DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
MỘT BIỂU TƯỢNG GIÀU Ý NGHĨA

                                                                              TÂM ANH
Văn học cách mạng nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng khởi phát từ năm 1945, trải qua mấy thập kỉ đã phát triển thành dòng văn học lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Trong chiến tranh, thơ ca cách mạng đã khơi dậy tinh thần chiến đấu của mọi người dân Việt Nam, làm nhiệm vụ cổ vũ “lớp cha trước, lớp con sau” lên đường ra mặt trận giành lại độc lập, tự do, danh dự và phẩm giá của dân tộc. Thời hậu chiến, thơ ca cách mạng không còn giữ vai trò chủ đạo nhưng vẫn đạt được nhiều thành tựu trong nền văn học nước nhà. Thơ ca ấy đã đóng góp cho thi đàn Việt nhiều hình tượng đặc sắc mang ý nghĩa biểu tượng sống mãi với thời gian. Những biểu tượng để lại cho mỗi người đọc những dư ba xúc động, ngậm ngùi và sự lắng sâu trong suy tưởng. Và theo cái nhìn chủ quan của chúng tôi, một trong những biểu tượng tiêu biểu nhất của thơ ca cách mạng là hình ảnh nấm mộ.

Nhắc đến mộ chí là nhắc đến sự từ biệt cuộc sống dương gian của một kiếp người. Trong ba mươi năm kháng chiến cứu quốc, đã có biết bao nhiêu người con đất Việt nằm xuống, bao nhiêu nấm mộ được dựng lên. Nấm mộ đã đi vào thơ ca kháng chiến như một chứng nhân lịch sử cho giai đoạn đau thương, hào hùng bậc nhất của dân tộc. Và các nhà thơ trong mỗi thời điểm, hoàn cảnh lại có những cách khai thác khác nhau biểu tượng bi thương này. Nấm mộ trong Tây Tiến của Quang Dũng mang phong vị xưa với những áo bào, biên cương, viễn xứ và dòng sông Mã hùng vĩ tựa bờ sông Dịch Thủy trong sử sách ngân lên khúc tráng ca tiễn những người con Hà Nội hào hoa về với tiên tổ:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Nấm mộ trong thơ Hoàng Lộc giản đơn, chân chất, mộc mạc thô sơ như tình cảm của đồng đội với người nằm lại trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp: Ở đây không gỗ ván/ Vùi anh trong tấm chăn/ Của đồng bào Cửa Ngăn/ Tặng tôi ngày phân tán (Viếng bạn).

Người đồng đội của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã yên nghỉ giữa vùng đất bom đạn đào trơ, có một cây xuân thành biển khắc tên người đã ngã xuống và những cây trầm thơm ngát như tâm hồn người chiến sĩ: Đất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn/ Cây trầm cháy dở thay nén nhang/ Cây trầm cháy rồi hương cứ thơm(Nấm mộ và cây trầm).

Nấm mộ chiến sĩ trong Mồ anh hoa nở của Thanh Hải tràn ngập sắc hương hoa hồng như tình yêu, nỗi mến thương của đồng bào đối với người cộng sản kiên trung: Mộ anh trên đồi cao/ Cành hoa này em hái/ Vòng hoa này chị đơm/ Cây bông hồng em ươm/ Em trồng vào trước cửa.

Thời chiến, do những yếu tố khách quan, những người lính đã hi sinh nằm cách xa nhau. Đến thời bình, đất nước và nhân dân đón các anh về quây quần bên nhau tại địa danh đã trở thành huyền thoại: nghĩa trang Trường Sơn. Những nấm mộ liền kề san sát nhau trải dài về phía chân trời: Nằm kề nhau/ Những nấm mộ giống nhau/ Mười nghìn bát hương/ Mười nghìn ngôi sao cháy/ Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng (Khát vọng Trường Sơn – Nguyễn Hữu Quý).

Bên cạnh những nấm mộ thật còn có những ngôi mộ khác làm lòng người xót xa vì tính chất đặc biệt của chúng. Đó là những ngôi mộ gió, nơi lưu giữ thể phách tượng trưng của những người chiến sĩ đã ngã xuống vì chủ quyền biển đảo thiêng liêng của dân tộc. Những ngôi mộ mà đất thành xương cốt/ Cứ gọi lên là rõ hình hài/ ...cát vun thành da thịt/ Mịn màng đi, dìu dặt bên trời (Trịnh Công Lộc). Đó là dòng sông quê hương nơi đoàn quân cảm tử yên giấc ngủ cuối cùng sau chiến công lẫy lừng: Có thể nào quên những con người/ Tóc còn xanh lắm, tuổi đôi mươi/ Dám đổi thân mình lấy tàu giặc/ Nụ cười khi chết hãy còn tươi (Vàm Cỏ Đông – Hoài Vũ).

Nấm mộ trước hết là biểu tượng của nỗi đau đớn khôn nguôi khi người ở lại tiễn người ra đi. Đó là nỗi đau của đồng đội tiễn đồng đội: Chúng mình có ở cách xa nhau/ Một thước đất sao Hùng không nghe mình gọi…?/ Một thước đất hóa khoảng trời vời vợi/ Từ nay mình thương nhớ Hùng hơn xưa (Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu). Là nỗi đau của người yêu mất người yêu: Ai viết tên em thành liệt sĩ/ Bên những hàng bia trắng giữa đồng/ Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí/ Một tấm lòng trong vạn tấm lòng  (Núi đôi – Vũ Cao). Là nỗi đau của người chồng mất vợ: Thôi em nằm lại/ Với đất lành Duy Xuyên/ Trên mồ em có mùa xuân ở mãi/ Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên (Bài thơ về hạnh phúc – Dương Hương Ly).
 

hinh nen de may tinh 12

Nếu như trong thời chiến, người ở lại đau đớn, thương tiếc vì người ra đi tuổi đời còn quá trẻ, nhiều người lính hi sinh khi chưa kịp yêu một người con gái/ Khi ngã vào lòng đất vẫn con trai (Trần Mạnh Hảo) thì ở thời bình, nỗi đau đã có sự chuyển hóa, xa xót, sâu lắng da diết và nghẹn ngào hơn. Đó là nỗi dằn vặt của những người ở lại khi chưa tìm thấy (một cách chính xác) hài cốt con em mình. Chiến tranh đằng đẵng, thời gian phủ bụi vạn vật, sự tàn lụi của trí nhớ, sự ít ỏi của thông tin khiến công việc tìm kiếm gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn xảy ra những trường hợp thật éo le: hai gia đình cùng lập bia cho một nấm mộ: Người Quảng Trị, người Thái Bình/ Dưới ba tấc đất cốt hình của ai?/ Vô danh ba chục năm dài/ Giờ chung một mộ khắc hai tên người! (Vạn lí Trường Sơn – Nguyễn Hữu Quý).

Ở chiều kích ngược lại là nỗi cảm thương cho những nấm mộ liệt sĩ vô danh không người thân nhang khói, đồng đội và nhân dân phải thay nhau chăm sóc: - Chị đặt hoa nhầm rồi/ Mộ anh ấy ở bên tay trái/ Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại/ Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!/ - Chị hiểu ý em rồi/ Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó/ Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ/ Viếng mộ anh có chị đến đây rồi (Viếng mộ - Trần Ninh Hồ).

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo trong trường ca Đất nước hình tia chớp đã xây dựng nên hình ảnh nấm mộ thật độc đáo. Nấm mộ an ủi người mẹ già đừng buồn vì sự ra đi của người con. Nhưng càng an ủi, chúng ta càng cảm nhận được những nhức buốt trong lòng người ở lại: Mẹ ơi biết mẹ bế bồng/ Trái tim con đập trong lòng mộ sâu/ Mẹ ơi con chẳng chết đâu/ Con nằm con ngủ qua đau thương này…/ Mẹ đừng buồn nhé mẹ ơi/ Con mơ cho mẹ ngày mai thật nhiều/ Cái phần sướng khổ thương yêu/ Của con mẹ hãy chia đều nhân gian.../ Mẹ ơi đừng có khóc than/ Con nằm xuống để hoà tan vào đời/ Trong lòng đất mẹ lòng nôi/ Con nghe sự sống đang hồi sinh ra.

 Ý nghĩa thứ ba của hình ảnh nấm mộ là biểu hiện niềm căm phẫn trào dâng trong lòng người ở lại. Nấm mộ không chỉ là hình ảnh của đau thương mà còn biểu trưng cho ý chí chiến đấu, tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc. Nấm mộ của người chiến sĩ cộng sản trong Mồ anh hoa nở của nhà thơ Thanh Hải hiện lên với sắc hoa tươi thắm, ngạt ngào hương thơm biểu thị ý chí chiến đấu quật cường không sợ kẻ thù bạo tàn của nhân dân miền Nam: Chiếc quan tài sơn son/ Đã đưa anh về mộ/ Đi theo sau hồn anh/ Cả làng quê, đường phố/ Cả lớn nhỏ, gái trai/ Đám càng đi càng dài/ Càng dài càng đông mãi.

Khi tiễn biệt, những người lính nhắc thầm với đồng đội: Mai mốt bên cửa rừng/ Anh có nghe súng nổ/ Là chúng tôi đang cố/ Tiêu diệt kẻ thù chung (Viếng bạn – Hoàng Lộc).
Và họ hành động: Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc/ Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường/ Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương/ Anh nổ súng (Bài thơ về hạnh phúc – Dương Hương Ly).
Ngợi ca công lao của người ngã xuống cũng là một nét nghĩa khác của hình ảnh nấm mộ. Nhà thơ Xuân Diệu khi viếng mộ anh hùng Bế Văn Đàn đã cảm khái làm nên bài thơ Mộ Bế Văn Đàn. Trong bài thơ, Xuân Diệu ngợi ca Bế Văn Đàn Tất cả tinh anh đã hiến cho đời..., không giữ lại cho mình một cái gì dù chỉ là hài cốt. Nhà thơ cũng khẳng định nhờ có chiến công của người anh hùng và đồng đội mà giờ đâychim ca hoa nở/ Đất Tổ quốc là một nền nhung đỏ.

Sau cùng, tùy hoàn cảnh, địa điểm, hình ảnh nấm mộ còn gợi lên nhiều suy tưởng sâu xa. Trước sự ra đi của một con người, người ở lại có nhiều suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc chiến, về cuộc đời, về thân phận con người. Khi người vợ vĩnh viễn ra đi, bên cạnh những đau đớn tột cùng, nhà thơ Dương Hương Ly đã có những chiêm nghiệm lớn về hai chữ hạnh phúc của đời người. Với ông hạnh phúc không chỉ là được sống bên nhau mà còn là sự cống hiến cho lí tưởng, cho đất nước: Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng/ Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra/ Cho đến ngày cất bước đi xa/ Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt. Là được sống đẹp, sống đúng nghĩa với người mình yêu: Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống/ Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu.

 Với Chế Lan Viên, những nấm mộ nằm hàng dài trong nghĩa trang Điện Biên lại gợi nên suy tư về hòa bình, về hạnh phúc thật sự của nhân dân khi được phủ kín bởi màu vàng của thóc, màu của ấm no:Thóc của dân/ Che kín mộ anh hùng. Hạnh phúc, ấm no đã tái sinh từ cái chết. Sự ra đi anh dũng của những người anh hùng là giá đỡ, là điểm tựa, là nguồn cội cho hạnh phúc ấm no ngày hôm nay.

Do sự vận động khách quan của lịch sử dân tộc, hình ảnh nấm mộ xuất hiện nhiều trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong tương lai, hình ảnh nấm mộ sẽ vẫn xuất hiện trong văn học Việt. Nhưng hi vọng rằng đó là những hình tượng được các nhà văn xây dựng để phản ánh quy luật sinh, lão, bệnh, tử của đời người chứ không phải là chứng nhân cho một giai đoạn dài đau thương, mất mát của dân tộc.
 T.A
 VNQĐ

 

Các bài khác:
· TIỄN NGUYỄN BẮC SƠN, NHỚ MỘT CÂU KINH...
· 7 THÓI TẬT CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC HÔM NAY
· MỘT BÀI THƠ ĐẶC SẮC VỀ ĐÀN BÀ CỦA PHẠM NGỌC THÁI
· CHÙM THƠ MAI DIỆP VĂN
· NGUYỄN KHẮC PHỤC VÀ TÌNH YÊU ĐẾN MUỘN
· NGƯỜI LẶNG LẼ Ở SỐ 9 NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
· LÂM THỊ MỸ DẠ VÀ SỰ ÁM ẢNH VỀ CÁI ĐẸP CỦA TÂM THỨC HIỆN SINH
· ĐINH TRẦM CA - RU KỈ NIỆM BUỒN
· CHUYỆN NHÀ VĂN THI RỚT MÔN VĂN
· CHUYỆN GIA ĐÌNH VĂN SĨ NƠI ĐẤT VÕ
· LÂM THỊ MỸ DẠ - CHO ANH TỰA VÀO EM
· THƠ VỀ MÙA THU CỦA TRẦN QUANG QUÝ
· CHÙM THƠ BÁO HIẾU CỦA MAI BÁ ẤN
· GIÁ TRỊ THỰC CỦA THI SĨ CHẮC CHẮN SẼ CÒN LẠI VỚI MUÔN ĐỜI
· TRƯỜNG CA CON ĐƯỜNG THỨC
· TRƯỜNG CA NGUYỄN ANH NÔNG: ĐỐI THOẠI MỞ - ĐA CHIỀU
· CHÙM THƠ LÊ THỊ MINH THU
· NỮ SĨ NGÂN GIANG - TÀI TÌNH CHI LẮM CHO TRỜI ĐẤT GHEN...
· KHƯƠNG HỮU DỤNG - MỘT ĐỜI THƠ NỐI HAI THẾ KỶ
· NGUYỄN BẮC SƠN - THEO TRÁI PHONG DU NÍU GIÓ...

 

  
Gia đình Bích Khê