DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 5 ĐẾN KỲ 10

                                                                              Giao Hưởng

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 5: Bùi Giáng với Bùi tộc Vĩnh Trinh

“Viết về bất cứ danh nhân nào người ta thường phải nhắc đến nơi chôn nhau cắt rốn cũng như dòng dõi huyết thống của danh nhân đó - ở đây chúng tôi muốn nói đến Bùi Giáng với Bùi tộc Vĩnh Trinh”.

Bùi Giáng với Bùi tộc Vĩnh Trinh

Ảnh: Gia đình cung cấp

 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 5: Bùi Giáng với Bùi tộc Vĩnh Trinh  1

Ông Bùi Dương Thạch (ảnh), 65 tuổi - đại diện Bùi tộc Vĩnh Trinh tại TP.HCM - đã mở đầu như vậy trong buổi gặp gỡ thân mật với chúng tôi vào trưa qua 21.9, rồi tiếp: “Bùi Giáng thuộc đời thứ 17 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Dòng họ này rời đất Hoan Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay, vào cuối thế kỷ 15 dưới thời vua Lê Thánh Tôn, để theo cuộc Nam tiến lịch sử cùng tiền nhân của Đào tộc vào vùng đất Quảng Nam sáng lập ra xã hiệu Bình Khương, hiện nay là làng Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, với đệ nhất tổ là ngài Bùi Tấn Diên và đệ nhị tổ là ngài Bùi Tấn Trường, khai khẩn và phân ranh giới 6 thôn: Lệ Trạch, Vĩnh Trinh, Thanh Châu, Cổ Tháp, Cù Bàn và An Lâm, thường gọi “lục thôn”. Bài minh trên bia đá kỷ niệm trùng tu đình Lục thôn (Đình Châu) năm 1754 ghi: “Nguyên châu chúng ta ngày trước có ngài cai phủ Khánh Sơn hầu Bùi Quý công cấu tạo đình sở - đất linh, người giỏi, tiếng đồn vang khắp châu thôn - người gần lấy làm hài lòng - kẻ xa rủ nhau kéo đến - họp thành chợ đông vào lúc ban trưa - đến nay chưa ai quên được”...

Ông Thạch kể, về sau họ Bùi phân định làm 5 phái vào đời thứ 13. Sang đời thứ 14, Bùi gia đã nổi tiếng “của nhiều người đông”. Đến đời thứ 15, nhiều vị đã từ Vĩnh Trinh sang lập nghiệp ở các phủ huyện khác như: Điện Bàn, Đại Lộc, Quế Sơn. Tiêu biểu nhất cho nếp sống nho phong có ông Bùi Túc, hai vị đỗ đạt là ông Bùi Hữu Chí và Bùi Giác. Đến đời 16, nổi tiếng trong nước về lĩnh vực văn hóa có Bùi Văn Nam Sơn hiện nay và Bùi Thế Mỹ trước kia. Bùi Thế Mỹ (1904 - 1943) là nhà văn, ký giả nổi danh với bút hiệu Lan Đình và Thông Reo, chủ bút nhật báo Điện Tín - cộng tác thường xuyên với các tờ: Tân Thế kỷ, Đông Pháp thời báo, Thần Chung, Phụ nữ Tân Văn, Công Luận, Dân báo và từng bảo với bạn mình là Thiếu Sơn: "Tôi không tha thứ cho bọn gian lận kiếm ăn trên địa hạt văn chương". Khi ông mất, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã có câu đối khóc ông trên báo Tiếng Dân.

 

 
 

Rời quê hương, Bùi Giáng ra đi, đi và đi mãi, và đã gặp những ai trong lễ hội tháng ba, tháng tư tháng năm, tháng chín tháng mười, tất cả mọi tháng nào “còn sơ nguyên mộng” ?

Gặp Bồ Tát cười vui như nắc nẻ
Một hôm nào nương tử bước 
                                 hai chân
Vén xiêm áo nghe tượng thần 
                                    mở hé
Tòa thiên nhiên ngồi xuống cỏ 
                                 vô ngần

(...)

Người ta chết lúc làm thơ
                                 như thế
Không hề gì vì chết rỡn
                                 cho vui...

BÙI GIÁNG

 

Đời thứ 17 có Bùi Kiến Tín du học và tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Pháp, về nước ông sáng chế loại dầu chữa bệnh thời khí nổi danh có tên “Dầu khuynh diệp bác sĩ Tín” thông dụng toàn quốc. Công thức bào chế của ông hiện nay vẫn được một số xí nghiệp dược phẩm Việt Nam dùng để tái sản xuất. Bác sĩ Tín là thân phụ của tiến sĩ Bùi Kiến Thành - người Việt đầu tiên được đào tạo tại Mỹ trong lĩnh vực tài chính và có quá trình hơn 40 năm hoạt động trong lĩnh vực này trên trường quốc tế (sau năm 1975, ông Thành trực tiếp hỗ trợ Ban Biên giới chính phủ nghiên cứu cơ sở luật pháp để bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên thềm lục địa, khu vực dầu khí biển Đông). Bác sĩ Tín cũng là thân phụ của kiến trúc sư Bùi Kiến Quốc. Cũng đời thứ 17 đã xuất hiện Bùi Giáng, “sinh tại làng Vĩnh Trinh, nay thuộc thôn Vĩnh Trinh, xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, là con thứ hai của ông Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền - nhưng nếu tính tất cả các anh em trong nhà thì Bùi Giáng là con thứ năm. Sau này khi ông vào sống ở Sài Gòn được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng”, ông Thạch nói.

Như vậy, từ chiếc nôi Vĩnh Trinh, thi sĩ Bùi Giáng đã bước vào “cuộc lữ”, mang theo những kỷ niệm không quên về thời trẻ ở quê nhà: “Đường đi nhật nguyệt trôi qua/Tha hương cố quận lạc hoa một nhành/Trường miên nguyện ngủ dưới ngành tùng trăng”. Nội hàm của hai tiếng “cố quận”, “quê hương” hoặc “quê nhà”, trong sáng tác của Bùi Giáng mang nhiều ý nghĩa. Có thể đó là quê hương “nhất như” của tất cả mọi loài. Là nơi trăn trở “hướng về” của loài người bị “lưu đày” qua nhiều đời nhiều kiếp. Cũng có thể là chiếc nôi Vĩnh Trinh trong thương nhớ đời này của ông với những “mộng ban đầu”, với những “cái gì đã mất”, được ghi qua di cảo: “Hình dung ở dưới trăng ngà/Một hình bóng cũ nảy hoa dưới trời/Tình yêu đã mất em ôi/Chiêm bao mộng tưởng rong chơi suối vàng”. Cũng trong bản thảo viết tay của ông để lại, đã đọc thấy những dòng hoài niệm: “Anh sắp đặt em một chỗ nằm/Khoát tay em bảo em không nằm ngồi” - mà muốn “đứng” mãi trong trái tim ông. Và ông (cũng trong di cảo) đã đưa “tình trong tim máu ra ngoài rong chơi”. Đó là hiểu quê hương theo cái nghĩa xương thịt nguồn cội của Bùi tộc, còn “quê hương” và “nỗi nhớ” trong thế giới thơ Bùi Giáng quá đa nghĩa, mà chúng ta cần có thời gian chiêm nghiệm - ông Bùi Dương Thạch đã nói như vậy vào cuối buổi gặp mặt.  

 

(Lời cố quận, Martin Heidegger - giảng giải thơ Hoelderlin. Bùi Giáng dịch giải - NXB An Tiêm, Sài Gòn 1972)

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 6: Những bài thơ cuối đời

Sáng nay 23.9 ra mắt tập thơ cuối đời của Bùi Giáng gồm 88 bài trước đây còn nằm trong bản thảo chưa in, vừa được gia đình kết hợp NXB Văn hóa Văn nghệ ấn hành, với tựa do chính Bùi Giáng đặt lúc sinh thời: Tâm sự tuổi già. 

 

 Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 6: Những bài thơ cuối đời
Bìa tập thơ Tâm sự tuổi già

Đây cũng là tập di cảo thứ 11 xuất bản trong vòng 15 năm qua - kể từ ngày Bùi Giáng rời “cõi người ta” - và chính thức bắt đầu phát hành hôm nay ở ngôi nhà ông đã sống và viết tập ấy trước khi mất năm 1998 ở số 482/35/5 Lê Quang Định, P.11, Q.Bình Thạnh, TP.HCM (nhà sách Quỳnh Na) và một địa chỉ khác: 245 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM (nhà sách Hà Nội).

Giở tập thơ ra, ngay bài thứ nhất cũng cho ta biết ông viết trước lúc ra đi không lâu: “Bảy mươi ba tuổi Xóm Gà chơi/Xóm núi xưa xa ở cuối trời”. Xóm núi xưa xa là xóm núi nào? Đó là: “miền quê hẻo lánh, xung quanh có ruộng đồng sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt cả tuổi thơ (làng tôi có xưa kia nhiều cỏ mọc - cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn gò, đồi núi thật xanh). Từ đó về sau, tôi tìm kiếm mãi một màu xanh không còn nữa vì những trái bom và hòn đạn thiêu nướng khổng lồ” như Bùi Giáng từng bộc lộ. Cuối bài thơ là hai câu: “Sơn ổ cuối trời xa có biết/Tâm tình dị khách thất thập dư?”. Ông tự nhận mình là một “dị khách” vào tuổi “thất thập dư” và “sơn ổ cuối trời” được nhắc đến trong bài chính là nơi ông đã mừng chào cô Chín nào đó: “Mừng chào cô Chín Quảng Nam/Duy Xuyên phủ huyện Vĩnh Trinh thôn làng”.

Có tác giả từng nhận xét “Bùi Giáng càng điên... càng tỉnh - càng già... càng lãng mạn” (Nguyễn Hưng Quốc), ứng với bài Lần cuối trong di cảo Tâm sự tuổi già: “Thăm em lần cuối cùng này/Tặng em chẳng rõ lấy gì tặng nhau/Ngỡ ngàng chuyện trước chuyện sau...” và chú thích bên dưới bằng hai câu thơ tuyệt vời của Nguyễn Đình Toàn: “Ru em lần cuối cùng này/Bằng hơi mát của một ngày sắp qua”.

Nối theo là: “Giòng sông chảy tới tận cùng/Ngày đêm không một phút ngừng chảy trôi” - gợi đến Apollinaire mà ông đã dịch thơ - và bài Mon destin oh Marie chẳng hạn: “Tình chấn động suốt vùng cây suối liễu/Mà bỗng dưng nay chẳng kiếm ra giòng”. Cũng liên tưởng đến A une passante của Baudelaire, được Bùi Giáng dịch với câu: “Có nghe trong gió mộng triền miên qua”. Vậy đó, một mảng đậm đà trong di cảo này gồm những bài có dính dáng đến “mộng”: “Chiêm bao luống những nhiều rồi/Nhớ dòng sông cũ nhớ đồi núi xưa” - “Tuổi già còn được bao lâu/Mà mơ với mộng đằm đằm chiêm bao” vừa được Đắc Phúc phổ nhạc và in vào tập này (cùng với các nhạc phẩm: Xuân hồng và Trăm năm hồng lệ).

Các ý thơ tương tự viết năm 73 tuổi (vài tháng trước khi Bùi Giáng qua đời) đưa ta về với thơ Saint John Perse, như bài Je me souviens, với lời dịch thi thoát của ông: “Trong ly nước mộng tuyệt vời/Với sầu giao động nỗi đời giao thoa/Linh hồn định mệnh âm ba/Bông vàng khép mở đầu hoa mơ hồ”! Một dấu nhấn nữa trong Tâm sự tuổi già là những lời “chào” viết lúc ông sắp qua đời: “Già quá sắp chết đến nơi/Chào nhau biết có ai đâu mà chào (...) Chào em những buổi chiều chiều/Ra bờ sông ngắm ngọn triều đang lên”. Đứng trên “bờ sông” sinh tử, ông vẫn cười và vẫn “phá thể” trong thơ: “Bà nay đã tám mươi ba/Tôi nhỏ hơn bà mười tuổi/Tôi nay chỉ bảy mươi ba mà thồi” (chữ thồi ở đây có nghĩa là thôi). Cũng có những câu gửi vào cõi nào xa lắm: “Tôi về nhà chốn Phiêu Bồng/Tôi về nơi chốn có Mồng Một Giêng”. Ba chữ “Mồng Một Giêng” viết hoa nói đến một cuộc “tái lai” của ông. Còn hiện đời: “Còn chi nữa? Nữa còn chi/Còn chi nữa chẳng chút chi là còn”. Một kiếp thi sĩ, một kiếp thị hiện tài hoa, rồi cũng trôi qua như màu hoa trên dòng nước xiết: “Giòng thu nước chảy chan hòa/Sóng xuân thủy lục vì hoa hồng vàng”.

Đậm nét qua những bài thơ cuối đời trong di cảo thứ 11 này là những câu ghi lại “hành trạng” của ông trên đường lang thang: “Ăn trong vườn ngủ ngoài đường/Ấy là tình nghĩa máu hường cho tim/Nhành mai hỏi, đóa lan xin/Chiều nay ngõ trúc vắng tin tức người” (Ăn và ngủ). Có bài với tựa nghe rất buồn: Rồi tôi khóc - nhưng đọc lại thấy ấm áp: “Triền miên một phút vô cùng/Một giây vô tận tao phùng tình yêu”. Ông cũng nhắc đến nhiều con vật: “Rằng sao rất mực người ta/Mà ngơ ngẩng vịt mà già nua trâu”. Vịt, được Huỳnh Hữu Ủy kể: “Có một bữa, ông đòi tôi chở về căn nhà nào đó bên miệt Phú Nhuận để ông cho vịt ăn, vì nhiều ngày qua rồi ông chưa trở về chắc là vịt đói lắm. Trên căn gác tôi đưa ông về, ông rào một chuồng vịt khoảng mấy thước vuông, ông ném gạo cho vịt ăn, nói nói cười cười, rất hoan hỉ, nhưng đàn vịt ấy chỉ toàn là một bầy vịt bằng... nhựa!”. (Còn nữa).

 

Thi sĩ Phạm Phú Hải (đã qua đời) - tác giả tập thơ với cái tựa độc đáo và vang bóng: Gánh nước tưới sông - có đăng bài thơ Không đề khá dài trong đặc san Tưởng niệm Bùi Giáng, mà khi đọc chúng ta thấy hồn thơ của Phạm Phú Hải cùng “Bùi Giáng đại huynh” dường như kẻ trước người sau tiếp nối từ một nguồn Hồng Lĩnh. Xin trích đôi dòng:

Ngọn hồng và cỏ ngủ quên
Gót son (và) mặt đất nghiêng bên chân người
Áo bay nghiêng một bầu trời
Tiếng cười nghiêng một chút thời gian xanh
Gió là cánh của âm thanh
Ngày là sóng của biển hành tinh xa
Xuân là nguyên đán giao thoa
Nắng là mật của ngàn hoa không màu...

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 7: Bùi Giáng - Phạm Công Thiện với 'ngày tháng ngao du'

Ngồi lại với nhau nhân ngày đầu tiên phát hành tập thơ cuối đời của Bùi Giáng: Tâm sự tuổi già vào hôm qua (23.9), các bạn làng văn có nhắc đến một trong những gương mặt dị thường từng sống mãnh liệt cùng Bùi Giáng qua những “ngày tháng ngao du”...

 
Bùi Giáng qua ống kính của L.N.D - Ảnh: gia đình cung cấp

Đó là nhà thơ - học giả Phạm Công Thiện, sinh năm 1941 tại Mỹ Tho, tài hoa và rất thông minh như Bùi Giáng - thạo tiếng Anh, Pháp, Nhật, Tây Ban Nha và Sanskrit (một cổ ngữ của Ấn Độ) từ 15 tuổi, biên soạn Anh ngữ tinh âm lúc 16 tuổi, bắt đầu viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học lúc 19 tuổi.

Phạm Công Thiện nổi tiếng với một loạt sách biên khảo: Bồ đề Đạt ma - tổ sư Thiền tông (1964), Im lặng hố thẳm và Hố thẳm của tư tưởng (1967), dịch cuốn: Tự do đầu tiên và cuối cùng (nguyên tác Krishnamurti - 1968), Về thể tính của chân lý (Martin Heidegger - 1968), Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (Friedrich Nietzsche - 1969).

Ông làm Khoa trưởng Văn khoa của Viện Đại học Vạn Hạnh, chủ biên Tạp chí Tư Tưởng của viện này từ 1968 và đã xuất gia thọ giới với pháp danh Thích Nguyên Tánh tại chùa Hải Đức. Năm 29 tuổi (1970), từ giã Bùi Giáng và làng văn Sài Gòn, Phạm Công Thiện rời Việt Nam qua Đức, Pháp, rồi Mỹ, giảng dạy tại College of Buddhist Studies. Ở hải ngoại, ông tiếp tục viết nhiều tác phẩm, như: Trên tất cả đỉnh cao là im lặng, Đối mặt với 1.000 năm cô đơn của Nietzche và qua đời tại thành phố Houston (Texas, Mỹ) ngày 8.3.2011, thọ 71 tuổi.

Là một học giả, một nhà văn nổi danh với các cuốn: Mặt trời không bao giờ có thực hoặc: Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất, nhưng trước hết Phạm Công Thiện tự nhận mình là nhà thơ, với tập: Ngày sinh của rắn (1967), trong đó nhiều câu được người yêu thơ đọc thuộc: “Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn/Cây khế đồi cao trổ hết bông” - hoặc cả đoạn dài: “Gió thổi đồi tây hay đồi đông/Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng/Trong mơ em vẫn còn bên cửa/Tôi đứng trên đồi mây trổ bông/Gió thổi đồi thu qua đồi thông/Mưa hạ ly hương nước ngược dòng/Tôi đau trong tiếng gà xơ xác/Một sớm bông hồng nở cửa đông” (Lê Uyên Phương phổ nhạc).

Để giúp thêm tư liệu, một kỳ lão trong làng văn cho chúng tôi mượn cuốn đặc san Tưởng niệm Bùi Giáng do thầy Thích Quảng Hạnh và Thích Thông Bác chủ biên, có đăng bài của nhà văn Tuấn Huy viết về những “ngày tháng ngao du” giữa Bùi Giáng và Phạm Công Thiện như sau: “Mỗi lần Phạm Công Thiện gặp Bùi Giáng là hai người thường gây nhau. Gây nhau về những “triết thuyết” này và “tư tưởng” nọ. Nhưng với thơ văn thì hai người lại “thương” nhau vô cùng. Bùi Giáng thường đọc những câu thơ ngắn cho Phạm Công Thiện nghe và ngược lại. Trong thơ  không có điều gì phải luận giải, trong thơ chỉ có sự chia sẻ và cảm thông. Chúng tôi nhìn hai nhà thơ quàng ôm nhau. Hai nhà thơ ngó nhau cười dịu dàng. Hai nhà thơ uống những ngụm bia lạnh. Hai nhà thơ hút thuốc lá. Rồi hai nhà thơ ngồi yên như pho tượng” (…) Một ngày khác, tôi chở Phạm Công Thiện đến thăm Bùi Giáng. Căn gác gỗ ọp ẹp ở bến xe đò gần đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3/2- PV). Vừa bước lên cầu thang, đã thấy một dãy “gà mên” xếp đầy trước một khung cửa đóng kín. Phạm Công Thiện gõ cửa. Mùi thức ăn (từ gà mên để lâu ngày) gây nồng, và những con ruồi bay chấp chới trên những chiếc vung bằng nhôm xám xỉn. Một lúc, Bùi Giáng ló đầu ra. Áo quần nhăn nhúm và tóc tai bù rối. Căn phòng nhỏ, chật cứng sách vở. Một chiếc mền màu tro cũ và một ngọn điện được kéo thấp xuống còn cháy sáng. Bùi Giáng, một tay đẩy những đống sách cho gọn gàng lại, một tay hất hất chiếc mền. Cả ba chúng tôi vẫn đứng vì căn phòng quá hẹp. Một đôi đũa và mấy chiếc mũ quăng bừa bãi trên một cuốn sách của Camus. Một đôi vớ đen lẫn lộn giữa một cuốn sách của Heidegger. Bùi Giáng nói: “Ngồi đi, ngồi đi…” (…) nhưng chúng tôi đứng lổn ngổn như mấy con ngựa hoang giữa một lòng núi hẹp”. Bùi Giáng giải thích nhiều bữa ông đã quên ăn, cứ để những phần cơm trước cánh cửa đóng im lìm, nhưng người nấu cơm tháng cứ theo lệ hằng ngày vẫn xách tới thêm, để sẵn.

Tuấn Huy kể tiếp: “Tôi nhìn lại những chiếc gà mên và những con ruồi đậu xuống như một tấm lưới không hề có thực. Lát sau chúng tôi đến một tiệm cơm chay ở góc đường Trần Quốc Toản, đối diện với Việt Nam Quốc tự (…) Phạm Công Thiện gọi một ly cà phê. Tôi gọi một ly trà đá. Riêng Bùi Giáng gọi (một lúc bốn thứ cả thảy): một tô hủ tíu, một tô mì, một ly cà phê sữa và một ly đá chanh. Tôi ngơ ngác nhìn Bùi Giáng, nhưng càng ngơ ngác hơn khi thấy ông ăn một miếng mì, rồi lại ăn một miếng hủ tíu, uống một chút nước chanh, rồi lại nhắm nháp một chút cà phê (…) Ông gắp cái này một chút, uống cái kia một chút - như người nhạc trưởng uyển chuyển trước một dàn nhạc. Ngay cả đồ gia vị cũng vậy. Ông rắc một chút tiêu lên tô này, lại thêm một chút ớt vào tô nọ. Xúc một muỗng đường, xin vài hạt muối. Muối cho vào ly đá chanh. Đường cho vào tô mì, lung linh chộn lộn. Có lẽ chỉ có ông-trời-xanh hay bà-trời-trắng mới biết được ông đang ăn uống hay đang chơi dạo giữa mùa trăng châu thổ?” (Còn nữa).

 

“Bùi Giáng - thi nhân thấu thị, đã sống kiệt tận miên bạc bình sinh, đã là một trong số hiếm hoi những linh hồn đã đi đến tận đáy của cái vực sâu không đáy, đã yêu đắm đuối cả cuộc bể dâu thê thảm, để công phu ghi tặng lại, bằng ngòi bút lô hỏa thuần thanh...”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thanh

 

 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 8: Với Thanh Tuệ và NXB An Tiêm

“Lá nằm duỗi dọc duỗi ngang/An tiêm xuất bản một tràng cỏ hoa/Trăm năm trong cõi người ta/Ông là thanh tuệ tôi là tuệ thanh”...

 

 Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 8: Với Thanh Tuệ và NXB An Tiêm
Ảnh bìa tác phẩm của Bùi Giáng do An Tiêm xuất bản

Đấy là bốn câu trích từ bài thơ của Bùi Giáng tặng ông Thanh Tuệ (hai chữ thanh tuệ viết thường) in trong cuốn Sa mạc phát tiết ấn hành tại Sài Gòn năm 1969 bởi NXB An Tiêm. NXB này đã in nhiều sáng tác, dịch thuật, biên khảo của Bùi Giáng và do Thanh Tuệ sáng lập điều hành từ năm 1965, nhà văn Tuấn Huy ghi: “Dạo đó tôi thường gặp Bùi Giáng ở nhà Thanh Tuệ sát cạnh nhà tôi, trong một hẻm nhỏ đường Lý Thái Tổ. Ngôi nhà lầu ngăn đôi, bên này một mình tôi mướn lại của nhà văn Song Linh, bên kia Thanh Tuệ thuê, vừa làm NXB An Tiêm vừa ở đó với mấy người bạn. Một lần, đang nằm ở bên này, tôi nghe tiếng bước chân xầm xập lên chiếc cầu thang gỗ. Rồi tiếng Bùi Giáng ồn ào cười nói. Có khi ông đọc thơ. Có khi ông chuyện trò với Thanh Tuệ và những người khác, bằng cái giọng vừa ồm ôm, vừa chọ chẹ. Một lúc huyên náo như thế, rồi bặt im, không một tiếng động nào nữa. Những căn nhà san sát mê thiếp dưới ánh nắng xế và lớp gió chiều quấn lộng... Tôi bước sang đẩy cánh cửa khép hờ, thấy Bùi Giáng đang ngồi ngủ gục trên một chiếc ghế. Thanh Tuệ thì nhẹ nhàng ý tứ xếp lại những chồng sách mới in. Tôi cũng nhẹ nhàng ý tứ đến gần bên Thanh Tuệ, nhặt một cuốn sách lên, để mùi thơm của giấy mới loãng tan trong khứu giác. Thanh Tuệ ngó Bùi Giáng, cười. Nụ cười tươi tắn và hồn hậu. Tôi khẽ gật đầu. Chúng tôi để yên cho nhà thơ chúng tôi ngủ”.

 

 
 

Con đường vào thơ của Bùi Giáng dẫn tới cửa chùa. Nói cụ thể hơn, không có NXB An Tiêm của Thanh Tuệ (một tu sĩ Phật giáo) thì bạn đọc không có cơ hội thấy hết được sự nghiệp thơ đồ sộ của Bùi Giáng. “Cuộc chơi lớn” của Bùi Giáng không dễ tìm được một NXB nào chịu bỏ tiền ra in cho ông, ngoài nhà An Tiêm.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác

 

Đến 1981, Thanh Tuệ sang Pháp, tiếp tục hoạt động xuất bản ở Paris, đặt văn phòng liên lạc tại số 3 đường Vincent Van Gogh. Mùa thu 2004, để chuẩn bị thêm tài liệu kỷ niệm 40 năm thành lập NXB An Tiêm (1965 -2005), Thanh Tuệ đến Mỹ lưu lại mấy tuần tại San Jose, rồi đến Nam Cali, ở tại chùa Liên Hoa do hòa thượng Thích Chơn Thành trụ trì và đột ngột lâm bệnh phải đưa vào Bệnh viện Garden Grove cấp cứu. Song ông đã qua đời lúc 7 giờ 30 tối 16.8 năm ấy, thọ 69 tuổi. Bấy giờ đời sống gia đình ông ở Pháp rất đạm bạc, ngặt nghèo, vợ ông là bà Đỗ Ngọc Lệ cùng trưởng nữ Thu Hương và hai cháu ngoại Hoàng Minh và Hoàng Bảo phải mượn tiền mua vé máy bay qua Mỹ. Tiền nhà thương, tiền nhà quàn, tiền hỏa táng lên tới hàng chục ngàn USD...

Hay tin, từ nước Đức, Thái Kim Lan viết những dòng “ai điếu” Thanh Tuệ qua bài Đi tìm dấu vết An Tiêm gặp Bùi Giáng, nhắc lời dịch giả Bửu Ý từng sống với Thanh Tuệ trong những năm mới thành lập An Tiêm: “thời ấy anh Thanh Tuệ thấy quyển sách nào trình bày đẹp, nhất là sách ngoại quốc từ Pháp, từ Mỹ, từ Đức, từ Ý trong các hiệu sách là anh mua về cho anh em đọc, rồi cắt bìa giữ lại làm tư liệu cho những cuốn sách mà anh sẽ hư cấu, chọn bìa, chọn giấy thích hợp với nội dung” để in. Trong 10 năm (1965 - 1975) NXB An Tiêm mở rộng cửa đón nhận nhiều tác phẩm danh tiếng trên thế giới, qua các bản dịch bởi Bửu Ý (chẳng hạn: Vườn đá tảng của Nikos Kasantzakis - 1967; Đứa con đi hoang trở về của A.Gide - 1967; Văn học thế giới hiện đại của R.M.Alberes - 1973), và các tác phẩm khác của Phạm Công Thiện, Vũ Khắc Khoan, Tuệ Sỹ... có hình bìa hoặc phụ bản của Đinh Cường, Hiếu Đệ, Trịnh Cung. Giáo sư Lê Văn Lợi nhắc: “Nguyễn Hiến Lê - dịch giả tác phẩm Chiến tranh và hòa bình của Leon Tolstoi 4 tập dày cộm (gồm 3.000 trang) - rất ít khen ai và tự xuất bản sách của thầy, lại hết lời cảm phục tài năng và tấm lòng Thanh Tuệ với văn chương chữ nghĩa”... Rõ nét nhất là các tác phẩm của Bùi Giáng do NXB An Tiêm in, mà nhà văn Nguyễn Mộng Giác ở hải ngoại đã đề cập đến vài hôm sau ngày Thanh Tuệ mất: “có thể nói hầu hết những tác phẩm quan trọng của Bùi Giáng đều do anh Thanh Tuệ in, dù NXB biết không thể lấy lại vốn in đã bỏ ra (...) Một nhà thơ lớn (như Bùi Giáng) đẩy thơ vào một cuộc chơi lớn, thì ngay lập tức cũng có một NXB “chịu chơi” có đôi mắt xanh sẵn sàng bỏ công bỏ sức ra in thành quả khác thường của cuộc chơi ấy (...). Tôi tin chắc rằng anh Thanh Tuệ kiếp trước cũng là một nhà thơ. Không, tôi lầm. Không cần phải đi ngược lên kiếp trước. Ngay trong phút này, anh “đã là” một nhà thơ. Thi nghiệp của anh là An Tiêm (...) anh đứng đợi Bùi Giáng vào lúc, vào chỗ thích hợp nhất, để hai người sánh vai thực hiện một cuộc hành trình mới vào thơ”. Còn Bùi Giáng trong “thơ điên” của mình vẫn nhắc: “Tuy nhiên xuất bản một thầy/Tu hành thanh tuệ còn ngây thơ cười” - cười thanh thản, vì đã góp tay mở được một cánh cửa mới và đầy “màu hoa trên ngàn” cho khu vườn văn học miền Nam, đưa An Tiêm vào huyền thoại đẹp của ngành xuất bản Sài Gòn một dạo (còn nữa). 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 9: Cái nhìn Bùi Giáng về Kim Dung

Trong các tài liệu do gia đình thi sĩ Bùi Giáng vừa cung cấp qua đợt tưởng niệm 15 năm ngày mất của ông, có một số nội dung liên quan đến tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mà ông viết đến...


Bùi Giáng - ký họa của Đinh Cường 

Bùi Giáng đã dịch Kim kiếm điêu linh của Ngọa Long Sinh và nhận định: “Những kiệt tác của Ngọa Long Sinh đi song song với Kim Dung và Gia Cát Thanh Vân - thực hiện cuộc chuyển biến dị thường trong lịch sử văn học tư tưởng Trung Hoa”. Không chỉ đọc suông, theo Bùi Giáng, đọc truyện võ hiệp là “một trong những phép tu dưỡng ký ức và khơi dẫn nguồn vui ẩn mật trong mình. Đọc theo lối hồn nhiên, hoặc vừa đọc vừa suy gẫm. Chưởng lực, kiềm chế, nội kình phát ra có thể là tinh thể của tinh thần phát hiện”. Riêng với thi sĩ, sách võ hiệp sẽ “giúp bạn làm thơ lai láng một cách không ngờ - điều đó không có chi lạ: ban sơ vũ học, văn học, thi nhạc cùng phát khởi tại một cỗi nguồn: uyên nguyên của tinh thần xuất phóng” (Sương Bình Nguyên, NXB Võ Tánh, Sài Gòn 1969).

Đoạn trên do nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Chiến trích dẫn về Bùi Giáng và Đỗ Long Vân với truyện võ hiệp trong tài liệu chúng tôi mượn được, có ghi nhận xét của Bùi Giáng về cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta - hay Hiện tượng Kim Dung của Đỗ Long Vân (NXB Trình bày, Sài Gòn 1967): “Ông Đỗ Long Vân nhận định thâm viễn khoảng vắng lặng vô ngôn trong sách vũ hiệp... Những khuyết điểm của bản dịch không làm trở ngại Đỗ Long Vân. Vì những kẻ tư tưởng chân thành, vốn thường nhận ra rất mau những gì gọi là “ý tại ngôn ngoại” hoặc “huyền ngoại chi âm” (âm thanh ngoài cây đàn - H.N.C) - hoặc “ngôn tại thử nhi ý tại bỉ” (lời ở đây mà ý nằm ở nơi khác - H.N.C)”. Bùi Giáng cũng viết “Sách tôi bị cháy hết, nhưng tôi sẽ tìm riêng cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta để đọc lại”.

 

 
 

Những nhận định của Đỗ Long Vân về nội lực, về nguyên lý võ học và cơ cấu luận... đều bắt nguồn từ cái nhìn sâu thẳm vào tinh thể tinh yếu của vấn đề, và gợi cho người đọc rất nhiều dư hưởng mênh mông khát vọng từ các kiệt tác kim cổ Đông Tây (...). Còn Bùi Giáng có một cái nhìn rất lạ về tác phẩm Kim Dung nói riêng và sách báo võ hiệp nói chung.

Huỳnh Ngọc Chiến

 

Huỳnh Ngọc Chiến cho biết đôi dòng về Đỗ Long Vân “là người thâm cứu văn học Tây Phương, được đào tạo tại Pháp, nhưng tâm hồn ông lại hòa điệu và rất gần gũi với suối nguồn Đông Phương Sơ Thủy, nên dễ dàng thể hội phần tinh túy hoằng viễn trong tư tưởng Kim Dung bằng những suy niệm chân thành”.

Bùi Giáng đánh giá cao những gì Đỗ Long Vân bàn về Kim Dung và cho cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta đã “nằm trong vùng thâm viễn như cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim, chẳng những giúp người Việt Nam hiểu tư tưởng lớn của thiên tài Trung Hoa, mà còn khiến người Trung Hoa, người Đông Phương Tây Phương nói chung ngày sau sực tỉnh. Tầm quan trọng của cuốn sách kia quả thật rộng rãi không cùng. Tôi có thể đưa ra vài nhận định khác ông ở đôi chi tiết. Nhưng không cần. Điều cốt yếu ông (Đỗ Long Vân) đã nói xong, và những dư vang vô số sẽ tỏa khắp mọi chốn. Và sẽ còn khiến người ta thể hội cái mạch thẳm trong những tác phẩm của những thiên tài xưa nay, bất luận là Đông Phương hay Tây Phương”.

Đến đây, để minh họa thêm cho các nội dung trên, chúng tôi trích mấy câu trong loạt bài Chuyện tình qua tiểu thuyết Kim Dung của Hồng Hạc và bài Xuân và hoa trong tiểu thuyết Kim Dung của Phi Pháp, đăng trên Báo Thanh Niên từ cuối năm 2005 (Hồng Hạc và Phi Pháp là hai bút danh khác của Giao Hưởng) như sau: “Là một vương tử, nhưng tâm hồn đa cảm của Đoàn Dự gần với gió bụi. Ông đi khắp giang hồ. Đến trước tượng thạch nữ sau núi Vô Lượng của phái Tiêu Dao, Đoàn Dự ngây ngất trước một "thiên nhan" mang hai quyền năng gần như mâu thuẫn nhau: sát sinh và tái tạo. Với những người muốn chiếm đoạt thạch nữ thì sẽ chết dưới chân "nàng". Với Đoàn Dự, thạch nữ đã "sinh" ra cho ông một niềm ngây ngất, nhẹ nhàng như hương trà mà ông từng nếm trải. Và cũng lạ lùng từa tựa như tâm thái quá thân thương trước một người xa lạ mà ta mới gặp và không giải thích được vì sao. Ngày kia, đôi mắt chứa những cơn sóng tình không ngừng vỗ của ông dừng lại ở một người: "Ôi Vương Ngữ Yên! Nàng ở đâu? Người con gái ấy chưa bao giờ động thủ, nhưng võ công nào cũng thấu triệt... Và mỗi lần nàng mở miệng mách một thế võ cho một cao thủ thượng thừa thì, nghe cái giọng yêu kiều và xa xôi như đến từ một thế giới khác, người ta muốn nghĩ rằng nàng ở giữa cuộc đời như nàng tiên của tri thức thuần túy (...). Tiếc thay võ học trong đời này chỉ là chuyện phụ. Người con gái ấy, cũng như Đoàn Dự, ngoài tình yêu chẳng coi gì là trọng (Đỗ Long Vân)”.

Đỗ Long Vân hạ bút: “Tham vọng có thể dẫn đến tuyệt vọng. Nhưng tình yêu là cái đam mê duy nhất trong Kim Dung không bao giờ biết đến sự ăn năn. Cái tên Bất Hối mà Kỷ Hiểu Phù đã đặt cho đứa con hoang của mình có lẽ đã đánh dấu trang sử diễm lệ nhất của võ lâm và có lẽ Mộ Dung Phục sẽ bị trừng trị đến hóa điên, không phải vì tham vọng của chàng quá lớn, mà tại vì chàng là nhân vật rất hiếm của Kim Dung đã không biết thế nào là tình yêu”. Bùi Giáng cũng vậy, ông viết: “Thật ra, sự vật không có phân ly chia cắt. Và nghệ thuật của con người xoay quanh một đề tài duy nhất là tình yêu muôn thuở vẫn gửi gắm về riêng một lời ước hẹn với Hữu Thể Sơ Nguyên”. (Còn nữa)

 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 10: Nhà thơ nói về... thế kỷ 35!

Tuần tới, vào ngày 4.10, chương trình tưởng niệm thi sĩ Bùi Giáng tại quê hương Quảng Nam của ông sẽ bắt đầu lúc 18 giờ ở Trúc Lâm Viên số 8 Trần Quý Cáp - TP.Đà Nẵng do Chi hội Hội Nhà văn Việt Nam, cùng văn phòng đại diện NXB Văn học ở miền Trung và Tây nguyên tổ chức.

 

 

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 10: Nhà thơ nói về... thế kỷ 35!
Bùi Giáng - ký họa của Đỗ Trung Quân

Với chủ đề Bùi Giáng - cõi phiêu bồng, chương trình có các nhà văn nhà thơ: Ngân Vịnh, H’ Man, Lê Anh Dũng, Nhã Tiên, Vô Biên, Thúy Liễu, Ái Niệm, Văn Nho, Thư Lan, Thu Thủy, nhà thư pháp Hồ Công Khanh, nhạc sĩ Trần Quế Sơn và ca sĩ Lê Cát Trọng Lý góp mặt.

Đại diện Bùi tộc Vĩnh Trinh tại TP.HCM thông báo như vậy và nhắc đến nhận định của nhà văn Thu Bồn (Hà Đức Trọng 1935 - 2003) lúc sinh thời: “Riêng một mình thơ ông (Bùi Giáng) cũng đã có chỗ đứng trong thơ Việt Nam. Trường phái Bùi Giáng - một trường phái mà không một nhà thơ nào học nổi. Nếu chúng ta không lưu ý nghiên cứu nhà thơ này thì quả là một mất mát đáng tiếc”. Khi biên soạn và sưu tập thơ Quảng Nam thế kỷ 20, Thu Bồn đã viết hồi ức về chuyện gặp Bùi Giáng lần đầu tiên năm 1976 giữa cơn mưa lớn ở TP.HCM. Lúc ấy Bùi Giáng đang đứng giữa trời chỉ trỏ cho xe cộ lưu thông, “người ông ướt mèm, tay chân run cầm cập”. Thu Bồn đưa ông về nhà mình để nhen lửa sưởi ấm cho ông, rồi lấy một bộ quần áo khô ra đưa ông mặc. Bùi Giáng nhìn quanh tìm chỗ kín để thay, Thu Bồn bảo không cần phải tìm chỗ kín làm gì, cứ hãy cởi truồng ra đi, Bùi Giáng nói: “Cái đó đâu phải như thơ mà lúc nào cũng bày ra được!”.

 

 
 

“Gương mặt tinh anh và cặp mắt sắc sảo (của Bùi Giáng) làm tôi kính sợ. “Đó, Bồ tát đó” - người bạn nói để giới thiệu người tôi hâm mộ mà trước đó chưa từng gặp (...) cũng như Tế Điên, hình như Bùi Giáng đến cõi đời này để dạo chơi, để đùa giỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng...”.

Nguyễn Tường Bách
(Mùi hương trầm, NXB Trẻ, TP.HCM 2001)

 

Với ông, “thơ” như dòng nước cuộn trước mắt, mà thi sĩ sẵn sàng quăng thân vào đó: “Nửa đời bỏ lại thân anh/Nửa linh hồn bỏ nước xanh lên bờ/Khổ đau về chẳng hẹn giờ...”. Và vượt ra ngoài ngôn ngữ thường tình, để “nghe” được tiếng động của mầm non mới nở: “Nằm nghe ngọn lúa trổ hoa/Mây trời kết trái tên là hột sương”. Để rồi, trong tương lai - thơ sẽ trở thành ngôn ngữ thường ngày của nhân loại. Khi gặp nhau mọi người sẽ nói bằng thơ... lục bát. Về điều ẩn mật đó, thêm một lần nữa, phải nhờ đến lời giải mã của lão thi sĩ Trần Đới (người gần gũi nhiều năm và hiểu sâu về Bùi Giáng): “Có một hôm giữa chiều đói bụng, ngồi bên góc hè gần Thư quán Vạn Hạnh nhìn sinh viên ra vào mua sách vở, Bùi Giáng với giọng thuốc rê khò khè: “Bước đi của văn hóa thật là kỳ ảo đậm đặc hơn mấy lần cái màu khói thuốc gì mà nhạt thếch này...”. Nói qua lại một lát, Bùi Giáng bảo: “Ngay giờ này tớ thấy mình đã về đến thế kỷ 35, một - ngàn - rưỡi - năm nữa tớ sẽ đầu thai xuống “Sè gòn”, lúc đó người ta gọi là “Sãi gòn” và trong đô thị mà tên gọi được phát âm theo giọng “mới” ấy chỉ còn “nửa giọt Mưa nguồn rớt hột trên ngọn Lá Hoa Cồn”. Bùi thi sĩ tiếp: “Lúc đó Mưa nguồn sẽ chuyển dịch thành kinh điển thi ca” và “tăng ni, các cha cố sẽ ngâm thơ thay cho đọc kinh, tụng chú, lúc đó bước đi của văn hóa đã nhập thân cõi nguồn xưa sau một màu thơ và mộng (...) Sau này lời nói thành thơ, toàn thơ lục bát...”.

Ví dụ thay vì hỏi: “Anh đi đâu đó?” - thì theo Bùi Giáng thế kỷ 35 thiên hạ sẽ hỏi đáp có vần điệu như sau:

Hỏi: “Mi đi mô rứa thằng tê?”

Đáp: “Tao về nhà ngủ nằm kề vợ tao!”

Hoặc thay vì nói: “Nhà tôi ở gần nhà thờ Đức Bà” - họ sẽ diễn bằng thơ: “Nhà tao cạnh góc nhà thờ/Nhà mi ở tận góc chùa Vĩnh Nghiêm”. Một thí dụ nữa do Bùi Giáng đưa ra về việc “lang thang school” bằng “ô tô bước”, để được ngắm phố phường rộn rịp thích hơn: “Đi xe chậm, máy bay nhanh/Thua tao cuốc bộ loanh quanh Sài Gòn”.

Mấy cái đó còn dễ “nói bằng thơ”, chứ vào sòng bạc nói sao? Bùi Giáng đáp - nói thế này: “Tao xin tất cả ăn thua/Đứa nào tiền lẻ thì đưa bố xài”. Nhưng đấy là cách người ta nói với nhau bằng thơ vào thế kỷ... 35! Chứ thế kỷ 20 và 21 này loài người phải đang tiếp tục nói bằng thứ ngôn ngữ “khôn ngoan” một cách “dại khờ”, vì kết quả của thứ tiếng nói “lịch sự, lịch lãm” ấy thường đem lại trăn trở, khổ đau, lường gạt, dối trá nhiều hơn là chân thành và hạnh phúc! Nên Bùi Giáng thường thích sống trong cõi miền “Sơ nguyên lặng lẽ” và chìm vào “im vắng thanh lương”. Tuy vậy, ở nơi đó - từ “tâm không” sâu thẳm của ông - lắm lúc đã thình lình vọt lên những lời thơ thiết tha và lãng mạn: “Anh quỳ xuống giơ hai tay bệ vệ/Chỉ xin nâng một giọt lệ êm đềm”... (Còn nữa).

Nguồn: thanhnien online

 

Các bài khác:
· NHÀ VĂN ĐÀ LINH - MỘT SỐ PHẬN BỊ ĐỨT GÃY
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 4- ĐẠT ĐẠO BÙI GIÁNG
· MỘT CHUYỆN HAY VỀ PICASSO
· ĐƯA TIỄN THẦY HOÀNG NHƯ MAI
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 3- CUỐN SỔ NỢ ĐOẠN 'TRƯỜNG'
· CẦN NHÌN THOÁNG HƠN VỀ THƠ TRẺ
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 2- THIÊN TÀI KHÔNG THỂ ĐỊNH NGHĨA
· CHUYỆN ĐỜI BÙI GIÁNG: KỲ 1. AI ĐƯA BÙI GIÁNG VÀO NHÀ THƯƠNG ĐIÊN?
· CHUYỆN MỘT BÀI CA DAO CỔ
· NHỮNG Ý THỨC HỆ CỦA VIỆC ĐỌC: VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI TRONG QUÁ KHỨ ĐỔ BÓNG
· NGƯỜI MUÔN NĂM Ở VIÊN TĨNH VIÊN
· TIỂU THUYẾT VỚI TÔI LÀ SI MÊ DAI DẲNG
· XÓT XA ĐÀ LẠT
· MỘT CUỐN SÁCH XUYÊN TẠC LỊCH SỬ: NGUYỄN SINH SẮC LÀ CON VÕ DUY DƯƠNG!
· LỄ KỶ NIỆM 100 NĂM SINH NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH LẠP
· VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG KỈ NGUYÊN TOÀN CẦU HÓA
· BÙI GIÁNG - KỲ LẠ, NGANG TÀNG, TẬN HIẾN
· BỨC CHÂN DUNG TỰ HỌA CỦA HỒ CHÍ MINH
· 'NHẬT KÝ TRONG TÙ' TRONG CẢM NHẬN CỦA MỘT HỌC GIẢ TRUNG QUỐC
· NHỮNG ĐỨA CON CỦA CHỊ ÚT TỊCH 45 NĂM SAU…

 

  
Gia đình Bích Khê