DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
HOÀNG NGUYÊN (TRẦN ANH KIỆT) - GÓP VỚI ĐẤT TRỜI MỘT CHÚT XANH

                                                                - MAI BÁ ẤN

                                                                                            

            Anh như một thiên thần đang bỡ ngỡ

            Nương vào Em… bay đến cõi trăng sao (Cõi vĩnh hằng).

Hoàng Nguyên (Trần Anh Kiệt) vĩnh biệt chúng ta, đi vào “Cõi vĩnh hằng”  đầu giờ Mẹo ngày mồng 9 tháng 5, Bính Thân (13/6/2016). Hai câu thơ này trong bài thơ “Cõi vĩnh hằng” anh đề ngày 12/6. Như vậy, chỉ đúng chưa đầy một ngày trước khi anh rũ “xác phàm” làm “thiên thần” bay đến “cõi trăng sao” - nơi người vợ hiền anh đang đợi sẵn.

Sinh năm 1937 nơi quê nghèo Mộ Đức, anh theo cha tập kết ra Bắc, học hành rồi lại về Nam tham gia kháng chiến. Hòa bình, đoàn tụ lại trở về với quê thực hiện vai trò “kẻ sĩ” và vĩnh viễn ra đi trong thanh thản, nhẹ nhàng. Nghĩa là, cuộc đời Hoàng Nguyên (Trần Anh Kiệt) là chứng nhân đủ mọi phân tán, chia ly, đoàn tụ… của cả một thời kỳ lịch sử, và… trọn vẹn thủy chung với mảnh đất quê nghèo.

Nhưng thôi! Cái cuộc hành-trình-đời-người ấy, anh đã thể hiện trong bài thơ “Tiếc thay” tự điếu mình trước khi rời khỏi phàm trần (mà sẽ được in ở trang thơ này). Giờ đây, nhân tuần 49 ngày của anh, tôi chỉ muốn trở về với “tâm nguyện” của anh (mà cũng là cảm nhận của tôi về anh) để nói về một con-người-thơ-đích-thực: Hoàng Nguyên.

Và cũng xin nói thực điều này, ngày anh mất, tôi không viếng anh được, chỉ nhận tin khi đang còn ở nơi xa. Và ngay lúc ấy, tôi thật sự bàng hoàng vì cách đó không lâu, qua cháu ngoại của anh (học trò tôi, con của Anh Thư - bạn đồng môn đại học của tôi), tôi còn nhận được những tâm tư, tình cảm của anh qua những tâm sự và những bài thơ anh gửi ngay trong những ngày bạo bệnh. Giờ, viết về anh, dễ có người nghĩ rằng, sẽ có những lẫn lộn giữa một Trần Anh Kiệt - Chủ tịch tỉnh với một Hoàng Nguyên - thơ. Nhưng không sao, chuyện anh là một kẻ-sĩ-chính-hiệu trong đoạn quan trường (mà tôi ít quan hệ), với tôi, anh là một người thơ.

Dựa theo phân loại giới nhà Nho (kẻ sĩ) của văn học trung đại, vận vào thời hiện đại, tôi không xếp anh vào “kẻ sĩ ẩn dật” mà chỉ là sự đan xen, chồng khít lên nhau giữa “kẻ sĩ hành đạo” và “kẻ sĩ tài tử” mà thôi. Trong đó, “kẻ sĩ tài tử” vẫn chiếm mạch tâm tư chính trong thể hiện của thơ anh. Tâm tình thời cuộc trong chặng đường “hành đạo” được anh sẻ chia ngay trong tâm sự riêng tư của tâm hồn “tài tử” khi “Gửi về em”:

Thù chất chồng bọn đế quốc thực dân

Nước mắt trào, răng anh cắn chặt răng

Ôi quê hương! Nơi muôn đời bất khuất

Con muốn bùng sôi giông bão hôm nay (Gửi về em).

Năm 1968, khi về Nam chiến đấu, tâm tình chung ấy, anh vẫn quyện vào trong “nhật ký chiến trường” của “Một tháng xa em”:

Bên đường tạm dừng bước

Anh hái một đóa hoa

Nhờ gió nồm chuyển hộ

Gửi tặng em làm quà (Một tháng xa em).

            Hòa bình, lại trở về Nam xây dựng quê hương, bước đi trên con đường chính sự, anh vẫn nhìn nhận chính trường bằng những mảng suy tư lắng đọng với những lời thơ rút ra từ tâm huyết:

Ta tìm về với hạnh phúc nào đây

Như chiếc lá giữa vần xoay trời đất

Cảm biết mấy những mảnh đời lưu lạc

Thương quê nghèo da diết gió heo may (Tâm nguyện).

            Khi quyết định giã từ Hà Nội để về góp phần xây dựng quê hương sau hòa bình thì chính tấm lòng đau đáu nhớ quê của con người thơ cứ như là một hối thúc:

Mỗi chiều về lại nhớ khói lam bay

Chỉ mấy sải tay là lòng biển rộng

Mà đất cứ nẻ khô da diết từng tiếng sóng

Sao khuôn thiêng vô tình dằn vặt thử thách ai (Hạn quê)

            cho dù, anh thừa biết, trước mắt mình sẽ còn lắm nỗi gian truân “giật gấu vá vai” cùng bao nhiêu “bồi lở”:

Mấy dạt dào cho tình nguyên trọn

Bến Tam Thương đôi bận buồn vui

Tự dỗ dành: Nín đi đừng khóc

Giọt rơi bên lở đắp bên bồi (Về với bến).

Con người “tài tử” luôn ẩn sau, làm chỗ tựa cho con người “hành đạo”, chính vì thế, thơ anh đầy tâm trạng trong cả những phút lo gánh vác chuyện đời. Đọc lên cứ nghe đăng đắng, ý vị một chút buồn triết lý:

Đừng để khô đi nguồn nước nhỏ

Hãy nghe tiếng gọi của ngàn cây

Hãy khơi mạch sống từ sông biển

Chăm chút tươi xanh mỗi dáng gầy (Trăn trở 3).

Đó cũng là nguyên nhân giải thích vì sao anh luôn cống hiến trọn cuộc đời mình cho công việc, luôn tin tưởng mình sẽ “sút trúng khung thành” để đạt đến thành công ngay cả ở những phút cuối cùng:

Ôi thời gian, còn vài phút nữa thôi

Chấp nhận hòa ư? Không, anh phải thắng

Và đẹp thay, vào phút đời tám chín

Từ chân anh, tung lưới, bóng tròn bay (Một phút đời).

            Anh đã sút trúng đích mà mục tiêu “hành đạo” mình đã đặt ra, đồng thời cũng đã “sút đúng vào khung thành thơ” của một tâm hồn “tài tử”.

            Lắng lòng lại sau những chính sự quan trường, anh thổ lộ cùng mẹ cha những lời thơ da diết. “Công cha mẹ như trời như biển” ta đã từng nghe, nhưng xưa nay, khi cặp biểu tượng “thuyền - biển” xuất hiện, hầu hết các nghệ sĩ đều nói chuyện tình yêu đôi lứa. Riêng anh, đặt “thuyền” (người con) trong mối quan hệ với “trời và biển” (cha và mẹ) đã tạo nên một tứ thơ khá độc đáo về mối thâm tình cao rộng này:

Biển trời như cha mẹ

Con là chiếc thuyền trôi

Lời ru của trời biển

Đưa thuyền con trôi xuôi (Trời và biển).

            Đặc biệt, anh đã có những câu thơ thật sự “quặn lòng” khi nghĩ về đức hi sinh của mẹ:

Chúng con đã vay phút quặn lòng trở dạ

Ngày Mẹ sinh, tinh huyết của yêu thương

Chúng con đã vay bao mòn hao của Mẹ

Để một đời chưa trọn nợ quê hương… (Chúng con đã…).

            Đó là cảm nghĩa mẹ trong đoạn mới sinh thành. Đến khi đã vượt qua tuổi 50 (năm 1989) “Ngũ thập nhi bất hoặc”, anh lại cảm nghĩa tình của mẹ một cách sâu sắc hơn. Đây là đoạn đời anh lăn thân chốn qua trường, mà cảm nhận tình mẹ đến “mênh mông” dường này thì cũng khiến nhiều nhà thơ phải đi từ ngạc nhiên đến gật gù tâm phục:

Con lại được mẹ gội đầu

Như những ngày còn thơ trẻ

Nỗi đau thoáng mất trong con

Hơi ấm lần theo tay mẹ

Được mẹ vuốt từng sợi tóc

Đầu con sạch bớt dại khờ

Hương lá quê mình thơm mát

Vun hồn con xanh ước mơ (Mênh mông…)

Rồi khi xem phim “Mộng đoạn Tử Cấm Thành”, tựa vào mẹ, anh lại thổn thức bật lên hai câu thơ uẩn súc cả một nỗi niềm triết lý:

Mẹ tắm rửa cho ta bao nhiêu năm mà ta vẫn bẩn

Càng lên cao gió càng lạnh ghê người (Lên cao).

            Bên cạnh mẹ, cha, con, cháu, trong đời thơ của “kẻ sĩ tài tử” Hoàng Nguyên, người yêu - người vợ hiền dường như được anh tỏ bày nhiều hơn hết, tình yêu xuyên suốt cả một đời người:

            Nụ yêu từ buổi ban đầu

Tình già thêm thắm một màu thanh xuân (Về với em).

Mỗi đoạn chia ly, xa cách người tình là mỗi lần anh “mất bớt” rất nhiều trong trạng thái choáng váng cả linh hồn:

Bao nắng mưa chưa gặt lấy mùa vui

Muôn trang sách được mấy dòng tri kỷ

Gạn trong tim chắt chiu từng giọt quý

Em ra đi… như mất bớt hồn anh (Tiễn em)…

Điều này lý giải vì sao, đọc kỹ 5 tập thơ anh (Những khúc tâm tình - 2001, Một chút xanh - 2002, Ai xuôi Trà Khúc - 2004, Sương chiều - 2006 Anh xin lỗi em - 2007) ta dễ phát hiện ra rằng: bài thơ đầu tiên (Gửi về em) anh làm năm 1959 và bài thơ cuối cùng (Cõi vĩnh hằng), anh vẫn chỉ riêng dành tặng người yêu, người vợ mà anh đắm yêu suốt cả một đời người.

            Sự hòa quyện, đan xen giữa con người “hành đạo” và con người “tài tử” khiến những lúc trên bước đường “hành đạo” gập ghềnh, anh lại có nơi chốn để quay về an vui cùng cái gốc “tài tử” mà mình vốn có:

Ngỡ thành lãng tử cùng hoa

Thoảng heo may giọt sương sa chính trường

Vó câu mấy chặng gập ghềnh

Phù vân mấy nấc đượm tình gần xa

Vui về nương gốc mai già

Kẻo héo hon thiếu mặn mà với xuân (Với xuân).

            Đọc thơ Hoàng Nguyên, ta có cảm giác chính tình yêu của con người tài tử, luôn “lở tay tôi rót giọt buồn mắt em” đã trở thành tâm nguyện, nguồn cội của đời anh. Anh luôn biết tự mình tìm “Một chút xanh” trong những “chiều thu muộn” của cái “bước đời” mãi mãi xanh tươi để yên ủi, động viên mình mỗi khi “lạc bước”. Và chính vì lẽ đó, Hoàng Nguyên đã sống rất “lạc quan” trong suốt cuộc đời mình, ngay trong những tháng ngày lâm bạo bệnh. Điều này cũng lý giải vì sao trong thơ Hoàng Nguyên, cái màu xanh đã trở thành gam màu chính xuyên suốt cả một đời thơ để anh đi trọn lòng mình trên con đường thơ tươi xanh và những gập ghềnh hoạn lộ:

Chút xanh man mác chiều thu muộn

Lạc bước đường quan, nặng bước đời (Lạc quan).

            Giờ thì anh đã vĩnh viễn về với xa xanh, nhưng những bài thơ anh vẫn luôn mãi còn góp “Một chút xanh” trong cây lá cuộc đời:

Trải bao mưa nắng, bao sương gió

Góp với đất trời một chút xanh… (Một chút xanh).

            Giờ thì anh đã vĩnh viễn về với xa xanh, nhưng những bài thơ anh vẫn luôn mãi còn góp “Một chút xanh” trong cây lá cuộc đời. Xin được tâm sự đôi điều và giới thiệu trang thơ anh như một nén nhang lòng tưởng niệm.

           

 TIẾC THAY

                (Tự điếu mình)

 

Dù khoảnh khắc vèo như gió thoảng

Cũng từng được sống giữa nhân gian

 

Nhớ linh xưa:

Sinh tại gia đình phong kiến

Tầng tầng khoán xuyến khắp vùng

Khởi thủy nguyên cụ Trần Cẩm

Góp phần mở đất phương Nam

 

Đời Cha vào thời Tây học

Cũng Tú… cũng Cử… như ai

Bản tính không ham quyền lực

Theo nghề Bưu chính đó đây

 

Mẹ cũng một thời Tây học

Kiếp người nặng nợ chồng con

Vắt đời đến từng giọt cuối

Hương nhà giữ nếp ngàn xưa

 

Nghỉ hưu từ thời Bưu chính

Cha về chẳng bận ưu phiền

Tiếng xưa vẫn “Ông Tú Đính”

Về trời… xứng “Vãng phần, yên”.

 

Khá thương thay:

Năm tư (1954) theo Cha tập kết

Tầm dăm ba chữ mai sau

Học theo quy luồng quy tuyến

Ngành kinh tế học “cầu âu”

 

Đại học kinh tế công nghiệp

Thời “trâu đi trước cái cày”

Học xong về Ban Thống nhất

Mơ màng lo chuyện Miền Nam

 

Rồi vượt Trường Sơn mấy bận

Rồi làm thư ký mấy phen

Rồi ngồi ghế Chủ tịch tỉnh

Rồi lại điều về Trung ương

 

Lại đi từ đất Quảng Ngãi

Một tỉnh Miền Trung đói nghèo

Đi từ một vùng quít trắng

Mở cơ đồ… dựng tương lai...

 

Chập chững làm Cảng Dung Quất

Manh nha Nhà máy Lọc dầu

Tiến lên thành Khu kinh tế

“Thành phố công nghiệp” mai sau

 

Ý tưởng dần thành sự thật…

Nhà huyên hạnh phúc chan hòa

Con cái làm ăn sum nẫm

Chăm lo luôn giữ nếp nhà

 

Đoái Sông Trà - Núi Ấn dấu chân còn vướng bụi đường

Nhìn Thiên Bút - Sa Huỳnh dân thương vẫn thường nhắc nhở

 

Nghĩ cái quê hương nghèo khó

Chẳng nhọc quản công “mài sừng…”

Đôi giọt xanh từng góp sức…

Gọi là… chào buổi hoàng hôn…

 

Sức già cõi còm trông thấy

Bệnh tật hoành hành đêm ngày

Từng mấy lần vào Chợ Rẫy

Điểm cuối… chập chờn… đâu đây

 

Thà thác mà đặng câu khảm khái, về theo Tổ phụ cũng vinh

Hơn còn mà chịu cảnh héo hon, đơn độc thân côi rất khổ

Ngang qua Thi Phổ, cỏ cây mấy dặm sầu giăng

Một dãi Lương Nông, Vườn Xanh thấm bao lệ nhỏ (*)

 

Ôi!

Một nén hương tàn… ngàn năm còn đó

Thác mà xong… Quê cũ vượt lên, thoát khỏi tỉnh nghèo, tỉnh khổ.

Sống nhờ dân, chết cũng vì dân, góp chút mồ hôi còn đó

 

Kính Trời, kính Đất…

Kính vọng Tổ tiên

Kính bà con gần, kính bà con xa hai bên Nội Ngoại

Hãy vui vẻ mà sống tròn đầy

Đất trời hiểu lòng chăng tá

                                   Tiếc thay…

-----------

(*)Dựa theo “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

 

 

TÂM NGUYỆN

Nguyện với lòng giữ trọn vẹn hương quê

Mà sóng gió xôn xao chiều lận đận

Cha mẹ già buồn thương trong thiếu vắng

Em băn khoăn đơn lẻ một thân gầy

 

Ta tìm về với hạnh phúc nào đây

Như chiếc lá giữa vần xoay trời đất

Cảm biết mấy những mảnh đời lưu lạc

Thương quê nghèo da diết gió heo may

 

Đoạn đường nào rong ruổi bước chân ai

Mà mỏng mảnh theo sương chiều vời vợi

Nắng chợt tắt như tiếng cười tắt vội

Để hoàng hôn chìm lặng ở sau lưng

 

Mỗi bước ta đi mỗi bước ngập ngừng

Hướng quê mẹ xa dần, lòng quặng thắt

Đường thiên lý dẫu mai này mải miết

Cũng không đi trọn lời mẹ ru…

 

Hà Nội gió mùa cứ ngỡ vào thu

Trước đây ta về, nay ta đến

Sóng vẫn mênh mông bao bờ, bao bến…

Nào biết ai… ai biết… có hay không

 

Mặt trời vẫn mọc đằng đông

Thiên lương vẫn sống mãi trong lòng người

 

TRỜI VÀ BIỂN

Bầu trời và mặt biển

Cách nhau bao dặm xa

Nhìn vào lòng biển rộng

Trời trong xanh bao la

 

Biển trời như cha mẹ

Con là chiếc thuyền trôi

Lời ru của trời biển

Đưa thuyền con trôi xuôi

 

Nếu trời mây vần vũ

Biển nổi sóng bạc đầu

Thuyền dập dềnh chao đảo

Nương níu bến bờ đâu

 

Mong sao biển và trời

Luôn trong xanh êm ái

Để thuyền con mãi mãi

Ấm áp những lời ru…

… Và hiền hòa trời biển

Xanh đẹp đến thiên thu.

 

CÕI VĨNH HẰNG

Anh như một thiên thần đang bỡ ngỡ

Nương vào Em... bay đến tận trăng sao

Tìm lại bản tình ca bao năm cũ

Anh và Em chăm chút dệt cùng nhau...

 

Anh cố nhặt những giọt chiều hôi hổi

Giữ tươi xanh cho từng chút thương yêu

Đôi con tim luôn giao hòa chung nhịp

Để “Hoàng Nguyên” tình luôn mãi vĩnh hằng.

                                                 12/6/2016

 

 

 

 

 

Các bài khác:
· NGHĨ VỀ HAI THẦN ĐỒNG THƠ ĐẤT VIỆT
· TỪ NGHÌN THU ĐẾN 10 NĂM
· NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN
· CHÙM THƠ THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NGỌC HƯNG
· TÀI HOA CHU VĂN SƠN
· THẾ GIỚI SẼ ĐƯỢC VẼ RA THEO CÁCH CÁC NHÀ THƠ NHÌN THẤY NÓ
· CHÙM THƠ ĐẶNG CƯƠNG LĂNG
· CHU LAI - NÓI KHÔNG BUỒN THÌ KHÔNG ĐÚNG
· 2 PHÁT HIỆN VỀ TRUYỆN KIỀU
· 60 NĂM TRƯỚC, CÓ 1 BÀI THƠ GÂY CHẤN ĐỘNG SÀI GÒN
· KỂ CHUYỆN TÌNH NHÀ THƠ TRIẾT GIA PHẠM CÔNG THIỆN
· VĂN XUÔI NỮ: TIẾNG NÓI NHƯ MỘT THÂN PHẬN VÀ NHƯ MỘT HÀNH ĐỘNG
· THANH QUẾ - NGƯỜI NẶNG LÒNG VỚI ĐẤT QUẢNG
· TRƯỜNG CA ĐỒNG LỘC
· TUỔI THƠ TÔI
· CÁC ĐẠI BIỂU VIẾT VĂN TRẺ SAU 5 NĂM CÓ GÌ?
· PHẠM NGỌC CẢNH VỀ NƠI BA CON SÔNG CHẢY ĐẾN
· TRANG THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH" - NHÌN TỪ NƯỚC MỸ
· HOÀNG TRẦN CƯƠNG - GẮNG GƯỢNG NGỒI CANH TỪNG TRANG GIẤY

 

  
Gia đình Bích Khê