DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
NGUYỄN CHÍ TRUNG-LÝ TƯỞNG, NHÂN CÁCH, SÁNG TẠO

Nhà văn NGUYỄN BẢO
 

Có một cuốn sách dày 3000 trang, trình bày đẹp in đẹp, lẽ ra phải được trao giải, sách hay, sách đẹp do anh Nguyễn Chí Trung lo liệu từ đầu đến cuối. Cuốn sách có tên: Văn nghệ sĩ Khu V: Lý tưởng, nhân cách, sáng tạo. Vâng, “lý tưởng, nhân cách, sáng tạo” là điều được anh coi trọng nhất trong cuộc đời mình. Anh giáo dục rèn luyện chúng tôi. Anh là tấm gương sáng để chúng tôi noi theo.

1. Hồi ấy vào chiến trường Khu V, chúng tôi được điều về Ban tuyên huấn Khu ủy.  Mới chân ướt chân ráo đến, anh Nguyên Ngọc từ Cục chính trị quân khu sang thăm, nói chuyện với đoàn. Anh ngỏ ý sẽ bàn với Ban lãnh đạo Tuyên huấn xin một vài người sang quân đội. Nhiều anh chị thích sang lắm, ngại là  phải làm lính anh Nguyễn Chí Trung. Ở Khu ủy, có người miêu tả anh Trung là người lúc nào cũng mặc quân phục, đeo kè kè súng ngắn bên hông. Là người riết ráo thực thi mệnh lệnh, riết ráo kiểm điểm phê bình và thi hành kỷ luật. Cái thứ hai ai cũng kể được về anh là sự hay quên. Những chuyện ấy có khi  thực có khi bịa  nhưng dù sao cũng góp vui,  khuây khỏa nỗi nhọc nhằn khi đi cõng gạo, đi sản xuất, hoặc vơi đi sự hồi hộp căng thẳng trên đường vào trận. Cái tâm của người kể, người viết, hầu hết là tốt, là ưu ái. Trừ đôi bài viết muốn câu khách hoặc vì lý do naò đó biến cái hay quên của anh  thành khôi hài, thô thiển. Cứ mong anh Trung  không đọc những  bài viết kiểu ấy. Anh sẽ buồn lắm. Anh vốn là người  tự trọng.

Nhớ những ngày đầu, tôi cùng Nguyễn Hồng và Vũ Thị Hồng qua Ban văn học Cục chính trị. Trời ơi! Sao mà hoang vắng thế. Nhà của Ban chỉ còn là cái nền đất. Người của ban tuyệt không một ai ở nhà. Chúng tôi đành ở tạm chỗ Ban dân vận. Cái Ban văn học của anh Nguyên Ngọc, anh Nguyễn Chí Trung hồi đó là vậy. Quyết liệt vì sự tồn vong, vì chiến thắng của mỗi trận đánh. Những anh Lương Tử Miên, Nguyễn Phong Tạo, Ngân Vịnh, Nguyễn Bá Đắc, Nguyễn Trí Huân, Thái bá Lợi… đi phát rẫy trồng sắn ở Kon Tum. Anh Nguyên Ngọc đi với chỉ huy tiền phương  Bộ tư lệnh Quân khu, còn Nguyễn Chí Trung luồn vào khu dồn Quãng Ngãi ăn ở trong đó, theo dõi địch và nắm tình hình tư tưởng sinh hoạt của dân. Anh Nguyễn Chí Trung về ban, sớm nhất. Lần lượt mọị người lục tục từ các nơi kéo về. Họp và họp. Triển khai công việc. Đang cuối mùa mưa. Các đơn vị chuẩn bị cho các trận đánh. Phải gấp rút hoàn thành các công việc nội bộ để chia nhau về các đơn vị. Nguyễn Chí Trung chú ý nhiều đến ba học trò mới rời ghế nhà trường. Cùng học khóa 4 Hội nhà văn và cùng vào Khu V có Nguyễn Trí Huân. Lúc đó, anh đã có những sáng tác in sách, in báo. Anh vào trước chúng tôi ít ngày và với tư cách là người viết văn. Trong buổi họp đầu tiên, Bí thư chi bộ Nguyễn Chí Trung hỏi Nguyễn Trí Huân: “Anh vào đây để làm gì?”. “ Để lấy tài liệu viết văn ạ…” Ngay sau đó đến lượt tôi: “ Để học, học dân, học bộ đội ạ.” Còn trả lời khác sao được. Vừa mon men vào đây đã viết  được cái gì đâu. Còn lâu mới dám trả lời như Huân.  Âý thế nhưng Nguyễn Chí Trung lại đánh giá tôi là người đúng còn Huân phải xem lại. Khốn nỗi, sau này Huân cứ bảo tôi “khôn”.

Trong ban có hai người gắn với nhau như bóng với hình ấy là Nguyễn Chí Trung và  Nguyên Ngọc. Thân nhau và phục nhau. Không ngày nào ở cơ quan  hai người không đàm đạo, bàn bạc. Anh Trung đánh giá cao tầm  tư tưởng của anh Nguyên Ngọc. Phục về văn tài, chữ nghĩa. Bí thư Trung làm hết mọi sự vụ để trưởng ban có nhiều thời gian ngồi viết. Những sáng tác đầu tay của chúng tôi anh Trung đọc trước, nhận xét, đánh giá, góp ý sửa chữa. Tỷ mẫn tâm huyết, thận trọng. Vậy nhưng sau đó lại bảo đưa cho anh Ngọc đọc. Đôi khi có sự khác nhau trong hướng dẫn sửa bài, anh Trung bảo: Cứ theo ý anh Ngọc. Việc này rất hiếm xảy ra ở người khác.  Chỉ với anh Ngọc mà thôi. Anh Nguyên Ngọc quý và yêu  Nguyễn Chí Trung ở công việc quản lý cơ quan và đóng góp với  Quân khu trong lĩnh vực quân sự, chính trị. Thân thiết với Tư lệnh Chu Huy Mân, Nguyễn Chí Trung biết trước các trận đánh sắp nổ ra, đơn vị nào sẽ  chủ công, hướng tấn công nào là chính, hướng tấn công nào là phụ. Từ đó, họp cơ quan,  phân mỗi người bám một đơn vị thích hợp. Chẳng hạn Nguyễn Trí Huân đi với sư 3, Nguyễn Hồng đi với lữ đặc công, hướng Bình Định. Thái Bá Lợi, Nguyễn Phong Tạo, đi với Sư 2, hướng Quảng Nam… Riêng tôi và Hồng nam Nguyễn Chí Trung lấy giấy của Cục chính trị  giới thiệu xuống tiểu đoàn làm trợ lý chính trị.

Với  sự  hiểu biết, từng trải và cả sự thông minh, quyết đoán, anh  dự kiến một số tình huống có thể xảy ra ở mỗi trận đánh để chúng tôi khỏi ngỡ ngàng. Cứ đụng đến những chuyện đánh địch, con người anh đầy say mê hào hứng. Giọng anh thanh thoát và linh hoat vô cùng. Rồi chiến dịch nổ ra, anh đang ở đâu đó, tất yếu phải là chỗ  gay go nhất, ác liệt nhất, anh viết thư cho chúng tôi thăm hỏi động viên. Thư anh, tình cảm mà bốc lửa. Đến giờ, tôi vẫn còn nhớ nội dung những bức thư ấy. Anh có quan hệ mật thiết với chính ủy quân khu Võ Chí Công. Những nghị quyết của Khu ủy do anh chắp bút. Anh không nói ra nhưng mọi người đều biết. Mỗi lần học nghị quyết, Thường vụ Khu ủy lại cử anh đi truyền đạt ở các đơn vị lớn. Cơ quan tôi nhỏ thôi nhưng sẽ được nghe anh phổ biến. Mỗi đận như thế, chúng tôi nói đùa: “Chúng ta sắp nghe nghị quyết của Nguyễn Chí Trung.” Trước chiến dịch chúng tôi tranh thủ trồng rau, nuôi gà. Còn chút thời gian rãnh rỗi, anh Nguyên Ngọc dạy tiếng Pháp. Nguyễn Chí Trung nghĩ ra rất nhiều việc cho ban, cho từng người. Mỗi người được phân công phụ trách một việc cụ thể. Trưởng ban sản xuất, trưởng ban văn nghệ, trưởng ban nuôi gà, trưởng ban nấu ăn… Chúng tôi nói vui: “Cơ quan mình anh nào cũng là cán bộ phụ trách.”  Ôi! Một thời chiến tranh, cái Ban Văn học của chúng tôi sao mà vui, sao mà ấm áp, thấm đẫm tình người…

Nói về trận mạc, hiếm có người dũng mãnh bất chấp hiểm nguy như Nguyễn Chí Trung. Đi làm phái viên nhưng đụng việc anh quên ngay cái chức ấy. Với tiểu đoàn, anh như chính trị viên. Xuống đại đội anh vừa làm công tác tổ chức vừa động viên bộ đội. Vào trận, anh là lính cầm súng đánh nhau. Năm 1974, Anh đi với Sư đoàn 2 đánh Nông Sơn. Tôi theo sư 304 đánh Thượng Đức. Trận đánh ở Thượng Đức gặp khó. Bộ đội thương vong nhiều phải dừng lại, tôi nghe tin có một nhà báo của quân khu đang khuấy đảo ở cửa mở. Thì ra dứt điểm xong Nông Sơn, anh vù về quân khu báo cáo tình hình rồi xin đi tiếp, đánh Thượng Đức. Ở Thượng Đức, anh xuống ngay tiểu đoàn chủ công. Trong bom đạn mờ mịt, anh lắc đầu ái ngại cho bộ đội, rồi tức tốc tìm về chỉ huy trung đoàn, sư đoàn đề đạt ý kiến riêng của mình. Anh khẩn thiết đề nghị thay đổi vị trí mở rào. Mọi người hỏi anh là ai? Anh bảo anh là phái viên quân sự của Bộ tư lệnh quân khu. Lời nói của anh trở nên có sức nặng hơn. Anh lại lao xuống với tiểu đoàn, với các đại đội, đốc chiến. Vậy nhưng bao lần xông pha, anh chỉ bị thương chứ không bị bom đạn quật ngã. Đi gùi gạo, chúng tôi đi hai ngày, anh chỉ đi một ngày hoặc ngày rưỡi. Đường dài, leo dốc bở hơi tai nhưng anh đi liền mạch. Đi nhanh về nhanh vì cả núi công việc đang chờ ở nhà… Lụi bụi, sấp ngữa vì công việc nhưng không thấy anh kêu ca phàn nàn bao giờ.  Đọc bài, góp ý sửa bản thảo, tổ chức trao đổi nghiệp vụ, tổ chức đi theo bộ đội đánh giặc… Mười hai năm liền anh là chiến sĩ thi đua. Huân huy chương cấp cho anh nhiều vô kể. Ở Thượng Đức, buổi lễ mừng công, Bộ tư lệnh cho người tìm anh để trao huân chương nhưng không thấy anh đâu. Dứt trận đánh, anh vội vã băng đèo lội suối về quân khu báo cáo tình hình…

2. Cách mạng toàn thắng, một chương mới mở ra cho dân tộc. Vinh quang, xum họp, nhưng khó khăn vây bủa. Một số  đơn vị bộ đội giải thể, một số đi làm kinh tế. Tạp chí văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ của Ban tuyên huấn khu ủy kết thúc. Người về địa phương, người ra Trung ương. Tạp chí Quân giải phóng Trung Trung bộ còn nhưng công việc đang thay đổi, Nguyễn Chí Trung đứng ngồi không yên: “Có một đội ngũ văn nghệ sĩ trải qua chiến tranh trưởng thành trong chiến tranh, quý vô chừng. Không biết giữ, phát triển, thật là phí. Bản thân mình cũng thấy có tội.” Anh hay phàn nàn thế! Với cương vị Bí thư Đảng đoàn Văn nghệ, có quan hệ tốt với các thủ trưởng cấp trên lại giỏi thuyết phục, Nguyễn Chí Trung đã đề đạt một phương án: Chuyển một số văn nghệ sĩ từ biên chế của khu ủy sang quân đội. Gồm các anh Dương Hương Ly, Thanh Quế, Nguyễn Khắc Phục, Cao Duy Thảo, Trần Vũ Mai, Ngô Thế Oanh… Nhân sự bên Tạp chí văn nghệ Quân giải phóng không những giữ nguyên mà còn tuyển thêm Thanh Thảo, Nguyễn Đăng Kỳ, Trung Trung Đỉnh…Về dân sự, tuyển thêm Nguyễn Công Khế, Ngô Thị Kim Cúc. Hai người này chỉ ở một thời gian ngắn, sau đó chuyển đi làm báo. Lực lượng này tập trung ở hai nhà 1B Ba Đình và 10 Lý Tự Trọng. Cùng với đó, một cơ quan mới ra đời “Trại sáng tác Văn học Quân khu V”. Nguyễn Chí Trung làm trại trưởng, Phan Tứ làm trại phó. Sau chiến tranh, nhiều nhà văn, nhà thơ, muốn có thời gian quây tụ lại bàn bạc, động viên nhau viết về đề tài còn nóng rãy. Nguyễn Chí Trung đã đáp ứng được nguyện vọng đó. Trại kéo dài được 5 năm. Các nhà văn  nhà thơ chủ yếu chỉ sáng tác. Nguồn kinh phí quân đội cấp có hạn, Nguyễn Chí Trung đã thành lập một ban hành chính đắc lực phuc vụ cho cơ quan. Tư lệnh Chu Huy Mân đến thăm Trại, đã ngạc nhiên kêu lên: “Đội quân tăng gia, chăn nuôi của Trung thật cừ, phải phổ biến kinh nghiệm cho quân khu đấy nhé”. Thịt gà, trứng gà thường xuyên bổ sung thêm cho suất ăn còn khiêm tốn của bộ đội. Rau xanh chủ yếu là của nhà trồng, mùa nào thứ ấy, xanh mướt. Những năm tháng đó, Trại đã đón tiếp không biết bao nhiêu khách văn của Trung ương, của địa phương, tươm tất, nhờ có sự tự túc này. Nhưng điều ấy sẽ thành vô nghĩa nếu thành quả sáng tác văn học không xứng tầm với công sức tiền của đã bỏ ra.

3. Có thể nói cả nước thời điểm sau chiến tranh và cả đến bây giờ chưa có một mô hình trại sáng tác nào như trại sáng tác Quân khu v. Trại kết thúc đã cấp một nguồn cán bộ làm công tác báo chí văn học nghệ thuật  khá phong phú cho Trung ương và các địa phương. Trại đã góp vào thành quả chung của nền văn học Việt Nam  những tác phẩm văn học đáng kể. Nhà văn Nguyễn Trí Huân nhiều năm liền là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh cũng là người nhiều khóa liền là ủy viên BCH, là phó chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam. Nhà thơ Thanh Quế nguyên ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt nam, nguyên TBT tạp chí VHNT Đà Nẵng. Nhà thơ Thanh Thảo nguyên Tổng biên tập Tạp chí VHNT Khánh Hòa, Nhà thơ Dương Hương Ly nguyên TBT tạp chí VHNT Lâm Đồng. Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giám đốc NXB Hội Nhà văn. Nhà thơ Ngô Thế Oanh phó TBT Tạp chí thơ của Hội nhà văn… Điều quan trọng hơn, những thành viên của trại trong 5 năm ấy và  những năm sau đó đã cho xuất bản những tác phẩm văn học sáng giá, được giải thưởng Hồ Chí Minh,  giải thưởng Nhà nước và nhiều giải thưởng danh giá khác…

Suốt những năm tháng ấy, Nguyễn Chí Trung hầu như không viết được chữ nào. Anh miệt mài đọc tất cả bản thảo của trại, góp ý sửa chữa từng câu từng chữ. Có những tập trường ca như “Ở làng Phước Hậu’’ của Trần Vũ Mai, anh thuộc còn hơn tác giả. Tiểu thuyết “Vàng Crum” của Nguyễn Đăng Kỳ, trang bản thảo nào cũng có gạch xóa của ngòi bút anh, những thêm bớt anh ghi đặc kín bên lề. Đọc, tổ chức, trao đổi giúp nhau. Đương nhiên, công việc mà Cục chính trị và quân khu giao cho anh chồng chất, thời gian đâu để anh ngồi sáng tác?

Thời gian ở trại đôi lần tôi  theo Nguyễn Chí Trung đi một vài nơi. Đi Quảng Nam, anh dẫn chúng tôi về huyện Hòa Vang. Bước chân đến làng xã nào anh cũng sà vào được, hăm hở chân tình như  nơi đó chính là nơi sinh ra mình. Dân làng xúm đến vồn vã hỏi han kể chuyện. Anh là người hay quên có tiếng nhưng những dịp thế này thì nhiều người ngả mũ kính phục trí nhớ của anh. Anh kể tên từng người, nhắc đến đặc điểm tính cách của họ, thậm chí nhớ nhà ở trước đây của mỗi người, cạnh cổng có cây gì, cách đồn địch bao nhiêu buổi đường.  Những chuyện buồn vui của chính họ từ thuở nào đã quên, nhưng Nguyễn Chí Trung vẫn nhớ. Anh nhắc lại khiến họ sững sờ. Ai cũng muốn kéo Nguyễn Chí Trung về nhà mình.

Một lần khác, đến Quảng Ngãi, anh dẫn chúng tôi vào Tịnh Minh. Mới đến đầu làng, nhác tháy, mọi người đã nhận ra anh và la tướng lên: “ Ông Trung lụt! Ông Trung lụt về bà con ơi!...” Thì ra trận lụt khủng khiếp của Miền trung năm  1964, Nguyễn Chí Trung đã dùng xuồng mải miết cứu dân bị nước cuốn trôi. Cứu được họ khỏi chết ngâp, nhưng họ cũng khó sống vì không có cái ăn. Nguyễn Chí Trung đã nhân danh cách mạng buộc các nhà giàu có trong xã phải xuất kho cứu đói. Anh đã trực tiếp nấu cơm vắt thành nắm đi phân phát cho từng gia đình bị nạn. Gặp lại anh, dù đã mấy chục năm trôi qua, ai mà không rưng  rưng, ai mà không muốn ôm choàng lấy anh để tỏ lòng biết ơn trời bể. Chia tay với bà con Tịnh Minh, anh  than thở: “ Không có thời gian ngủ lại một đêm với bà con Tịnh Minh. Tội chớ! Đây cũng là quê hương của mình đó...”.

 Ở Vạn Giã-Khánh Hòa, anh có một bà dì quý anh quá con đẻ. Lần đó, bà dẫn Nguyễn Chí Trung vào nghĩa trang Đầm Bò. Khu nghĩa trang nhiều mộ xây công phu. Riêng mộ bố anh rất sơ sài. Anh khóc. Bà dì phân bua: “Cực lắm, bom đạn liên miên, họ hàng anh em mỗi người mỗi ngã, giữ được cái mộ để con cháu về thắp hương là phúc lắm rồi”. Ở Bình Thuận, anh có một cô em gái. Trông  già sụm. Khi kể về chuyện này,  anh sụt sịt: “Gia đình ly tán, nó sống trôi dạt, vật vờ. Thương  lắm. Còn có ngày gặp lại đã là may...”. Anh đã đưa cháu Hà, con của em gái ra Đà Nẵng nuôi, ăn học, coi như đứa con yêu của mình. Nào ngờ, ra trường chưa được bao lâu, cháu bị tai nạn giao thông qua đời. Anh còn có một người cháu là ca sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn. Cô cháu nghe tin Nguyễn Chí Trung đến gặp vừa vui vừa sợ hết hồn. Thế đấy. Anh nói rằng quê anh ở Khánh Hòa, Bình Thuân, hay ở Sài Gòn thì cũng khó nghi ngờ. Ấy là chưa kể thời đi tập kết ngoài Bắc anh có những vùng quê gắn bó như nơi cha sinh, mẹ đẻ…

Nhân đây xin nói thêm về quan hệ bất ổn giữa nhà văn Nguyễn Chí Trung và Nhà văn Nguyên Ngọc sau giải phóng. Trước đó là Bản đề dẫn mà anh Nguyên Ngọc và anh Nguyễn Chí Trung cực kỳ tâm huyết say mê, trình trước Đại hội các nhà văn Đảng viên. Có thể coi đây là bước ngoặt đầu tiên của sự đổi mới trong văn học. Hay, dở xin các nhà lý luận cứ bàn, nhưng quả thực đã có những nhà văn khóc  rưng rức vì xúc động, vì vui mừng khi nghe đọc bản đề dẫn này. Sự đổi chiều bắt đầu từ lúc nhà thơ Tố Hữu tới dự và phê phán tác giả của nó. Quy bản đề dẫn đã không đúng hướng. Sau đó, Đảng đoàn Hội Nhà văn đề nghị anh Nguyên Ngọc kiểm điểm. Nguyễn Chí Trung nói tức tưởi: “Nguyên Ngọc có khuyết điểm gì đâu mà nhận. Đã thế mình công khai tuyên bố: Bản đề dẫn đó có phần của mình đấy.” Nhưng rạn nứt để đến nổi hai người quay lưng với nhau lại ở một hướng  khác. Tôi không nhớ thật rõ năm đó là năm nào. Hình như là năm 85 hay 86 gì đó. Anh Nguyễn Chí Trung đi viện. Lần đầu  tôi thấy anh đi viện. Tôi và anh Nguyên Ngọc vào viện 108 thăm. Anh Ngọc và anh Trung trò chuyện rối rít tận lúc chia tay. Bỗng nhiên, anh Nguyên Ngọc nói với tôi trước lúc ra cửa viện: “Này những điều bọn mình nói với các cậu trước đây hãy quên đi nhé!”. Tôi sửng sốt. Không thể kể hết những gì anh Nguyên Ngọc nói với chúng tôi về Chủ nghĩa Mác Lê Nin về Chủ nghĩa xã hội. Không thể kể hết những điều anh dạy dỗ chúng tôi viết về cái tốt, cái xấu về những tấm gương xả thân cho lý tưởng cách mạng... Chao ôi! những điều đó bây giờ bị sổ toẹt hết sao? Còn nhớ một lần tôi đi chiến dịch về, ngẫu hứng viết một truyện ngắn mà nhân vật chính là tiểu đoàn trưởng phía địch. Anh nguyễn Chí Trung bảo tôi đưa cho anh Nguyên Ngọc. Anh Ngọc đọc xong nói:  “Miền Nam có câu: Ra khỏi ngõ gặp anh hùng. Cậu vào đây,  biết bao gương chiến đấu hy sinh của dân, của bộ đội, không viết lại đi viết về thằng địch." Một lần khác, tôi viết về một đại đội trưởng bên ta, dũng cảm chiến đấu mưu mẹo ngoan cường nhưng lại hách dịch, gia trưởng ảnh hưởng đến bộ đội. Anh Nguyên Ngọc không nói với tôi nhưng nói với một người trong cơ quan: “Người anh hùng nếu có vết nhọ trên mặt thì nhà văn nên lau vết nhọ ấy đi". Mới mon men vào nghề, lớp đàn anh tầm cỡ như anh Nguyên Ngọc đã nói không thể sai. Cái thời ấy phải thế! Cho nên hôm ở 108 tôi bị bất ngờ và ngạc nhiên biết chừng nào. Tôi quay nhìn Nguyễn Chí Trung. Mặt anh lầm lầm, nhưng không nói gì. Đi thêm vài bước, anh giật áo tôi: “Dừng lại anh dặn: Những điều bọn anh nói trước đây cơ bản đúng cả đấy...”. Có lẽ bắt đầu từ đấy chăng? Hai anh đã chớm có những suy nghĩ  khác nhau. Anh Nguyên Ngọc ca ngợi các nhà văn mà những sáng tác được coi là "Đổi mới quá khích". Anh bất hợp tác với Hội Nhà văn Việt Nam, không nhận giải thưởng Nhà nước, không nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Anh là người đứng đầu Ban vận động thàng lập Văn đoàn độc lập Việt Nam.  Anh muốn có một hội nghề nghiệp theo cách của anh. Anh muốn đất nước đi theo con đường khác, không phải con đường Xã hội Chủ nghĩa. Mặc dầu anh từng là Bí thư Đảng Đoàn Hội nhà văn Việt Nam, là phó TTK Hội Nhà văn Việt Nam.  Nguyễn Chí Trung phản đối kịch liệt những ai viết không đúng sự thật, nhất là viết về bộ đội, về chiến tranh. Đã có sự khác biệt khi đánh giá tác phẩm này, tác giả kia. Có cuốn sách anh Ngọc khen hết lời, anh Trung lại bảo: “Cán bộ chiến sĩ như trong cuốn sách ấy thì làm sao ta thắng được Mỹ chớ. Bịa đặt bậy bạ!”. Căng thẳng nhất vẫn là quan điểm về con đường đi lên của đất nước, của dân tộc. Nguyễn Chí Trung nói: “Có người bảo chậm nhất là 10 năm nữa, Chủ nghĩa xã hội sẽ không còn ở Việt Nam. Sợ tôi không sống được đến 10 năm nữa, nhưng nếu tôi chết mà lời nói kia là sự thật xin các người cứ đái vào mộ tôi”. Con người ấy cho đến lúc bị bệnh trọng, vẫn không nguôi đấu tranh cho lý tưởng mà mình theo đuổi. Vì lý tưởng đó, anh đã bỏ công sức thời gian viết cuốn: “Kinh tế chính trị” gần bốn trăm trang, khẳng định tính ưu việt của Chủ nghĩa xã hội. Vì lý tưởng đó, anh đã bỏ ra hàng tháng ròng đi mấy chục Hợp tác xã nông  nghiêp ở Quảng Nam để chứng minh với lãnh đạo cấp trên rằng: “Kinh tế tập thể vẫn phải là thành phần chủ đạo. Thực tế chứng tỏ nó đang phát triển, đi lên. Tham nhũng thất thoát không thể đổ lỗi cho doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã. Nó là biểu hiện của sự quản lý yếu kém và sự đổ đốn hư hỏng của một số quan chức.”  Đại hội XII của Đảng vừa kết thúc, tôi cứ nghĩ đến anh Nguyễn Chí Trung. Anh đang điều trị bệnh  trong viện nhưng chắc anh vẫn theo dõi sát sao diễn biến của Đại hội. Anh sẽ vui và phấn  khởi biết bao. Trước đó, anh vẫn hằng mong ước có một kết quả như đại hội vừa qua.

4. Năm 1979 Nguyễn Chí Trung được điều về tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cùng làm phó TBT với anh là các Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh và Xuân Thiều. Ba ông phó, không có TBT mà tính cách lại hết sức khác nhau, những trục trặc xảy ra là điều khó trách. Phó chủ nhiệm TCCT Nguyễn Nam Khánh đã nhìn thấy sự bất ổn, liền cử Nguyễn Chí Trung đi học lớp chính trị cao cấp trong quân đội, đồng thời điều nhà văn không chuyên Dũng Hà về làm TBT. Một niềm say mê mới lại bừng dậy trong con người Nguyễn Chí Trung.  Anh là học sinh suất sắc của lớp. Thầy giáo chủ nhiệm thừa nhận anh đã đưa ra một cách học  mới: Đề xuất, tranh biện là chủ yếu, kết hợp lấy thực tiễn soi sáng lý luận. Hết lớp học, Thủ trưởng Nguyễn Nam Khánh nói với anh: “Thôi, đừng về tạp chí làm gì. Bộ đội tình nguyện ở Căm- Pu- chia đang cần một người như Trung.”  Không vui vẻ gì nhưng Nguyễn Chí Trung nhanh chóng khoác ba lô lên đường.  Anh được bổ nhiệm là Phó Chủ nhiệm chính trị Cơ quan  đại diện Bộ quốc phòng hướng Tây Nam. Nhập cuộc, anh lại say mê như ngày nào. Lại đắm say với phương án tác chiến. Lại ngập chìm với chiến thuật thủ đoạn đánh địch. Lại công tác tư tưởng cho bộ đôi. Lại cầm súng vào trận, dũng mãnh và quyết chiến như những ngày đánh Mỹ… Không biết có bao  người Việt yêu đất nước Căm- Pu- Chia, yêu người dân Căm- Pu- Chia như Nguyễn Chí Trung? Trận đánh ỏ Biển Hồ anh chủ động đi giải nguy cho đồng đội. Anh bị thương nặng, mặt trận điều trực thăng đến cứu nhưng máy bay chưa tới nơi đã  lao xuống Biển  Hồ. Hôm đó, tiểu đoàn Tây Đô triển khai truy quét địch trên Biển Hồ. Tình huống không lường đã xảy ra: Tiểu đoàn đụng căn cứ Trung đoàn 530, bị lọt vào vòng vây của địch. Hải quân của bạn và Mặt trận 890 tổ chức giải nguy. Nguyễn Chí Trung xin được dùng một xuồng chỉ huy vào trận. Trong đà đánh đuổi địch, xuồng Nguyễn Chí Trung lâm nạn. Địch bủa vây vòng trong vòng ngoài. Cậu cảnh vệ bị thương, trước lúc nhắm mắt còn nói: Thủ trưởng ơi! Dừng lại đi. Địch đông lắm! Lúc này không thể dừng, không thể rút. Đánh thẳng vào sở chỉ huy kia, hoặc hy sinh hoặc thay đổi tình thế. Nguyễn Chí Trung nghĩ thế và lệnh cho lái xuồng tăng tốc. Anh lên mũi xuồng, nắm lấy khẩu đại liên quét đạn tới tấp vào bọn địch phía trước. Bỗng cánh tay lẫy cò nãy lên, nhức nhói… Trận đánh kết thúc, ta thắng lớn. Trung đoàn địch bị phản công, chạy tán loạn. Nguyễn Chí Trung nói: “Kết quả lớn nhất là ta có bài học kinh nghiệm đánh địch trên nước. Không phải đánh mùa khô mà đánh ngay vào mùa mưa. Được hỏi về chiếc máy bay trực thăng đến cứu, Nguyễn Chí Trung nói: “Kẻ phản bội bao giờ cũng rất nham hiểm. Trong trường hợp éo le, khẩn cấp như thế, hắn (lái phụ) buộc lái chính hạ độ cao và ra khỏi buồng lái. Hắn xô một bác sĩ và một y sĩ khỏi máy bay. Nhưng hắn đã nhầm, lái chính khóa máy, đâm thẳng xuống Biển hồ. Hắn bị bắt, còn lái chính đã được cứu sống. Nhắc đến những chuyện này anh nhăn mặt, nhăn mũi. Anh ghét và tởm lợm vô cùng những kẻ phản bội.

5. Đến cuối đời, Nguyễn Chí Trung vẫn thui thủi một thân một mình. Chúng tôi biết anh có những mối tình khá lãng mạn và sâu thẳm. Tình yêu cũng cần thời gian. Một người lúc nào cũng lấn bấn, bận rộn công viêc như anh, khó thay. Về hưu, tưởng sẽ có thời gian cho mình nhưng chợt nhân ra: “Tuổi lớn rồi, tính chi chuyện đó nữa”. Nhưng anh đã có một tình yêu khác. Tình yêu với Văn học nghệ thuật. Anh viết không nhiều nhưng sớm nổi tiếng với truyện ngắn “Bức thư Làng Mực”. Những năm ở chiến trường, do nhu cầu phải có bài cho tạp chí, anh viết một vài truyện ngắn và một số bài ký. Anh chỉ dành vài hôm để viết. Ngày cuối cùng khi bản thảo đưa xuống nhà in, mới xong. Dẫu thế, từng câu từng chữ của anh được cân nhắc cẩn trọng. Bao giờ anh cũng chú ý đến chất văn trong sáng tác của mình. Bản thảo trước khi đưa in, anh đọc cho chúng tôi nghe, nhờ nhận xét, góp ý. Truyện và ký của anh có chất hào hùng nhưng vẫn mềm mại uyển chuyển. Chất lý tưởng quán xuyến từ đầu đến cuối. Mạch văn, bay bổng, trữ tình. Tôi nhớ mãi lần đầu quân ta tấn công Thượng Đức bất thành, phải dừng lại kiểm điểm rút kinh nghiêm.  Đêm đó, đài tiếng nói Việt Nam đọc bút ký: “Khi dòng sông ra đến cửa” của anh. Giọng đọc trong trẻo của cô phát thanh viên vút lên niềm lạc quan, báo hiệu ngày toàn thắng đang đến. Bài viết đầu tháng 4-1974  có tính hùng biện khái quát toàn chiến trường mà lại  như viết cho mọi sư đang xảy ra ở Thượng Đức vậy. Thú thực, vào cái giây phút ấy, tôi đang hoang mang, nghe xong bài ký bỗng bình tâm trở lại. Sáng ra, tôi khoác ba lô từ Trung đoàn xuống tiểu đoàn chủ công- nơi Nguyễn Chí Trung đang hướng dẫn bộ đội dùng bộc phá liên tục mở cửa. Những bài viết tương tự sau này được tập hợp trong các tập ký và truyện ngắn: Đà Nẵng; Bức thư Làng Mực; Hương cau; Khi dòng sông ra đến cửa.. Nếu phải tìm những nhà văn chắt lọc câu chữ, chọn những sáng tác rời vào tập, kỹ lưỡng, khó tính, nhất định Nguyễn Chí Trung đươc ghi vào danh sách đó. Về hưu, anh còn vô khối công việc phải làm như làm sách, ảnh về đoàn Văn công Quân khu V mà một thời anh là trưởng đoàn. Đọc, chọn bài, in tập “Văn nghệ sĩ liên khu 5. Lý tưởng- nhân cách- sáng tạo”… Sách không chỉ tập hợp chân dung một số văn nghệ sĩ tiêu biểu trong văn thơ, hội họa điện ảnh, ca kịch… của Liên khu 5 mà còn tìm ra những bài viết tiêu biểu của họ, về họ. Anh lo đất, lo đá, chạy tiền, thuê khắc bia tưởng niệm những văn nghệ sĩ hy sinh trên chiến trường khu V. Rồi nữa, đi lại nhiều lần sang Căm- Pu- Chia, làm nốt những việc còn dang dở và lấy thêm tài liệu để viết. Nhưng dù sao anh cũng có nhiều thời gian hơn cho sáng tác. Tiểu thuyết “Tiếng khóc của Nàng Út” dồn nén tư tưởng, tình cảm bức xúc của nhà văn về một thời khốc liệt của chiến tranh. Yêu nhân dân vô cùng, gắn bó máu thịt với những vùng đất từng trãi, ngòi bút Nguyễn Chí Trung đã có sự  bứt phá, vượt lên chính mình. Anh đã chọn đúng giọng điệu phù hợp với chất liệu cuộc sống thời đó. Chất văn hóa được anh nghiên cứu rất kỳ công và đưa vào tác phẩm nhuần nhuyển. Có vốn sống dồi dào nhưng không lạm dụng. Anh cất công đi lại những nơi miêu tả trong tác phẩm, để lấy lại cảm xúc. Hồn vía hiện thực cuộc sống cùng với bút pháp lảng mạn của anh đã tạo nên một “ Tiếng khóc của Nàng Út” có sức lôi cuốn người đọc. Tập tiểu thuyết đầu tay cũng là tập sách đã giành cho anh ba giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước, giải thưởng ASEAN, Giải thưởng Bộ quốc phòng. Anh lại viết về Căm- Pu- Chia, một dân tộc anh vô cùng yêu thương, một chiến trường đẩm máu và nước mắt anh đã gắn bó mấy chục năm liền. Xương máu anh  đổ xuống đất đó kém gì xương máu anh đổ xuống đất Việt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ. Anh đang viết  với tình yêu bao la và sâu thẳm. Anh đã đọc một số cuốn sách viết về Căm- Pu- Chia và anh nói: “Cuộc chiến  của quân tình nguyện Việt Nam ở Căm- Pu- Chia  không  phải như vậy. Mình sẽ viết khác”. Mong sao sức khỏe anh hồi phục để viết trọn vẹn cuốn sách. Thế mà…

NGUỒN: VANVN.NET 14/6/2016

 

Các bài khác:
· "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH"-TẦM CAO CỦA VĂN HỌC CHIẾN TRANH PHƯƠNG ĐÔNG
· NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THƠ VĂN CAO
· MƯA ĐỜI SAU
· NGUYỄN KHẮC PHỤC - BÓNG DÁNG CỦA MỘT NHÀ TRIẾT HỌC
· CHÙM THƠ NGUYỄN MINH PHÚC
· CHÙM THƠ NHIỀU TÁC GIẢ
· LƯU TRỌNG LƯ: THANH KHIẾT MỘT HỒN THƠ
· NGƯỜI "HẲN HOI" TRONG LÀNG THI CA
· HÌNH TƯỢNG TRƯƠNG CHI TRONG CA KHÚC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
· HOÀNG CẦM - NGHĨ LÚC NẰM IM
· TRANG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
· ĐỔI MỚI THƠ, KHÓ THAY!
· THU BỒN - NHƯ MỘT CÁNH RỪNG NGUYÊN SINH
· TRANG THƠ BÈ BẠN TIỄN TRẦM THỤY DU
· HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU
· SAU LÁ BỒ ĐỀ
· CÂU KIỀU TẶNG TỔNG THỐNG OBAMA
· HOA NÍP ƠI, VỘI THẾ!
· "CÕI EM" TRONG "VỀ KINH BẮC" CỦA HOÀNG CẦM
· VĨNH BIỆT TRẦM THỤY DU (DƯƠNG THÀNH VINH)

 

  
Gia đình Bích Khê