DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG - KỲ 16 ĐẾN HẾT

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 16: Một bài thơ bí hiểm

Trong khối lượng thơ đồ sộ của thi sĩ Bùi Giáng có một bài thơ khá bí hiểm vì suốt bài quanh đi quẩn lại hai chữ “như thị! như thị!”. 

 

 Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 16: Một bài thơ bí hiểm
Đọc hai câu thơ: “Bà Trời trắng nõn than ôi - Lúc lâm bồn ắt bà ngồi quặn đau” xong, Bùi Giáng đã trầm tư - Ảnh: Gia đình cung cấp

Trước khi đọc bài đó, chúng tôi muốn cùng bạn đọc nhắc đến câu nói “bí hiểm” của Bùi Giáng qua câu chuyện do anh Phạm Chu Sa - nhà thơ, nguyên là biên tập viên của Báo Thanh Niên - đã kể lúc rảnh rỗi quanh bàn trà tòa soạn. Mới đây, chúng tôi tìm gặp anh Phạm Chu Sa để hỏi lại lần nữa cho chính xác, thì được anh giới thiệu bản thảo chưa xuất bản của cuốn Một vài hồi ức về những văn nghệ sĩ quen biết do anh viết, với đoạn về Bùi Giáng dẫn dưới đây (nguyên văn):

“Hằng ngày Bùi Giáng mang lỉnh kỉnh trên người đủ thứ đồ phế thải mà người ta vất ra đường, từ cái chuồng chim, thùng các tông, tấm áo mưa rách đến cả áo lót phụ nữ ông cũng choàng lên vai, ra đứng giữa đường chỉ trỏ như hướng dẫn xe cộ, có khi ông bị mấy cậu thanh niên đeo băng đỏ túm kéo về phường. Lần đó, đâu khoảng giữa năm 1976, gặp ông mang đủ thứ trên người, đứng giữa đường trước chợ Trương Minh Giảng (sau đổi là chợ Nguyễn Văn Trỗi) múa chân múa tay, tôi chạy đến năn nỉ ông đi với tôi, mãi ông mới chịu đi. Tôi bảo ông vất bớt ba thứ linh tinh đi, nhưng ông nổi giận. Tôi đành chở ông mang theo đồ lỉnh kỉnh ra “văn phòng giao dịch” của tôi ở chợ trời là quán cà phê ở 75 Lý Tự Trọng. Tôi mời ông uống cà phê, ông hỏi tôi “cà phê sữa bao nhiêu?”, tôi bảo hai đồng. Ông nói  “Tao không uống cà phê. Tao uống nước trà, mi cho tao hai đồng rứa, hỉ?”. Tôi đưa ông mấy đồng, ông cười hề hề bảo, uống cà phê mà lại có tiền thì tao tới tìm chú mi hoài. Té ra ông già tỉnh như sáo chứ có điên gì đâu! Rồi ông ngồi im lặng ngó ra đường. Chợt thấy tôi cầm cuốn Nam Hoa kinh, bản dịch của Nhượng Tống, mà tôi vừa mua được ở vỉa hè đường Lê Lợi, mắt Bùi Giáng sáng lên. Ông hỏi: Mi đọc Nam Hoa mà mi có biết tại sao “thằng” Trang Tử chửi “thằng” Khổng Tử không? Tôi khá bất ngờ và tính thưa thiệt là không biết, nhưng không chờ tôi nói, ông đã tự trả lời: Bởi “thằng” Trang Tử “nó” quá mê và nể sợ Khổng Tử nên phải chửi thôi! Chửi theo ngôn ngữ của Trang. Ông đã khai sáng cho tôi một điều phải nói là kinh khủng mà tôi nhớ hoài!”. Trong lúc nói về Trang Tử và Khổng Tử với những giải thích “hình nhi thượng”, đôi lúc Bùi Giáng đã giúp người chung quanh đang ngồi nghe bớt phải “nặng đầu” bằng những câu thơ vui vẻ của mình, như bài Tặng bà Khổng Tử: Lòng không lửa tuyết phun hoa/Tàn canh nuôi dưỡng mưa sa nửa dòng (...)/Lòng đi trong cõi người ta/Lòng đi đi mất đi là đi đi. Nối theo bài Con chim: “Con chim người ở giữa trời/Tháng đi theo tháng tìm mồi hắt hiu/Con chim người xuống ban chiều/Cấp ban hôm sớm một triều sóng hoa/Linh hồn mộng mỵ bay xa/Con chim người đã té ra về trời...”.

 

 
 

Bí quyết sáng tạo ?

“Mỗi lần nói tới cái gì, nghe ra cái gì, ngó lại cái gì, là y như đó là LẦN ĐẦU TIÊN ngó, nghe, nói. Ai đọc Nguyễn Du mà không cảm thấy điều đó? Câu chuyện cũ, tiết điệu cũ (có cái gì là không “cũ” đâu?) - thế tại sao mỗi lần “lần giở” vẫn nghe như cái cõi đời trong ta lại tân kỳ như bất ngờ ngẫu nhĩ...”.

Bùi Giáng

 

Đọc đoạn trên, chúng tôi về nhà, giở phần phụ lục cuốn Tư tưởng hiện đại của Bùi Giáng xem lại, thấy ông khen Nhượng Tống đã dịch hai cuốn Nam Hoa kinh (Trang Tử) với lời bàn giải của Lâm Tây Trọng và Tây Sương ký (Vương Thực Phủ) với lời phê bình của Kim Thánh Thán, rằng: “Đặt vào trong toàn thể tư tưởng Đông Phương, hai cuốn sách (dịch) của ông (Nhượng Tống) và cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim đã thừa sức tẩy trừ bao nhiêu những sách vở nhảm nhí của bọn học giả hiện đại từ Việt Nam đến Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản. Đó là điều mà bọn trí thức rởm sẽ không sao hình dung được”. Tiếp đó Bùi Giáng nhận định đoạn Mở Níp (khư khiệp) trong Nam Hoa kinh đã “mang một ẩn ngữ đồ sộ ở phía sau những điều Trang Tử trực tiếp nói ra (…). Suốt bài, Trang Tử đẩy Đạo Chích ra giảng giải về “Đạo ăn trộm”. Đạo Chích giảng giải một cách rắn rỏi nghiêm mật dị thường. Không cách gì bắt bẻ được. Nhưng tại sao càng không bắt bẻ được, thì cái chân lý hiện ra ở phía sau ngôn ngữ Đạo Chích lại toàn thị hiện là một chân lý ngược lại hẳn cái chân lý mà Đạo Chích nói ra”. Căn cứ đó, anh Phạm Chu Sa và chúng tôi “hiểu” câu nói “bí hiểm” của Bùi Giáng về việc Trang Tử “chửi” Khổng Tử chính là để “khen” vậy - nhưng đó là cách khen không giống với thường nhân. Cũng từ đó, chúng tôi liên tưởng đến bài thơ “bí hiểm” khác của Bùi Giáng, đọc thấy trong cuốn Lời cố quận và lễ hội tháng ba (NXB An Tiêm, Sài Gòn 1972, tr.192), như sau: “Như thị, thị như, như thị thị/Thị như, như thị, thị như như/Thị như, như thị, như như thị/Như thị, thị như, thị thị như/Hiển thể thị như như hiện thể/Sơ đầu thị hiện thị nhiên như”.

Còn hai câu nữa: “Xưng danh nhứt xuất do thy sĩ/Sạ hiện tức hình hiện thể như”, nhưng sa môn Huệ Thiện bảo ngang bốn câu “như thị” đó là đã đầy đủ lắm rồi. Giải mã bài thơ ấy ra sao, xin hẹn một kỳ sau. (còn nữa)

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 17: Một ngày ngao du

Chắc hẳn nhiều bạn đọc - cũng như chúng tôi - đều muốn biết thi sĩ Bùi Giáng đã sống ra sao hằng ngày, đi đâu, về đâu và làm chi từ sáng đến chiều...

>> Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 16: Một bài thơ bí hiểm
>> Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 15: 'Ông trời tròn' trò chuyện với… Kiều!

Bùi Giáng với bé Quỳnh (con gái Thanh Hoài) trong ngày sinh nhật 27.8:  “Bài thơ sinh nhật Bé Quỳnh/Cầm cây bút viết thình lình tay run (...) Lời chúc tụng Nàng Thơ về ẻo lả/Tự đầu tiên Quỳnh Bé đã vô ngần - d
Bùi Giáng với bé Quỳnh (con gái Thanh Hoài) trong ngày sinh nhật 27.8:
  “Bài thơ sinh nhật Bé Quỳnh/Cầm cây bút viết thình lình tay run (...)
Lời chúc tụng Nàng Thơ về ẻo lả/Tự đầu tiên Quỳnh Bé đã vô ngần - Ảnh: Gia đình cung cấp
 

Câu hỏi chuyển đến anh Nguyễn Thanh Hoài - người sống kề cận hơn 15 năm cuối đời với Bùi Giáng và được nghe kể:

- Bác Giáng dậy sớm lắm, thường khoảng 3 rưỡi đến 4 giờ sáng để ngồi thiền. Xả thiền xong ông lên tiếng đọc thơ khá lớn giọng, đánh thức cả nhà dậy. Nếu có ai ra mở cửa thì thôi, bằng không ông tự leo rào ra ngoài để bắt đầu một ngày ngao du.

Nơi ông đặt chân đến đầu tiên trong ngày thường là bất cứ một quán cóc nào đó trên vỉa hè đường Lê Quang Định, cạnh chùa Dược Sư, hoặc chùa Già Lam, gọi một ly cà phê đen cho có lệ, cốt để ngồi đảo mắt nhìn thiên hạ qua lại trong cảnh mờ mờ tối tối.

Đợi lát sau lúc trời vừa rạng sáng, thấy rõ mặt người, là ông đã vào gõ cửa quán rượu ông Tốt gần nhà để ghi chịu vài ly rượu trắng “mở hàng”. Uống xong ông bắt đầu đi là đà lãng đãng chỗ này chỗ nọ tùy thích cho đến trưa mới về ăn vài hột, có bữa không về, mãi đến trời sập tối mới thấy ông ngất ngưởng ngoài cửa. Lúc tỉnh táo thì không nói. Lúc say ngã tới ngã lui, người nhà phải bồng ông vào, năn nỉ ngủ. “Lịch sinh hoạt” ấy của ông ngày này qua ngày khác “rớt hột phiêu bồng” như thế...

- Chẳng có gì khác hơn sao?

- Có. Một điều gần như lặp đi lặp lại theo chu kỳ trong hơn 15 năm cuối đời của ông, là hễ ông “ngao du” một tháng theo cách trên, thì tháng kế tiếp ông ở nhà, không hề bước chân ra ngõ. Mà ở nhà, ông không nói một lời với bất cứ ai. Chỉ khi nào có việc hợp ý thì ông gật đầu. Không hợp ý thì ông lắc đầu. “Khoảng lặng” đó của ông kéo dài như những đám mây âm thầm tụ lại, rồi bỗng nhiên trổ một trận mưa bất chợt. Ở đây là “trận mưa thơ” không lường trước được.

Trong đó có những bài tặng các “nàng công chúa” bán ve chai, mà ông biểu lộ tấm lòng thương cảm từ bi, bằng cách trong lúc rong chơi đây đó ông vẫn để ý lượm những bao ni lông, giấy vụn và đồ tế nhuyễn về chất đầy một góc, đợi những người bán ve chai đi ngang qua, ông gọi vào rồi lỉnh kỉnh gom hết đem ra tặng cho họ, không lấy tiền. Tôi nhớ một bài ông đọc giữa trời: “Dzeee chai bééén! Dzeee chai beéén/Dzeee chai bán!/Bán dzeee chai!/Tiếng rao mộng ảo dẻo dai dị thường/Tiếng rao huyền diệu phố phường.../Tôi đi khắp chốn tình trường nhớ nhung/Tiếng rao lanh lảnh nghìn trùng/Nghìn nhung nhớ một tao phùng nết na/Người đi tôi ở lại nhà/Chiêm bao mộng tưởng vẫn là... dzeee chaiii!”.

- Bùi Giáng thường nhắc đến ai trong những triết gia phương Tây?

- Heidegger!

Vừa nói, anh Thanh Hoài vừa lật những trang Bùi Giáng viết: “Dasein - danh từ trụ cốt trong tư tưởng Heidegger - Dasein có thể dịch như thế nào? Gabriel Marcel sau vài tuần hội đàm với Heidegger, đành than thở: Dasein không cách gì dịch ra Pháp ngữ. Xưa kia, Henry Corbin đã dịch là “réalité-humaine”. Sau này các triết gia Pháp sẽ còn dịch là “l’être-le-là”.

Trong một số đặc san kỷ niệm Bùi Giáng, thấy có viết: “Martin Heidegger (1889 - 1976) là triết gia vĩ đại nước Đức, người đã gây ảnh hưởng sâu rộng nhất trên tư tưởng nhân loại trong suốt thế kỷ 20 và là người đã “kiên nhẫn dùng nhiều phương tiện thiện xảo, để gỡ bỏ bao gai góc trên mảnh đất siêu hình học phương Tây, giúp bạn đọc tìm về cõi uyên nguyên của tư tưởng bằng tất cả tâm nguyện “tín giải thọ trì” của một bậc bồ tát phương Tây”. Còn Bùi Giáng: “Heidegger khoát nhẹ một nửa bàn tay đủ lật nhào hai ngàn năm rưỡi tư tưởng triết học Tây phương và dựng lên một cõi gì chưa có danh hiệu chỉ định. Nhưng mà ông cứ giả vờ lất lay, lần mò lóng cóng đún đẩy rất mực ngược ngược xuôi xuôi”.

Trần Trung Phượng nhận định: “Bùi Giáng không chết. Và Heidegger cũng thế (tuy chúng ta biết rằng ông ra đi vĩnh viễn vào ngày 26.5.1976 tại Messkirch, quê hương của ông). Trong thế giới của những nhà suy tư lặng lẽ và ồn ào, bên cạnh Pythagore, Socrate, Trang Tử, Lão Tử, Shakespeare, Nietzsche, Kierkegaard... cả hai vẫn đang tiếp tục đùa giỡn, không phải là đùa giỡn với ngôn ngữ và tư tưởng hoặc với “hữu thể và thời gian” (Sein und Zeit) mà là đùa giỡn với hư vô, một sự đùa giỡn khốc liệt và bi tráng nhất trong lịch sử con người, một kiểu đùa giỡn đã từng làm một thiền sư - thi sĩ Việt Nam, khi một mình bước lên đỉnh núi cô đơn, phải hét to lên, làm lạnh cả bầu trời bát ngát xanh lơ - Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư. (Còn nữa)

 

Hai lần thế giới binh đao (Thế chiến 1 và 2) vẫn chưa cho ta một nửa bài học. Ta vẫn hồn nhiên bước chân vào trường học để mài miệt học triết học, khoa học, trộn với chút ít thi ca. Nhận rõ cái hiểm họa ấy, Schweitzer đã đưa hai tay nắm lấy khoa học, Heidegger đã chín móng bấu lấy triết học, để gột rửa chúng khỏi những bùa ngải điêu linh. 

Bùi Giáng

 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 18: Xin chào!

Tối nay 6.10, chương trình văn nghệ tưởng niệm Bùi Giáng sẽ tổ chức tại chùa Phổ Quang (64/2 Phổ Quang, Q.Tân Bình - TP.HCM) lúc 19 giờ, do thượng tọa Thích Nhật Từ, Trưởng ban Văn hóa Giáo hội Phật giáo Việt Nam - TP. HCM chủ trì…

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 17: Xin chào!

Thi sĩ Bùi Giáng trước bảng hiệu cà phê Mưa nguồn năm 1995 - Ảnh: Huệ Nhựt

Buổi tưởng niệm có phần giao lưu với hòa thượng Thích Giác Toàn, kỳ nữ Kim Cương, họa sĩ Triều Sơn, đạo diễn Hoàng Thiên, nhà thơ Huệ Hiền và nhiều văn nghệ sĩ khác. Đây không phải là lần đầu tiên tưởng niệm Bùi Giáng ở các ngôi chùa, mà ngay lúc ông mới mất, đã có cầu siêu, lễ tụng, vào lễ chung thất 49 ngày một đặc san kỷ niệm nóng hổi được in ra, liên tục 5 năm sau đó mỗi năm đều có in một cuốn nối theo, được tổ chức biên soạn và góp mặt bởi hòa thượng Thích Quảng Hạnh (Người Chơi Đẹp), Thích Thông Bác (Trần Đới), Thích Nguyên Hiền (Nhất Thanh), Thích Nhuận Châu, Thích Nhuận Quốc, Thích Nhuận Độ, Trương Thìn, Hoài Anh, Nguyễn Thiên Chương, Tây Tạng (Giao Hưởng)… Xuất hiện những năm cuối trong thế giới thơ của ông là ni sư Thích nữ Tâm Mãn, tức bà Thân Thị Ngọc Quế.

Bà Ngọc Quế định cư ở Pháp hơn 40 năm, đến 1988 bà mới trở về Việt Nam, lúc ấy bà đã 70 tuổi (sinh ngày 2.4.1918 tại TP.Huế), sáng tác ào ạt và xuất bản liên tục: Giọt nước cành sen (1988), Thơ gởi muôn trùng (1990), Mây trắng đường về (1990), Trắng cả hoàng hôn (1991), Đường lên đỉnh biếc (1992), Ngọn cỏ mặt trời (1993), Tuyết mùa viễn xứ (1994), Tìm trong cát bụi (1994)… Nhiều nhạc sĩ tài hoa trong nước như Dzoãn Mẫn, Tô Vũ, Hoàng Giác, Phạm Duy, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn… đều có phổ nhạc thơ của bà Ngọc Quế. Một hôm bà mang mấy tập thơ của mình đến gặp thi sĩ Bùi Giáng. Ông mở ra đọc và hốt nhiên rung động như gặp người bạn tri kỷ đã lâu trên thi đàn mà sau này ông gọi những tập thơ của bà là “món quà rạng rỡ của sông Hương núi Ngự đã gởi đến tặng vào những ngày hiu hắt nhất của kiếp thơ này!”. Bà mất năm 2007 tại TP.HCM, linh cữu chở về ngoài Trung và nhập tháp tại khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Trong số di cảo Bùi Giáng để lại có một số viết về bà Ngọc Quế bằng tiếng Việt lẫn tiếng Pháp như đoạn: “Chị Ngọc Quế, Đã qua miền sỏi đá/Tìm về hướng mặt trời/Ngàn năm giọt nước có buồn không? Passé – la terre des cailloux des pierres arides/Nous recherchons aujourd’hui la contrée du soleil en sa splendeur/Ô goutte (gouttelette) d’eau! As-tu jamais été triste durant des milléraires?”.

Một di cảo khác viết: “Thân Thị Ngọc Quế! Có những tác giả khép lại một chu kỳ/Họ tiến lên theo tiếng hát cuối cùng và cuộc đối đầu tối hậu”. Hình như René Char đã nói câu bất hủ đó. Có lẽ chúng ta cũng có thể nói như  thế về nàng thơ Ngọc Quế Việt Nam. Hoàn toàn như lời nói trên đây. Nàng thơ này đã yêu đời vô cùng tận. Nàng thơ - nữ xử - đã để lại cho chúng ta những gì trong thi phẩm? Xin miễn trả lời! (…) Trước khi trở về từ cõi mộng tôi xin giã từ nàng nơi đây”. Một trang khác ông viết: “Thượng thừa Ngọc Quế, bỗng nhiên tôi cảm thấy rằng chẳng bao giờ nàng hiểu được ngôn ngữ của tôi, một nỗi buồn kinh khủng xâm chiếm lòng tôi. Và tôi trở thành, mãi mãi tôi có thể trở thành một gã điên trên cõi đời này, cõi đời đang tiến đến vực thẳm, trên sườn dốc của một nhân loại chẳng bao giờ hiểu biết những đòi hỏi của con người khi lên tiếng”.

Và ông, ông đã “lên tiếng” trong hành trình trăm năm của mình, để: “ai cũng có thể có một Bùi Giáng, một thơ Bùi Giáng cho riêng mình” (Đỗ Quyên). Và “thay vì nằm xuống với hàng nghìn vòng hoa thương tiếc, đám tang của Bùi Trung Niên thi sĩ lại cũng vui vẻ “thập thành” với đủ mọi giới từ thượng tầng trí thức đến xích lô ba gác ăn mày ăn chơi đủ kiểu đến tiễn đưa (…) thi ca Bùi Giáng sẽ còn là ẩn ngữ triền miên cho các thế hệ sau lý giải - Cái lớn của họ Bùi là ở đó” (Du Trốc Tử).

Còn khá nhiều tài liệu, bản thảo của Bùi Giáng dịch hoặc nhận định về André Gide, Albert Camus, Saint-Exupéry và về thơ Tản Đà, Huy Cận, Xuân Diệu, Quang Dũng, hoặc giải mã về bài thơ bí hiểm “như thị”… chưa thông tin được đến bạn đọc, đành hẹn một duyên sau. Cuối loạt bài này, xin nhắc mấy “lời chào” của thi sĩ: “Xin chào nhau giữa lúc này/Có ngàn năm đứng ngó cây cối và/Có trời mây xuống lân la/Bên bờ nước có bóng ta bên người/Xin chào nhau giữa bàn tay/Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con (…) Xin chào nhau giữa làn môi/Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam (…) Xin chào nhau giữa bụi đầy/Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu (…) Hỏi rằng đất trích chiêm bao/Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau?/Thưa rằng ly biệt mai sau/Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân”…

Giao Hưởng

Nguồn: thanhnienonline

 

Các bài khác:
· TƯ LIỆU MỚI VỀ HÀN MẶC TỬ
· TƯỚNG GIÁP ĐỀ THƠ TẶNG HỌC TRÒ NHẠC SĨ 'TIẾNG ĐÀN BẦU'
· HỒ BIỂU CHÁNH VÀ KHO TIÊU THUYẾT KHỔNG LỒ CỦA ĐẤT PHƯƠNG NAM
· HAI BÀI THƠ VIẾT VỀ TƯỚNG GIÁP
· NHÀ THƠ BẰNG VIỆT: QUÝ ÔNG GIỮ LỬA THI ĐÀN
· NGUYỄN ĐÌNH THI - NGƯỜI BÊN KIA NÚI TRỞ VỀ
· VỀ BÀI THƠ “VỊ TƯỚNG GIÀ” CỦA NHÀ THƠ ANH NGỌC
· CÁC NHÀ THƠ TIỄN BIỆT ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
· TÁC PHẨM 'THEO DÒNG' CỦA THẠCH LAM TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG - KỲ 11 ĐẾN 15
· NHỮNG BÀI THƠ CUỐI CÙNG CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN
· PHẠM TIẾN DUẬT - ĐỈNH CAO CUAT HƠ CA KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
· TIẾP CẬN 'DẤU VỀ GIÓ XÓA' BẰNG CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI
· ĐÀ LINH - NGƯỜI ĐI GỬI LẠI NHỮNG ĐAM MÊ
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 5 ĐẾN KỲ 10
· NHÀ VĂN ĐÀ LINH - MỘT SỐ PHẬN BỊ ĐỨT GÃY
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 4- ĐẠT ĐẠO BÙI GIÁNG
· MỘT CHUYỆN HAY VỀ PICASSO
· ĐƯA TIỄN THẦY HOÀNG NHƯ MAI
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 3- CUỐN SỔ NỢ ĐOẠN 'TRƯỜNG'

 

  
Gia đình Bích Khê