DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HOÀNG THÂN - NGHÌN XƯA NỐI VỚI NGHÌN SAU

                                                                           MAI BÁ ẤN

 

            Trong lịch sử hiện đại hóa thi ca, có những nhà thơ góp phần đổi mới cả một nền thi ca, có những nhà thơ góp phần đổi mới một giai đoạn thi ca, có những nhà thơ góp phần đổi mới một trào lưu, trường phái thi ca,… lại cũng có người chỉ khiêm tốn tự đổi mới chính mình trong sự nghiệp thi ca của mình cho phù hợp với bối cảnh xã hội mà mình đang sống. Hoàng Thân thuộc loại thứ tư - loại cuối cùng. Đơn giản vì anh là một người làm thơ không chuyên.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nghề thuốc và nghề giáo ở thôn Bồ Đề, Đức Nhuận, Mộ Đức, Quảng Ngãi, Hoàng Thân (BS Trịnh Quang Thân) vốn có năng khiếu văn chương từ thuở nhỏ. Rời khỏi đội học sinh giỏi Văn của trường THCS Nguyễn Bá Loan, khi vào học THPT, anh theo học Ban A (chuyên Văn-Sử-Địa) để nuôi mộng văn chương. Nhưng do nghiệp thầy thuốc của gia đình thôi thúc, anh đã chuyển sang học Ban C (Toán-Lý-Hóa) để thi vào ngành Y và trở thành Bác sĩ. Nghề Văn và nghề Y xưa nay vốn có mối tương đồng. Nghề Y trực tiếp cứu chữa thể xác, nghề Văn “cứu chữa tâm hồn”. Mà trong một con người, thể xác và tâm hồn là một. Khi nói đến “Y đức” tức người ta đã công nhận sự quan trọng của tâm hồn người thầy thuốc khi chữa bệnh cho thể xác con người.

            Chính sự gắn quyện giữa hai nghề này mà BS Trịnh Quang Thân trong suốt quãng đời học tập và công tác của mình luôn chung thủy với thơ. Để đến bây giờ, khi bước qua ngưỡng tuổi 50, anh xuất bản tập thơ đầu tiên để trải nỗi lòng mình trong suốt mấy mươi năm ấy. Chính vì thế, thơ Hoàng Thân đề cập đến nhiều đề tài, chủ đề khác nhau, chuyện đời, chuyện nghề, chuyện tình, quê kiểng, mẹ cha và những người thân…

            Trải nỗi lòng bằng thơ, Hoàng Thân đã sử dụng tất cả các thể thơ từ truyền thống đến hiện đại. Và trên thực tế, anh đã nối được cái nghìn xưa với cái nghìn sau mà không hề quan tâm mình có nên sử dụng các thể thơ cổ trong thời đương đại hay không, chỉ miễn sao nói được lòng mình.

Đường luật là thể thơ xuất hiện lâu đời, đòi hỏi khắc khe về vần, niêm, luật lại vừa đòi hỏi sự hiểu biết rộng về những điển tích xưa. Hoàng Thân viết khá nhiều thơ Đường luật, bài nào cũng rất chắc tay:

Vàng võ trăng xuyên khóm trúc ngà

Mờ mờ bóng nhạn cuối trời xa

Sầu bi lạnh lẽo nhàu hiên phố

Thổn thức cô liêu lặng góc nhà (Nguyệt úa).

            Hiểu điển tích cổ để khái quát lại thành thơ âu cũng là một thử thách mà nhiều người làm thơ trẻ hiện nay cũng cần nên học hỏi để thơ khỏi bị “lâm nguy” vào những cái vặt vảnh, nông cạn:

Có giọt thu nào hiểu oái ăm
Truân chuyên lỗi bước kén mong tằm
Cung thương chải tóc mờ nhân ảnh
Bến vắng duyên lòng buốt lạ
nh căm (Bến vắng).

Sẽ có nhiều người trách rằng thơ Hoàng Thân cũ quá. Nhưng không sao, anh đang nói cái “nghìn xưa” từ nỗi lòng mình mà. Nó có thế thì cứ tuôn ra như thế. Ai trách mặc ai, miễn sao đó là thơ ở tự lòng mình.

Lục ngôn là một thể thơ cổ khó làm bởi sự đơn điệu của câu thơ sáu chữ và nhịp chẳn 2/4 rất quân bình, nhưng Hoàng Thân đã làm được và thậm chí là rất hay, chứng tỏ cái vốn “nghìn xưa” trong anh khá rộng. Điều đáng trân trọng là chứa trong cái vỏ hình thức Lục ngôn cổ xưa ấy, anh đã đưa vào được cái không khí của hiện tại để nối với “hôm nay” và ngân vang một “nghìn sau” của kiếp phù sinh, điêu linh, bồng bềnh trôi giạt:

Có hay trong cõi phù sinh
Thuyền tình bồng bềnh trôi giạt
Có hay bên trời gió ngược
Thu tàn lá rụng điêu linh
(Con thuyền mắc cạn).

            Với Ngũ ngôn xưa, anh cũng đã hái được những câu thơ mênh mông đời trên cây thập giá, gợi nhắc đến “nghìn sau” cuộc đời và sự nghiệp của một Trịnh Công Sơn tài hoa, mỏng manh trong cõi vô thường chợt đi chợt đến, chợt mất chợt còn, chợt quen chợt lạ:

Trên cây đời thập giá
Ta treo tình hư không
Giữa vô vàn mênh mông
Ta nghe chừng như lạ
(Giữa vô thường).

            Thơ bốn chữ truyền thống thường gắn với lời đồng dao của trò văn-vần-con-trẻ. Nhí nhảnh, lí lắc, tinh nhanh bởi nhịp dồn 2/2. Hoàng Thân lại đem cái vỏ hình thức trẻ con, tinh nghịch kia pha vào những con chữ  đầy tính tượng hình vừa bay bổng  với “sợi nắng rơi”, “ai cõng”, “cất vào” lại vừa lắng dịu với “nắng vàng”, “cuối trời”, “góc nhớ” rất “chơi vơi” khiến cho câu Thơ bốn chữ như được chắp thêm vẻ mơ màng, được bay lên cùng gió:

Sợi nắng vàng rơi

Ai cõng cuối trời

Cất vào góc nhớ

Đêm ngày chơi vơi (Thu cõng nắng qua).

Đến với Song thất lục bát - một thể thơ phổ biến trong các ngâm khúc của văn học Việt Nam thời trung đại, Hoàng Thân cũng đã thể hiện sự chắc tay của mình trong một cấu tứ vững và thả vần đi vừa khoan thai vừa hợp nhịp, nghĩa chung (hai câu đầu) hòa quyện với tình riêng (hai câu sau):

Trông mấy nỗi ngất ngây miền nhớ

Góc trời riêng còn nợ vần thơ

Nhủ lòng chẳng mộng chẳng mơ

Mà sao vẫn cứ vu vơ gieo vần (Góc trời riêng).

Chính cái trang trọng, chỉn chu của thể thơ này đã đem đến cho Hoàng Thân những câu thơ đầy ân nghĩa và giữ được không khí thiêng liêng khi viết về người mẹ:

Thiêng liêng ấy ngàn sau con nhớ

Bóng mẹ già luôn chở che con

Đường đời nặng gánh quan san

Nặng đôi mắt mẹ chứa chan ân tình (Lòng mẹ).

Bên cạnh đó, Hoàng Thân còn có những bài Lục bát ngọt ngào và đầy tâm trạng. Đây là một thể thơ truyền thống thuần Việt, “dễ làm, khó hay”. Chính cái phong cách nối nghìn xưa với những nghìn sau đã khiến Hoàng Thân khá thành công ở thể thơ truyền thống này:

Rốt tình
Đọng mấy chơ vơ
Rượu hồng ta tiễn bên bờ trăm năm
(Hoài thu).

            Cái “bờ trăm năm” ấy chính là cái “nghìn xưa” thiên cổ, nhưng cái “rốt tình” cái “chơ vơ đọng lại” chính là nỗi lòng của một “nghìn sau”.

            Trong bản thân Lục bát, Hoàng Thân cũng có những bài rất đỗi “nghìn xưa” với những “chí tang bồng”, “sương phong”, “xuân thì”, “chốn cũ” xa xưa:

Người đi rằng nhớ hay không
Hay rằng luyến chí tang bồng mãi khi
Sương phong dõi lối nằn nì
Tỏ hay chốn cũ xuân thì lặng trôi
(Khúc tình thơ).

Lại cũng có những bài thơ nối được “nghìn sau” với “giọt trời ươm kén”, với cách gieo vần xẻ giữa một từ ghép ở chữ thứ sáu của câu bát tạo thành khúc ngân của “đêm phôi thai ngày” khá hiện đại:

Mơn man
Lộc biếc đâm chồi
Giọt trời ươm kén
Đêm phôi thai ngày
(Khúc giao thừa).

            Và cũng chính cái không khí Lục bát “nghìn xưa” ấy, Hoàng Thân trải được món nợ lòng mình với quê kiểng, với người cha tôn kính trong những ngày xuân đoàn tụ truyền thống mà đành phải sống kiếp ly hương:

Xuân nay
Con nợ người rồi
Lặng trong đêm vắng
Dần trôi tuổi đời
Nơi xa
Con nhớ Người ơi
Ngày xuân lặng lẽ
Lòng chơi vơi buồn
(Xuân xa xứ và cha).

            Trả ơn đời, ơn nghề bằng những vần Lục bát ngắt dòng nhẹ nhàng, nhịp nhàng tinh khôi như chính màu trắng của chiếc áo Blue nguyên màu trắng trong theo năm tháng:

Bàn tay em
Dịu cõi mê
Hư vô tan biến
Tôi về lại tôi
Em!
Màu áo trắng tinh khôi
Nhẹ nhàng ánh mắt
Xua trôi ưu phiền (Nguyên màu thời gian).

Gần hơn, Hoàng Thân sử dụng khá nhuần nhuyễn lối Thơ Mới của những thập niên 30 thế kỷ trước. Bên cạnh Lục bát, đây là lối thơ được anh sử dụng nhiều nhất trong toàn bộ thi phẩm của mình. Người đọc sẽ không khó nhận ra hơi thơ đậm đặc không khí Thơ Mới 1930-1945 và cũng rất dễ đồng tình rằng, lối thơ này được anh thể hiện khá thành công:

Mưa tháng sáu ngập ngừng ai bước vội

Nụ hôn đầu vẫn mãi ướt bờ môi

Lòng đau đáu giọt mưa ngày ấy

Chở chiều về thấy lạnh trái tim đau (Mưa tháng sáu).

            Nhưng không dừng lại ở đó, Hoàng Thân còn rất cố ý để tự làm mới những dòng Thơ Mới vốn đã thành quá cũ:

Ta biết chiều nay màu nắng còn thương
Mây tím vấn vương hồ sương hờn sóng
Hỏi lá còn xanh bên nương đổ bóng
Lời yêu cháy bỏng xin giữ trong lòng
Gọi nắng hanh hao vò võ hoài mong
Về chốn hồng hoa tình chôn viễn xứ
Ta tiễn chiều đi sầu người cô lữ
Hoàng hôn rụng xuống ngày nắ
ng không vàng (Ngày không nắng).

            Lối kết hợp tài tình vần ở giữa câu và cuối câu đem đến cho bài thơ một vẻ đẹp riêng mà không phải ai rành Thơ Mới cũng có thể đạt được. Đó là những thanh bằng không dấu “thương”, “sương”, “nương”, “mong” lửng lơ, nhè nhẹ; những thanh trắc réo rắc “sóng”, “bóng”, “bỏng”, “xứ”, “lữ” kết hợp cùng với thanh bằng trầm huyền “lòng”, “vàng” cùng sự ngắt nhịp giữa câu vô cùng cân đối thể hiện một sự am hiểu sâu về nhạc tính trong thơ.

            Thi thoảng anh cũng tự làm mới mình bằng thủ pháp ngắt dòng thơ, nhưng hơi thơ đi thì vẫn là một giọng của Thơ Mới. Có điều, dù là “mới” nhưng thơ Hoàng Thân vẫn níu với “nghìn xưa” bằng những mỹ từ cổ kính mang tính ước lệ của thơ xưa:

Mưa mắc võng
cuối thềm đông chấp chới
Giọt xuyến xao
xa vợi tuổi sương phong
Giọt nhớ nhung
mãi đọng chốn cô phòng
Miền cách trở
trời đong đầy mắt lệ
Chiều tím rịm
giữa hai đầu dâu bể
Mưa dẫu buồn
đâu nguội lửa đam mê
(Giọt tình xuân).

             Điều đáng ghi nhận là anh đã khéo đưa những mỹ từ vào đúng nơi nó cần phải có để diễn tả đúng tâm trạng đau thương, dang dở, si mê, vụng dại của chính mình:

Nắng bỗng nhạt
màu pha lê tan vỡ
Địa đàng đau
dang dở chốn đi về
Bờ tình xuân
rạo rực những si mê
Lời tình tự
chiều ngô nghê vụng dại
(Xuân đến rồi đi).

            Đến với cái hôm nay để nói đến cái “nghìn sau” thăm thẳm, Thơ tự do của Hoàng Thân vẫn giữ được cái “nghìn xưa” trong vốn chữ cho dù câu thơ rơi rất tự do theo nhịp điệu cuộc đời. Hình như anh trân trọng thơ đến mức không dám cho bất kỳ một chữ mang tính thông tục, trần trụi nào bước vào cõi thơ ngay cả với Thơ tự do hiện đại, ngay cả trong những phút “nao lòng bời bời” vì trót đã “say tình”:  

Phượng tím, con đường tím cong cong
Áo tím nao lòng
Bời bời
Hoa nắng đã lên màu
Cài lên tàn lá, rụng trên tóc say
Ngủ yên trong ngày
Tình say!
(Phượng tím Đà Lạt).

            Và cái “dáng đi tháng ba” dù bước thơ đã hiện đại, gấp gáp hơn, từ ngữ gần với ngôn ngữ thông dụng hơn qua những “Vậy mà”,  “ngoái theo”, “lạ em nhỉ?”, “Hay vì”…, nhưng vẫn là dáng đi của bước chân người phụ nữ truyền thống, khẽ khàng, uyển chuyển, quyến rũ, nên thơ; rất xa lạ với những bước vội hip-hóp và những bước sải chân trên sàn diễn của những người mẫu hiện đại:

Thật khẽ
Tháng ba đi
Vậy mà hoa gạo vẫn đỏ loè, rạo rực ngoái theo, lạ em nhỉ!?
Hay vì hương bưởi ngọt ngào đã vương lên tóc ấy
Tựa lời ai thủ thỉ

Tháng ba quyến rũ lạ thường  (Bước chân tháng ba).

            Nghĩa là, trong thơ Hoàng Thân có đủ các thể loại thơ từ cổ chí kim để làm cầu nối cái tâm tư “nghìn xưa” với suy nghĩ của “nghìn sau”, nhưng khởi xuất của thơ anh vẫn là từ “nghìn xưa” vọng đến. Chính điều này đã làm nên cả ưu và nhược điểm của thơ Hoàng Thân. Ưu là giữ được hồn thơ, hơi thơ truyền thống của dân tộc, phả được cái không khí hiện đại bằng bước tăng tự do, khoáng đạt của nhịp thơ đi, nhưng hồn cốt thơ, hơi thơ, từ ngữ thơ vẫn như vọng lên từ quá vãng đem đến sự bềnh bồng, mênh mang, lắng đọng của thơ. Nhược là ít có cái xôn xao, náo động, quẫy đạp của cuộc sống đời thường hiện đại. Đôi lúc cái sự tĩnh tại của hồn thơ cộng với lớp mỹ từ của thơ truyền thống khiến thơ anh như bị tách rời khỏi cái của hôm nay, dẫn đến những câu thơ khá sáo mòn:

Người hay lối cũ nay còn đấy

Lặng lẽ đi về khoé mắt cay

Áo trắng trường xưa từ cách biệt

Chờ nhau đằng đẵng biết bao ngày (Áo trắng trường xưa).

Thậm chí có những câu thơ bị lạc vần cho dù là vần Lục bát vì “vịn” quá chặt vào lớp mỹ từ của trường Thơ Mới đầu thế kỷ trước:

Mây trôi
Cùng gió phôi pha
Con thuyền chợt ngả
Về miền vấn vương
(Dấu chân).

            Nhưng không sao, thi pháp học hiện đại là thế. Thi pháp  của một người làm thơ luôn kéo cái ưu đi cùng cái nhược. Với Hoàng Thân, hãy biết tiết chế cái “nghìn xưa” thêm vào cái rộn ràng của “hôm nay” để vang lại những “nghìn sau” là điều cần thiết. Nhưng dẫu sao, với tập thơ đầu, Hoàng Thân đã rất thủy chung với quan điểm luôn cố ý nối cái “nghìn xưa” với cái “nghìn sau” để tạo nên một giọng điệu thơ riêng. Xin trân trọng giới thiệu tập thơ “Nguyên màu thời gian” của anh cùng bạn đọc xa gần.

 

                                                                                     Xóm Chòi Dầu, đầu Hạ 2016.

 

XUÂN XA XỨ VÀ CHA

Sương rơi nhẹ
Đẫm cánh hoa
Đêm ba mươi
Tết
Ngang qua cuộc đời
Chao nghiêng
Cánh én lưng trời
Ngỏ về xứ cội
Đôi lời phương xa

Cầu an
Chúc phúc cha già
Ở nơi cắt rốn
Con xa
Tạ người
Môi cười
Mặn nước mắt trôi
Đón xuân lòng cứ
Bồi hồi nhớ mong

Vai gầy
Chưa biết thong dong
Đông qua
Xuân đến
Đèn chong mỏi mòn
Mong hoài
Nghìn núi vạn non
Cánh chim đã mỏi
Bóng còn đơn côi

Xuân nay
Con nợ người rồi
Lặng trong đêm vắng
Dần trôi tuổi đời
Nơi xa
Con nhớ Người ơi
Ngày xuân lặng lẽ
Lòng chơi vơi buồn.
                Xuân Ất Mùi 2015

 

NGUYÊN MÀU THỜI GIAN
             Dâng tặng ngày Thầy thuốc VN 27/02.

Đêm trường
Lạnh buốt vết thương
Cơn đau quằn quại
Một giường một tôi
Chân trời
Bỗng hoá xa xôi
Màu mây tím ngắt pha phôi ùa về

Bàn tay em
Dịu cõi mê
Hư vô tan biến
Tôi về lại tôi
Em!
Màu áo trắng tinh khôi
Nhẹ nhàng ánh mắt
Xua trôi ưu phiền

Lương y
Em!
Đấy nàng tiên
Thướt tha hiền dịu
Nét duyên trong ngần
Cơn đau tôi dịu mấy phần
Nụ cười em nở
Bớt ngần ngại nhau

Ngoài kia
Nhân thế có nhàu
Vẫn tà áo trắng
Nguyên màu thời gian
Sớm khuya
Vất vả lo toan
Em!
Màu áo trắng
Xoá tan nỗi niềm.
            25/02/2015

 

NGÀY KHÔNG NẮNG

Ta nói gì đây ngày nắng không vàng
Ngày gió đi hoang mơ màng sương rũ
Ta nói với ta lời nào cho đủ
Ngày gót hồng xa chiều muộn chẳng về

Giọt nắng lang thang cỏ xám triền đê
Sợi tóc buồn bay xanh xao lời gió
Từng bước chân qua nghiêng nghiêng xóm nhỏ
Ngày như lặng lẽ dừng cuối con đường

Ta biết chiều nay màu nắng còn thương
Mây tím vấn vương hồ sương hờn sóng
Hỏi lá còn xanh bên nương đổ bóng
Lời yêu cháy bỏng xin giữ trong lòng

Gọi nắng hanh hao vò võ hoài mong
Về chốn hồng hoa tình chôn viễn xứ
Ta tiễn chiều đi sầu người cô lữ
Hoàng hôn rụng xuống ngày nắng không vàng.
                                       15/02/2016


PHƯỢNG TÍM ĐÀ LẠT

Ngày thứ bảy
Làn sương sớm mờ mờ
Tiếng ve sầu gọi
Lơ thơ
Phượng tím nơi dốc phố
Đà Lạt nghiêng triền đổ
Hạ về!

Nỗi nhớ lùa lô xô
Áo tím một thời xa vọng
Mênh mông
Mắt dõi Đồi Thông Hai Mộ
Mênh mông
Gió lay hồ Than Thở
Trong đơn cô
Tình về!

Phượng tím rơi rơi
Nhung nhớ lên màu chơi vơi
Thác Cam Ly dỗi trút lòng
Ngùi ngùi từng cánh phượng
Chênh vênh nơi Thung Lũng Tình Yêu
Xa rồi!

Phượng tím, con đường tím cong cong
Áo tím nao lòng
Bời bời
Hoa nắng đã lên màu
Cài lên tàn lá, rụng trên tóc say
Ngủ yên trong ngày
Tình say!

               30/5/2015



 

Các bài khác:
· LOGIC CỦA SỰ NGHỊCH LÝ TỰ DO CÁ NHÂN XUẤT HIỆN TRONG LÒNG THIẾT CHẾ CHUYÊN CHẾ
· THẾ HỆ NHÀ THƠ TRƯỞNG THÀNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
· HOÀNG NGUYÊN (TRẦN ANH KIỆT) - GÓP VỚI ĐẤT TRỜI MỘT CHÚT XANH
· NGHĨ VỀ HAI THẦN ĐỒNG THƠ ĐẤT VIỆT
· TỪ NGHÌN THU ĐẾN 10 NĂM
· NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN
· CHÙM THƠ THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG
· TÀI HOA CHU VĂN SƠN
· THẾ GIỚI SẼ ĐƯỢC VẼ RA THEO CÁCH CÁC NHÀ THƠ NHÌN THẤY NÓ
· CHÙM THƠ ĐẶNG CƯƠNG LĂNG
· CHU LAI - NÓI KHÔNG BUỒN THÌ KHÔNG ĐÚNG
· 2 PHÁT HIỆN VỀ TRUYỆN KIỀU
· 60 NĂM TRƯỚC, CÓ 1 BÀI THƠ GÂY CHẤN ĐỘNG SÀI GÒN
· KỂ CHUYỆN TÌNH NHÀ THƠ TRIẾT GIA PHẠM CÔNG THIỆN
· VĂN XUÔI NỮ: TIẾNG NÓI NHƯ MỘT THÂN PHẬN VÀ NHƯ MỘT HÀNH ĐỘNG
· THANH QUẾ - NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI ĐẤT QUẢNG
· TRƯỜNG CA ĐỒNG LỘC
· TUỔI THƠ TÔI
· CÁC ĐẠI BIỂU VIẾT VĂN TRẺ SAU 5 NĂM CÓ GÌ?
· PHẠM NGỌC CẢNH VỀ NƠI BA CON SÔNG CHẢY ĐẾN

 

  
Gia đình Bích Khê