DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
THẾ HỆ THƠ CHỐNG MỸ - THẾ HỆ CHÍN MUỘN

                                                   Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha

Trong lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam, thế hệ Thơ Mới là thế hệ chín sớm. Họ đều thành danh từ thuở thanh xuân. Sở dĩ có hiện tượng đó vì phản ứng văn hóa của thời ấy. Đất nước ta từ bao đời đã chịu ảnh hưởng lớn của văn minh Trung Quốc và văn minh Ấn Độ. Nhưng khi có văn minh phương Tây như những giọt xúc tác mạnh mẽ vào, thì lập tức đã gây nên một phản ứng thăng hoa cực độ khiến cho thế hệ Thơ Mới nhanh chóng xuất hiện như một thế hệ chín sớm. Đến thế hệ chống Mỹ thì tình hình lại khác.

Thơ thời chống Mỹ có thể do nhiều người làm ra. Đó là các nhà thơ thời Thơ Mới – một thế hệ “chín sớm” nhờ xúc tác của văn minh phương Tây giải thoát được sự tù hãm trong văn minh Trung Quốc và Ấn Độ vài chục thế kỷ - bằng nỗ lực của mình đã bươn trải qua thời chống Pháp và cô đúc trong thời chống Mỹ như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh… Đó là các nhà thơ thời chống Pháp - thời ý thức cách mạng đồng nghĩa cái chết của một người tự do với hạnh phúc - cũng bằng nội lực của mình đã thật đĩnh đạc trong thời chống Mỹ và cô đúc trong hôm nay như: Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Trần Dần, Lê Đạt… Song tên gọi “Thế hệ thơ thời chống Mỹ” chỉ là để chỉ thế hệ các nhà thơ có tuổi thơ trong thời chống Pháp, và tuổi thanh niên ở thời chống Mỹ. Và giờ đây, người trẻ nhất cũng đã bước vào tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” tức là năm 1975, nhà thơ ấy 18 tuổi. Cái tuổi của thế hệ thơ thời chống Mỹ thật giống cái tuổi của nhà thơ Lê Thánh Tông và bạn thơ Hội Tao Đàn. Tấm bé cũng phải trôi dạt về Quảng Ninh để tránh bị tiêu diệt và khi tới tuổi 17 thì bắt đầu một cuộc Nam chinh Bắc chiến đến lúc lâm chung. Viết đến đây, sao tôi cứ nhớ đến Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Trọng Định, Phùng Khắc Bắc, Trần Vũ Mai, Đào Cảng, Tường Vân, Tô Hà, Đào Ngọc Vĩnh, Nguyễn Thái Vận, Đỗ Nam Cao… Họ, có người đã hy sinh trong chiến tranh, có người đã sống trọn một thời dài chiến tranh và đã ra đi mãi mãi ở độ tuổi ngũ thập tri thiên mệnh hoặc lục tuần.

Ở trên, tôi đã nói về thế hệ Thơ Mới - thế hệ “chín sớm” và đã cắt nghĩa ngắn gọn vì sao họ “chín sớm”. Đối với thế hệ thơ thời chống Mỹ, tôi muốn dùng khái niệm ngược lại: Chín muộn như Văn Cao đã viết trong bài “Sự sống thật” năm 1970. Nhưng vì sao “chín muộn”?

Cuộc chiến tranh chống Mỹ là một cuộc vật lộn lớn nhất và phức tạp nhất thế kỷ này ở Việt Nam. Thế hệ nhà thơ xuất hiện trong cuộc chiến tranh này hoặc chưa có thời gian lùi đủ lớn để hiểu hết sự phức tạp trên, hoặc đã hiểu thấu đáo rồi thì cũng phải dè dặt phát ngôn cho cùng pha với sự đổi mới của toàn xã hội. Bởi vậy, họ không thể lấp lánh tỏa sáng ngay đầu thời thanh xuân như các nhà thơ thời Thơ Mới được. Họ cần thời gian ngẫm nghĩ và cần thời gian tìm cách biểu hiện độc đáo những ngẫm nghĩ của mình sao cho khác với thời Thơ Mới, thời chống Pháp. Bởi vậy, thế hệ thơ chống Mỹ có thể chia rõ ràng thành bốn phần. Phần đầu từ Hiệp định Genève đến 30-4-1975. Phần hai từ 30-4-1975 đến 1986. Phần ba từ thời đổi mới mở cửa đến hết thế kỷ 20. Phần bốn từ đầu thế kỷ 21 đến nay và tiếp tục về sau nữa.

Ở phần đầu, có thể nói một cách tổng quan là phần tạo ra những ấn tượng của những phác thảo, những ký họa thơ. Nó như chương đầu của bản giao hưởng được chơi ở tốc độ nhanh. Nhanh vì các sự kiện xảy ra dồn dập của chiến tranh. Các nhà thơ lấy xúc cảm làm chính vì không có nhiều thời gian để ngẫm nghĩ. Ngẫm nghĩ thì sự kiện khác sẽ đè lên. Tuy nhiên càng về sau thì cung bậc của ngẫm nghĩ đã bắt đầu xuất hiện qua trường ca “Bài ca chim Chrao” của Thu Bồn từ 1965, đến “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, thơ của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Thanh Thảo chẳng hạn. Chương tiếp theo được chơi với tốc độ chậm, ở đấy, cung bậc ngẫm nghĩ, suy tư đã dần dà chín chắn, dù thời hậu chiến, chúng ta phải sống trong quan liêu, bao cấp và tiếp tục dấn thân trong chiến tranh biên giới. Đó là thời kỳ xuất hiện nhiều trường ca gây tiếng vang như  “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Sông Mê Kong bốn mặt” của Anh Ngọc, “Mặt trời trong lòng đất” của Trần Mạnh Hảo, “Căm Pu Chia hy vọng” của Thu Bồn… và những chùm thơ ngắn của Nguyễn Duy, Thanh Tùng, Đỗ Minh Tuấn, “Tản mạn thời tôi sống” của Nguyễn Trọng Tạo… Nhưng do vẫn còn bị bao cấp tư tưởng quá nặng nề, các vấn đề bi kịch thực sự trong chiến tranh vẫn chỉ được lướt qua mà chưa được đào sâu tới tận cùng bản chất. Chương tiếp nữa đúng theo nghĩa giao hưởng thời cổ điển từ Beethoven, là chương xuất hiện những cung bậc bông đùa, giễu cợt. Chương này rơi đúng vào thời kỳ đổi mới, tư tưởng cởi mở hơn. Thơ và trường ca lúc này đã hướng tới sự đào sâu về ngẫm nghĩ ở nội dung và tìm kiếm cách tân về hình thức. “Khối vuông ru bích” của Thanh Thảo là tác phẩm giao thời giữa hai thế kỷ. Lúc ấy, lại thấy xuất hiện “Trường ca biển” của Hữu Thỉnh, “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo, trường ca “Sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu… và đặc biệt là tập thơ “Một chấm xanh” của Phùng Khắc Bắc. Bên cạnh đó là những bài thơ dài của Nguyễn Duy, Trần Vàng Sao, Nguyễn Khoa Điềm… Chương cuối bắt đầu từ thế kỷ mới mang sắc thái một đoạn kết huy hoàng đã diễn ra, đang diễn ra và sẽ diễn ra với sự xuất hiện của các trường ca “Trầm tích” của Hoàng Trần Cương, “Đổ bóng xuống mặt trời” của Trần Anh Thái, “Những khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn… Với tôi - Nguyễn Thụy Kha, là “Năm tháng và chiều cao”, “Trường ca ngắn - kịch thơ” và tập thơ “Thời máu xanh”.

Chính cái lúc họ lặng lẽ kiếm tìm như thế thì một thế hệ thơ sau chiến tranh bắt đầu hình thành và trưởng thành. Thế hệ thơ sau chiến tranh tuy có đôi chút mới mẻ về giọng điệu, cách cảm, cách nghĩ và lại lợi thế ở sự tự do ngôn luận, trong mười năm nay dường như có lúc đã bồng bềnh quá so với cái thực mà họ có do sự vồ vập rất nghề nghiệp của báo chí. Nhưng thử hỏi họ đã ngẫm nghĩ được điều gì thật sâu sắc cho cái thực trạng cuối thế kỷ này đang dần khép lại trong ba năm tới. Chắc chắn là chưa có. Họ với mọi cố gắng thì cũng chỉ là để tạo nội lực làm ra thế hệ thơ đầu tiên của thế kỷ 21 mà thôi. Còn công việc về chiến tranh, tôi tin chắc là phải do thế hệ thơ thời chống Mỹ đảm nhiệm. Dù muộn thì cũng đã đến lúc chín rồi. Dù phải chịu những thiệt thòi mà thế hệ trước che lấp, thế hệ sau “làm reo”, những nhà thơ đích thực của thời chống Mỹ vẫn phải lãnh nhận trách nhiệm nặng nề này trên đôi vai từng trải của họ. Đã chịu sài đẹn vì thiếu ăn ngày thơ nhỏ thời chống Pháp, đã chịu cùng cực gian khổ bệnh tật và ác liệt ngày thanh niên thời chống Mỹ, họ còn chịu di căn chiến tranh trong chính bản thân mình và ở những đứa con của mình. Ai đã từng dấn thân năm tháng ấy, làm sao có thể nói mạnh được điều gì về sức khỏe khi tất cả đã xâm thực, đã vôi hóa vào tuổi tác? Vậy họ có quyền được phát ngôn. Và chỉ họ mà thôi. Nếu đất nước còn hồng phúc, thì với tài năng của mình, họ sẽ tạo ra những đỉnh cao cuối thế kỷ này không kém gì các đỉnh cao phía trước. Còn nếu đất nước phúc nhỏ, phận mỏng đã chót sinh ra một thế hệ vô tài thì bằng những dày dạn của mình, nhất định thế hệ thơ thời chống Mỹ cũng làm được một cây cầu chắc chắn, vững chãi nối đỉnh cao xưa với đỉnh cao trước mặt. Dù làm cây cầu thì nó cũng đáng được trân trọng trong lịch sử văn học. Trân trọng ngàn lần.

Tôi nói “thế hệ thơ thời chống Mỹ” là còn để muốn mở rộng thế hệ này ra với tất cả những nhà thơ có khai sinh như thế mà là người Việt chứ không chỉ riêng các nhà thơ tham gia chiến tranh trực tiếp, bởi vì những năm tháng ấy, dù ở góc thanh bình nhất hoặc đi học nước ngoài, họ vẫn có góc nhìn riêng của họ về chiến tranh. Điều này cũng xin các nhà văn học sử, các nhà phê bình xem xét. Thời Thơ Mới, có những nhà thơ được khẳng định giữa đời sống là vì có Hoài Thanh - Hoài Chân. Thế hệ thơ thời kỳ chống Mỹ cũng cần những Tử Kỳ kiểu Hoài Thanh - Hoài Chân như thời Thơ Mới. Hình như các Tử Kỳ này đang còn “mai danh ẩn tích” giữa những ồn ào hôm nay.

Song dù thế hệ nào thì cuối cùng khi nghĩ đến cuộc bình chọn Top ten, đời sống vẫn không thể hòa hoãn và nhu nhược được. Vì vậy, thế hệ nào cũng có những nhà thơ ít tài nhưng lại nhiều lo sợ bị lãng quên. Đấy là điều ồn ào luôn luôn diễn ra ở cái đất nước nhỏ bé giống như một ngôi làng nới rộng như đất nước ta. Đã đến với thơ thì phải chấp nhận chết vì thơ. Nếu anh sống vì thơ thì thơ anh sẽ chết. Nhưng ai đã dám dũng cảm chết vì thơ mà không mắc bệnh cuồng vĩ? Khó thay. Không chỉ riêng ở các nhà thơ, khái niệm “chín muộn” còn đúng ở các nhạc sĩ, họa sĩ, các nhà điện ảnh, sân khấu, kiến trúc… có chung khai sinh như “thế hệ thơ thời chống Mỹ.

Có người còn băn khoăn vậy thơ chống Pháp và thơ chống Mỹ có gì khác nhau. Khác chứ. Thơ chống Pháp được khởi lên từ thời đại của sự ý thức cách mạng. Lúc ấy, cả dân tộc thăng hoa từ kiếp nô lệ sang đời tự do. Chết như một người tự do là hạnh phúc là hơn hẳn sống kiếp nô lệ. Họ bừng thức dào dạt. Còn thơ chống Mỹ được khởi lên từ thời đại của sự ý thức. Lúc ấy, sự sống chết phải được nhìn nhận từ từng số phận. Họ dằn vặt hơn, suy tư hơn, trước chiếc áo xã hội ngắn cũn cỡn. Chiến tranh càng lùi xa, họ càng có thời gian ngẫm nghĩ. Trong ngẫm nghĩ ấy ngoài các chiều kích không – thời gian, còn có chiều kích của tâm linh mà chính những đồng đội đã ngã xuống để lại. Với những chiều kích ấy, đủ cho thơ thế hệ chín muộn này vươn tới tầm nhân loại. Vấn đề cuối cùng vẫn là tài năng. Dù bây giờ chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông toàn cầu với những công nghệ PR lăng-xê tinh xảo, nhưng tất cả vẫn qua đi nếu không có tài năng đích thực. Hãy tin tưởng và hy vọng.

(Nguồn: Báo Văn nghệ số 3/2015)

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ TRẦN GIA THÁI
· NHỮNG TƯ LIỆU ÍT BIẾT VỀ TÁC GIẢ "X30 PHÁ LƯỚI"
· ĐỖ TRUNG LAI - VĂN CHƯƠNG VÀ TẤC LÒNG
· TRANG THƠ KHALY CHÀM
· TRƯỜNG CA NGUYỄN THỤY KHA – THÔNG ĐIỆP MỘT THỜI
· SÓNG GIÓ Ô CẤP
· GIỚI THIỆU TRANG THƠ LÊ ÂN
· MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
· NIỀM KHAO KHÁT CỦA DÒNG SÔNG
· TRANG THƠ NGUYỄN THỊ THU NGA
· TẾ HANH - ĐỜI TÔI THỰC HAY MỘNG, ĐỜI TÔI BUỒN HAY VUI
· NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG - KÍCH THƯỚC CỦA TƯỞNG TƯỢNG CHÍNH LÀ KÍCH THƯỚC CỦA NHÀ VĂN
· CÂY QUẾ NGỌC TRONG RỪNG VĂN XỨ THANH
· BÙI GIÁNG... "CHƠI"
· NHỮNG CUỐN TIỂU THUYẾT NÊN ĐỌC
· GIỚI THIỆU TẬP SÁCH "PHẠM NGỌC THÁI - CHÂN DUNG NHÀ THƠ LỚN THỜI ĐẠI"
· BÀI THƠ TẶNG NGUYỄN BÁ THANH
· 5 BÀI THƠ CỦA CÁC TÁC GIẢ JEJU - HÀN QUỐC
· CHÙM THƠ NGUYỄN TRUNG NGUYÊN
· XUỐNG NÚI

 

  
Gia đình Bích Khê