DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGUYỄN THY PHƯƠNG - THẦM LẶNG DUYÊN QUÊ VÀ LÓE SÁNG MỘT NỖI NIỀM TRIẾT LÝ

 

- MAI BÁ ẤN

 

            Xuất hiện trước đám đông với trang phục tuềnh toàng cùng vẻ trầm tư pha một chút ngơ ngẩn, đó là Nguyễn Thy Phương. Nhưng khi đã vào cuộc thơ thì anh lại say thơ hơn cả người say rượu. Những lúc ấy, anh xem thơ là độc nhất, là một thiêng liêng bất khả xâm phạm. Anh đọc thơ đến say mê quên hết mọi thứ chung quanh và quên ngay cả bản thân mình. Ai mới gặp Nguyễn Thy Phương lần đầu, chưa hiểu tính anh thì một trong hai người sẽ dễ nảy ra xung đột. Anh sẽ xung đột trước nếu người mới gặp ồn ào chẳng chịu nghe thơ, xem thường thơ. Và người mới gặp sẽ xung đột trước nếu không chịu nổi những cơn say thơ đến quên cả trời đất của anh. Và vì thế, nếu hiểu được những phút giây say say tỉnh tỉnh của anh:

Những đêm say khướt trước thềm nhà

Ôm bóng nguyệt đang hôn giàn thiên lý

Có tỉnh say mới thấy mình thú vị

Hỡi gió trăng, mưa nắng bạn và ta (Say thi nhân).

và chơi thân cùng anh, ta sẽ được đón nhận ở anh những tình cảm rất chân thành.

            Sinh năm 1952 tại Nghĩa Thương, Tư Nghĩa, rồi vì hoàn cảnh gia đình, năm 7 tuổi, anh lại được gửi về quê ngoại Nghĩa Hiệp để được chăm nom. Tuổi thơ khổ nghèo, vất vả, chàng thanh niên Nguyễn Hiên (tên thật của anh) đã sớm giác ngộ cách mạng và dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đất nước hòa bình, anh tham gia phụ trách công tác Đoàn Thanh niên và sau đó chuyển sang làm Trưởng phòng Thể dục - Thể thao huyện Tư Nghĩa. Viết về Nguyễn Thy Phương, tôi chợt nhớ lại lương duyên gặp gỡ giữa anh và tôi cách đây đã hơn 30 năm chẳn. Đó là dịp Huyện Tư Nghĩa tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng (1975-1985), anh nhờ tôi viết thuyết minh và điều hành cuộc diễu hành mừng lễ. Vậy là, trên chiếc Honda Đăm thiếu nhớt, anh chở tôi đi khắp các xã trong huyện để lấy tư liệu thuyết minh. Nhiều lúc xe quá nóng máy, phải dừng lại xin nước để tạt vào cho máy nguội rồi chạy tiếp. Những năm tháng ấy, đời sống tuy nghèo khó mà vô cùng đẹp đẽ. Cái vô tư của người cán bộ phong trào gặp cái vô tư của một người cầm bút đã giúp chúng tôi góp phần cùng lãnh đạo huyện tổ chức một buổi lễ hoành tráng và thành công mà sau này dân Tư Nghĩa, ai ai cũng nhớ… Những ngày gần gũi ấy, tôi đã biết anh là người mê thơ, thuộc lòng đến từng bờ tre, gốc rạ trên từng địa bàn cụ thể của quê hương mình. Tôi nghe anh kể chuyện xưa mà cứ tưởng như mình lạc vào huyền thoại. Và tôi nghĩ, thơ Nguyễn Thy Phương phát nguồn từ nơi ấy. Đó là những chuyện ruột rà thuộc về quê hương mà cứ hễ thoát nó ra thì thơ anh cứ như con chim mất đi đôi cánh (muốn bay mà bay không lên được chỉ còn biết chạy, mà đã là chạy thì nhất định không phải thuộc tính của loài chim). Hơn 30 năm qua, đọc những sáng tác của anh, tôi nhận thấy, những cảm nhận ban đầu của mình về thơ anh ngày càng chính xác.

            Cũng như mọi nhà thơ, anh viết về nhiều chủ đề, nhưng dù có viết về chuyện đời, chuyện tình hay miên man cùng những triết lý sống mà mình chiêm nghiệm… thì anh cũng chỉ thành công khi đặt nó trên nền tảng của những cảm nhận đã thành máu thịt, ruột rà của chính cuộc đời anh với cái vùng quê mà anh sinh ra và thuỷ chung cả một đời. Mới đây, khi giới thiệu anh đọc thơ tại đêm Nguyên tiêu Đinh Dậu (2017), tôi đã từng viết: “Gắn bó một đời với dòng sông quê hương - dòng Vệ giang yêu dấu, thơ Nguyễn Thy Phương có đi xa về gần gì rồi cũng là những hoài niệm về câu chuyện một dòng sông”. Và đúng như vậy, anh đã cảm nó từ cội nguồn của những ngày cha ông khai nghiệp:

Nhớ khi người khai khẩn đất hoang

Trông viễn xứ mây hồng ngôn ngữ

Chính lúc ấy ca dao - tục ngữ

Cũng hình thành theo cánh võng nên thơ (Tình khúc dòng sông).

Có thể nói, đây là những câu thơ có cánh mà Thy Phương chỉ có thể làm ra trong trạng thái thăng hoa hiếm hoi của cảm xúc. Dòng sông Vệ vốn gần gũi bình thường gắn liền với những cánh đồng quê cùng những bến đò ngang dân dã bỗng chốc hóa thân thành dòng sông lung linh trong “mây hồng ngôn ngữ”, rất phù hợp với không khí huyền thoại về quá khứ của một thời lập đất khẩn hoang.

Tuổi thơ Nguyễn Thy Phương được ngoại hời ru theo nhịp võng bên rặng tre ven bờ sông Vệ và dắt dìu những bước đầu đời, chính vì lẽ đó, khi nghĩ về quê hương, anh nghĩ ngay đến hình ảnh bà ngoại với những vần lục bát vừa khoan thai như nhịp võng đưa lại vừa đằm sâu bằng một giọng triết lý mơ màng:

Mỏi mòn mắt ngoại mờ xa

Trăm năm tuổi thọ chắc là ngoại đi

Bên kia là cái kiếp gì

Mà ai cũng đến cũng đi nhẹ nhàng (Nhà ngoại tôi).

Dù gắn bó tuổi thơ nơi quê ngoại, lòng anh vẫn luôn hướng về nơi quê nội chôn nhau cắt rốn của mình với tất cả những nghĩa ân, cho dù hai quê cách nhau chỉ mấy quãng đồng. Và khi viết về quê hương với những địa danh thân thuộc, thơ Nguyễn Thy Phương vẫn ăm ắp bên trong một nét duyên thầm. Chính nét duyên này khiến những tên đất, tên làng đi vào thơ một cách tự nhiên như gương mặt đoan trang của một cô gái quê sáng lên dưới ánh trăng đêm khi tát nước ven đường:

Con hãy về thăm quê cha bến Lở

Nơi bát ngát đồng xanh lúa mượt mà ru với gió

Cánh đồng Dàng chợ Ngỏ miếng trầu cay

Mùa xương rồng trắng phau màu nước bạc

Trung Hòa vui câu hát tận Trường An

Những đêm trăng làng ta vai nặng gánh

Gà trở canh Tân Quang, Đập Quánh trở mình

Ai tát nước ven đường qua An Tỉnh

Chiếc tàn che nghe sáo vọng vực Hồng (Duyên quê).

            Lớn lên và chiến đấu nơi vùng quê ấy, tất nhiên, ở anh đã nẩy nở những cuộc tình và trở thành những hồi ức long lanh thời tuổi trẻ say mê gắn liền với một quãng đời cay cực của tuổi thơ chân lấm tay bùn. Quá khứ nối liền cùng hiện tại, lúc này, giọng thơ Nguyễn Thy Phương chân chất, thật thà đến đổi rất dễ thương:

Anh bước qua cầu lại gặp em

Em bối rối điều chi dồn trong ánh mắt

Có phải anh cậu con trai ngày nào

Hay mò cua bắt ốc

Bùn toét toe lưng rám nắng mương Chùa

Những đêm trăng hay thích đùa vui

Chơi ú tim đuổi bắt nhau dậy xóm (Duyên quê).

Từ giã xóm làng lên đường chiến đấu, lòng chàng trai vẫn luôn rưng rức nhớ quê sau mỗi trận diệt đồn thù và luôn vững một niềm tin ngày trở về giải phóng quê hương:

Mẹ ơi! lớn lên con làm lính xa nhà

Lửa chiến tranh khét đến từng chân rạ

Mang nỗi đau đi cùng trời cuối đất

Vẫn tin ngày gặp gỡ quê nhà...(Duyên quê).

Với quê hương thời chiến tranh, bằng cảm nhận đớn đau của một người đã từng dấn thân trong cuộc chiến, Nguyễn Thy Phương có những câu thơ thật sự làm lay động lòng người dù anh cũng chỉ cất lên những câu từ chơn chất bắt nguồn từ những câu chuyện của quê hương. Có thể nói không ngoa rằng, chuyện kể về một người thiếu niên mù nhận nhiệm vụ làm mật báo viên và hi sinh ngay chính trên vùng cát quê mình là một bài thơ vừa hiện thực lại vừa như huyền thoại. Bài thơ này, tôi chỉ dám trích ra và xin không phẩm bình gì thêm, vì tự bản thân câu chuyện đã là thơ:

Người hành khất ra đi

Đầu trần và chân đất

Chú Bi ơi! Chú Bi

Chú mù từ thưở bé

Ai vẽ chú con đường

Mà đi không vấp ngã

Lang thang khắp phố phường

Tìm bát cơm, hạt gạo

Nhen lên ngọn lửa hồng…

            Và cái chết của chú Bi đã trở thành “vô cùng” của một sự hi sinh, nở thành bông hoa đỏ tươi trên nền cát trắng:

Một tràng súng liên thanh

Xé tan tành ngực chú

Nơi chú hóa vô cùng

Chợt rực lên màu nắng

Đóa hoa trên cát trắng

Trên quê mình - Nghĩa An (Hoa trên cát trắng).

            Nét duyên quê đằm thắm, chân thành và không gian huyền thoại không chỉ hiện lên ở những bài thơ anh viết về chốn sinh thành của riêng mình mà còn lan tỏa đến những bài thơ viết về quê hương Quảng Ngãi:

Trà Giang ơi! Đâu nỗi nhớ riêng tôi

Bao thế hệ ấm trong nguồn sữa mẹ

Mòn vết thời gian sông trong tôi vẫn trẻ

Con rồng xanh vươn sức sống tình người (Điệp khúc dòng sông).

Cái duyên quê đó chính là “Bao thế hệ ấm trong nguồn sữa mẹ” và cái không gian huyền thoại kia hiện lên rất rõ nét trong hình tượng “Con rồng xanh vươn sức sống tình người” của dòng Trà giang chảy dài theo năm tháng.

Là một người thơ lớn lên từ trong cơ cực của kiếp nông dân nghèo khó, trưởng thành trong máu lửa chiến tranh và trở trăn cùng bao khó khăn trong cuộc sống thời bình, nên ở một góc độ khác, ta nhận ra thơ Nguyễn Thy Phương dù đằm thắm nét duyên quê vẫn sáng lên những triết lý khá bất ngờ và thú vị:

Tắm mẹ cuối thế kỷ

Mẹ cười - nguồn nước xa

Tắm mẹ đầu thế kỷ

Mẹ mừng nước thơm hoa… (Tắm mẹ).

            Giờ giao thừa giữa thế kỷ XX và XXI (2001), có một người đàn ông đã luống tuổi tắm cho người mẹ già để mẹ đón xuân sang quả là một hình ảnh đẹp. Rất thực, rất ân tình nhưng cũng đầy triết lý, trở thành một bài học đạo đức lay động đến tận đáy lòng của mọi người con. Còn với tình yêu lứa đôi, Nguyễn Thy Phương cũng để lại được những vần thơ rất gợi:

Chiều quên tắt nắng lưng đồi

Nhẹ tênh bóng núi, nặng đôi vai gầy

Gùi hoa nắng hội Sơn Tây

Đồi nghiêng em bước ngất ngây trời chiều (Khúc hát rừng xanh).

Bốn câu lục bát đằm thắm duyên quê và say tình đến độ “chiều quên tắt nắng” làm “ngất ngây cả trời chiều” thì đúng là say thơ và say tình như anh thì cũng đáng một lần say. Xen lẫn trong những khúc tình ca lứa đôi chân thành ấy, ta vẫn dễ nhận ra một giọng triết lý rất phiêu bồng của Nguyễn Thy Phương:

Nếu ta hiểu tận ngọn nguồn của gió
Thì yêu chi, nhớ để làm gì…
(Hẹn một ngày mai).

“Yêu chi, nhớ để làm gì”? Không biết! Nhưng chính cái sự tù mù vì “không biết” ấy trong tình yêu, Nguyễn Thy Phương đã đưa đến cho người đọc những vần thơ tình yêu đầy ấn tượng. Đọc thơ Nguyễn Thy Phương, ai cũng dễ nhận ra được những bài thơ hay là những bài đạt đến độ chín muồi về tình và thăng hoa về cảm xúc. Và cũng dễ dàng nhận ra những bài thơ chưa thật sự chín khi anh cố ý nống ra những đề tài mang tính thời sự làm mất đi vẻ tự nhiên của cái nét duyên quê đằm thắm. Chuyên mục “Khuôn mặt Văn nghệ Quảng Ngãi” kỳ này xin giới thiệu trang thơ Nguyễn Thy Phương cùng bạn đọc xa gần.

 

 

CHÙM THƠ NGUYỄN THY PHƯƠNG

 

SAY THI NHÂN

 

Những đêm say khướt trước thềm nhà

Ôm bóng nguyệt đang hôn giàn thiên lý

Có tỉnh say mới thấy mình thú vị

Hỡi gió trăng, mưa nắng bạn và ta

Có những đêm thấy lòng sâu lắng

Bên ngọn đèn trang giấy gọi thi nhân

Người thiên cổ có về cùng ta chăng hỡi!

… Say thật nhiều tất cả một màu xanh

Vuốt mái tóc thấy mình già trước tuổi

Nở môi cười bỗng trẻ lại nhiều hơn.

 

DUYÊN QUÊ

                                                                   

Ngày xưa mẹ dặn - Nhớ nghe con

Mai lớn khôn dù ở nơi nào

Con hãy về thăm quê cha bến Lở

Nơi bát ngát đồng xanh lúa mượt mà ru với gió

Cành đồng Dàng chợ Ngỏ miếng trầu cay

Mùa xương rồng trắng phau màu nước bạc

Trung Hòa vui câu hát tận Trường An

Những đêm trăng làng ta vai nặng gánh

Gà trở canh Tân Quang Đập Quánh trở mình

Ai tát nước ven đường qua An Tỉnh

Chiếc tàn che nghe sáo vọng vực Hồng

Mương ngang đồng xanh ai đứng đó mà trông

Chim vui lượn mặt trời vàng nghiêng bóng

Đón em về ... gánh lúa ngược đường xa

Mẹ ơi! lớn lên con làm lính xa nhà

Lửa chiến tranh khét đến từng chân rạ

Mang nỗi đau đi cùng trời cuối đất

Vẫn tin ngày gặp gỡ quê nhà...

Mẹ ơi!

Mùa xuân về quê ta bến Lở

Làng sống lại rộn ràng khuya sớm

Ruộng lúa xanh xanh đồng vui mùa hợp tác

Ngồi bến Gành nghe mênh mang tiếng hát

Gió nồm man mác thổi hồn con...

Anh bước qua cầu lại gặp em

Em bối rối điều chi dồn trong ánh mắt

Có phải anh cậu con trai ngày nào

Hay mò cua bắt ốc

Bùn toét toe lưng rám nắng mương Chùa

Những đêm trăng hay thích đùa vui

Chơi ú tim đuổi bắt nhau dậy xóm

Lại phút nhìn bỡ ngỡ tim anh

Và em - có phải em?

cô bé thuở nào

qua cầu sợ té

bước lên đò sợ nước chảy đò nghiêng...

Bến Lở ơi! Ngày trước lở duyên

Nay về gặp lại

"Tóc thề trước gió lay lay

Thương em anh sợ gió bay tóc thề"

Nồng nàn thắm đượm tình quê

Quê cha bến Lở ngày về thương thương.

                                      Quê Nội, 1986



TÌNH KHÚC DÒNG SÔNG
                         Tặng Ly Phương.

 

Tình khúc nào ẩn hiện trong anh
Như ngày em qua cầu Sông Vệ
Sông thì cạn- tình sâu như bể
Khó khôn nguôi - Trạm phố một thời gian
Nhớ khi người khai khẩn đất hoang
Trông viễn xứ mây hồng ngôn ngữ
Chính lúc ấy ca dao - tục ngữ
Cũng hình thành theo cánh võng nên thơ
“Mít ngon ngọt múi thơm xơ
Em về sông Vệ không bơ vơ buồn”
Và còn đó- vòng tay kỷ niệm
Chưa sang trang trên giấy học trò
Tình còn đó
Con đò, bến nước
Nơi em qua tìm cuộc sống- cội nguồn
Và còn đó- lúc em buồn
Sông sóng động
Phố quên đèn, trăng cũng lướt nhanh
Kỷ niệm nào riêng giữa em- anh
Mà sông Vệ
Mãi gọi thành Tên gọi.

 

 

TẮM MẸ

Tắm mẹ cuối thế kỷ

Mẹ cười - nguồn nước xa

Tắm mẹ đầu thế kỷ

Mẹ mừng nước thơm hoa…

Gần trăm năm đời mẹ

Đã xây đắp vun trồng

Nguồn nước xanh chất sống

Thơ con hồng màu son.

 

NHÀ NGOẠI TÔI

Nhà ngoại tôi có ba gian

Nằm giữa đồng xanh trải nắng vàng

Những sáng đẹp trời nghe chim hót

Mỗi chiều gió nhẹ cánh diều bay

Tôi về với ngoại năm lên bảy

Từ tuổi thơ ngây mãi đến giờ

Ngoại thường trăn trở những đau thương

Chất chồng nước mắt vầng khăn trắng.

Nhớ khi bom đạn hủy xóm làng

Lưng còng dắt cháu đi chạy nạn

Không quên trang vở chút quà con

Hạt cơm, miếng cháo dành cho cháu

Rau măng ngoại chỉ để phần mình

Mỏi mòn mắt ngoại mờ xa

Trăm năm tuổi thọ chắc là ngoại đi

Bên kia là cái kiếp gì

Mà ai cũng đến cũng đi nhẹ nhàng

Ngoại ơi! Con muốn thời gian

Chậm quay để ánh trăng vàng ngoại trông

Để trong giây phút bồi hồi

Ngoại tôi đi khắp non ngàn thiên thu.

 

Hương thời gian

Nếu được làm phép quay thời gian

Tôi sẽ đưa em về dĩ vãng

Gặp tuổi thơ mình

Cô bé hoa khôi diễm lệ

Nếu được làm phép quay thời gian

Tôi sẽ quay ngược lại

Đưa em về tuổi xuân

Sống một thời vàng son lộng lẫy

Nếu được làm phép quay thời gian

Tôi sẽ quay nghiền nát

Những khổ đau vụng dại

Chạm đến tay nàng

Em là viên ngọc quý

Thần vệ nữ trong tôi

Trước em tôi là người có tội

Vì lời thơ non trẻ trang tình

Hương thời gian không bao giờ trôi…

 

ĐIỆP KHÚC DÒNG SÔNG

 

Tôi biết, lòng suối không thể sánh dòng sông

Dòng sông không sánh cùng biển cả

Hỡi dòng sông muôn đời vất vả!

Vẫn tươi màu hoa lá bốn mùa vui

Nghiêng Ấn trời con nước êm xuôi

Về với biển gửi phù sa cây trái

Tháng năm nào phai giọt mồ hôi.

 

Trà Giang ơi ! Đâu nỗi nhớ riêng tôi

Bao thế hệ ấm trong nguồn sữa mẹ

Mòn vết thời gian sông trong tôi vẫn trẻ

Con rồng xanh vươn sức sống tình người

Những đêm trăng

Ai gảy khúc Trường Xuân

Để họa sĩ nói lời bằng cây cọ

Bút thi nhân trên giấy hỏi lòng mình

Thương vầng dương rạng rỡ gọi mai về.

 

 

 

 BỖNG NGHE

 

Bởi chưa duyên

Đến được cùng em

Chùng tiếng hát

Hòa nơi phố thị

Người gửi tình

Ta giữ nỗi riêng tư

Theo nét bút

Hồng lên từng khuôn mặt

…Kìa lá rơi

Ai vội nhặt

Ép vào thơ

Giăng nỗi nhớ đường tơ

…Trong kẻ lá.

 

 

 

 

 

 

Các bài khác:
· NGUYỄN GIÚP - MỘT DÒNG SÔNG THƠ
· THÂM TÂM VÀ SỰ THẬT VỀ T.T.K.H
· CHÙM THƠ TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
· NGUYỄN ANH NÔNG - THƠ NGAY Ở TRÁI TIM MÌNH
· VÀI SUY NGHĨ VỀ LỤC BÁT NGUYỄN BÍNH
· HỮU LOAN - NẾU CHIỀU MƯA MỘT CÂY ĐÀN GHI TA
· CHẾ LAN VIÊN - NGỌN THÁP THI CA HIỆN ĐẠI
· THƠ VÀ MỘT TÊN ĐẤT, THƠ VỚI MỘT CON SỐ
· CHÙM THƠ CỦA MÃ LAM
· NHÀ VĂN NAM HÀ, NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG
· CHA TÔI
· SIÊU HƯ CẤU NHƯ MỘT TRÒ CHƠI CẤU TRÚC TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI
· SẮC MÀU MỚI CỦA “NỀN VĂN HỌC LỤC GIÁC”
· ẤN TƯỢNG MÃ GIANG LÂN
· ĐỖ QUYÊN VÀ 5 BÀI THƠ Ở LẠI
· LÊ ĐẠT - "CHIM GÕ MÕ XƯA CHƯA GIŨ HẾT LỤY TÌNH"
· LIÊN KHÚC THƠ TƯƠNG GIANG - TRẦN DZẠ LỮ
· THU BỒN TRONG KÝ ỨC VŨ QUẦN PHƯƠNG
· VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ SỰ TƯƠNG TÁC THỂ LOẠI
· GIẬT MÌNH... MAI HƯƠNG

 

  
Gia đình Bích Khê