỄN KHÁNH DUY
· CHIỀU CỔ LOA NỔI GIÓ
· CHÙM THƠ ALĂNG VĂN GÁO
· HUYỀN THƯ - BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG MANG THEO CẢ NỖI NIỀM XỨ SỞ
· BÙI GIÁNG - 20 NĂM "VỀ CHÍN SUỐI ĐÁ VÀNG"
· TỪ KẾ TƯỜNG - CÒN NHỮNG ĐÁM MƯA TAN TRONG MẮT
· LÀNG QUÊ CỦA MỘT HỒN THƠ
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· NGÔ MINH - NGỰA ĐÁ VÀ NHỮNG BÔNG HOA CỎ

 

  
Gia đình Bích Khê