DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHIẾN TRANH MANG GƯƠNG MẶT PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI HẬU CHIẾN

                                                                                   THÁI PHAN VÀNG ANH

Trong một lần trả lời phỏng vấn trên báo Văn nghệ Trẻ, khi được hỏi trong chiến tranh điều gì ám ảnh ông nhất, nhà văn Chu Lai đã trả lời: “Con gái... Con gái làm mềm cuộc chiến tranh. Con gái làm xanh lại chết chóc. Con gái làm tác phẩm nghệ thuật trở nên giàu có”.

Cái nhìn này gợi những suy ngẫm thú vị. Quả thực, khúc xạ trong những trang văn, chiến tranh mang nhiều khuôn mặt - phụ thuộc vào việc nó được nhận diện, lí giải từ những khía cạnh nào và bởi một góc nhìn nào - và không phải ngẫu nhiên mà từ góc nhìn giới, nhiều ý kiến cho rằng chiến tranh mang khuôn mặt phụ nữ.

Những năm qua, văn xuôi hậu chiến đã hướng đến khám phá vẻ đẹp của con người, của đời sống trong và sau chiến tranh, trong đó có cái đẹp rạng ngời của tình yêu, tính dục, qua những chân dung phụ nữ - những “mầm sống” ngăn ngắt xanh giữa bom đạn, chết chóc, những biểu tượng “cứu rỗi” cho sự khốc liệt, tàn ác của chiến tranh. Những chân dung đầy sức sống trong tiểu thuyết, truyện ngắn, như Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Tháng ngày đã qua của Sương Nguyệt Minh, Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến... đã cho thấy, đúng như Chu Lai nói, con gái làm mềm cuộc chiến tranh, làm xanh lại chết chóc. Nhưng không chỉ có vậy, với văn xuôi hậu chiến.

“Có hai giới. Đó là một sự thật mà lịch sử cần phải coi đó là nguyên tắc thứ tư, bên cạnh nguyên tắc tự do, bình đẳng và bác ái” (Có hai giới tính - Antoinette Fouque). Định đề này trước hết khẳng định sự tồn tại bình đẳng của phụ nữ bên cạnh nam giới. Phụ nữ có những vai trò và địa vị không thể phủ nhận trong lịch sử, và dĩ nhiên, họ cũng chịu những tác động của lịch sử xã hội, như giới kia. Xuất phát từ quan niệm này, có thể thấy, phụ nữ “can dự” đến chiến tranh không ít hơn nam giới. Thậm chí, trong chiến tranh, không phải chỉ những người lính đàn ông trực tiếp chiến đấu mới phải chịu đựng những đau đớn của việc kề cận sống chết, mà phụ nữ mới chính là người chịu mất mát “kép”. Với họ, chiến tranh là những bất an, là khao khát, là vọng phu, là những chấn thương thể xác và tinh thần… Từ góc nhìn giới, các nhà văn thời hậu chiến như Dương Hướng, Nguyễn Quang Thiều, Phạm Ngọc Tiến, Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Lưu Sơn Minh, Phạm Trung Khâu, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Dạ Ngân, Võ Thị Xuân Hà, Vũ Minh Nguyệt… đã khơi sâu vào những nỗi đau đàn bà thăm thẳm, vô lượng vô biên.

Xin mượn tên một truyện ngắn của nhà văn Sương Nguyệt Minh để nhấn mạnh số phận của giới nữ trong chiến tranh: Mười ba bến nước. Từ xưa, dân gian đã đúc kết thân phận người phụ nữ qua thành ngữ “con gái mười hai bến nước”. Trong mười hai bến - công, hầu, khanh, tướng, sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục - con thuyền đàn bà trôi đến bến nào là may nhờ, rủi chịu. Sương Nguyệt Minh băn khoăn, vì sao trong các bến nước, dân gian lại không nói đến bến tốt - bến người lính, trong khi rất nhiều người phụ nữ Việt Nam đậu ở bến này: “Neo đậu ở cái bến người lính thì coi như đằng đẵng xa vắng chồng, coi như chịu cái bến đời chiến tranh mất mát hi sinh, cùng cực khổ đau, bất hạnh”. Phát hiện ra bến thứ mười ba, Sương Nguyệt Minh đã nhân lên bội phần và sâu sắc mấy chữ phận đàn bà. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của nhà văn quân đội này là nỗi niềm phụ nữ, với môtip trùng phức là đàn bà và những bến sông. Những Mây, Sao, Sương, Hiên, Thương - những cái tên nhẹ nhàng, lãng đãng mang chứa phận đàn bà đau đớn, như gió như mây, như mỏng mảnh phù du, đi qua những Người ở bến sông Châu, Dòng sông trinh nữ...

Văn xuôi hậu chiến viết về chiến tranh còn quan tâm đến nỗi đau giới tính. Từ góc nhìn cá nhân, nhiều tác phẩm khơi sâu vào tâm trạng mỏi mòn của những cô gái ở tiền tuyến hoặc ở hậu phương: Hương hoa gạo (Dương Hướng), Hai người đàn bà xóm Trại (Nguyễn Quang Thiều), Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Trinh nguyên (Hàn Nguyệt)…

Trong Xưa kia chị đẹp nhất làng, Tạ Duy Anh đã tổ chức các lớp thời gian thật linh hoạt (kéo căng, bỏ băng, đồng hiện thời gian) tạo ấn tượng về nỗi đợi chờ đằng đẵng của nhân vật: “Chiến tranh thò bàn tay vào lôi tuột đi các chàng trai mới chớm tuổi mười tám… Chị Túc sang tuổi hai mươi rồi hai lăm lúc nào chị không nhớ”; “Chị Túc bước sang tuổi ba lăm...”, và để rồi, chị đã làm mẹ trong sự dè bỉu của dư luận về một người đàn bà chửa hoang. Hai người đàn bà vọng phu cùng một mái nhà trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều lại không một lần có được niềm hạnh phúc làm mẹ dù tủi hổ ấy. Ngày những người đàn ông bước vào cuộc chiến, họ mới hai mươi tuổi. Năm tháng trôi qua, hai người đàn ông của họ không trở về. Bất chấp sự tàn nhẫn của thời gian, họ vẫn chờ đợi trong ám ảnh, mỏi mòn. Khép lại câu chuyện là hình ảnh hai bà lão héo mòn nhai trầu trong tiếng mọt vọng tới từ hai cỗ áo quan dành cho họ (Hai người đàn bà xóm Trại).

Văn học hậu chiến khẳng định con người cá nhân, nhìn sâu và đúng hơn vào phần bản năng, quan tâm đến khát vọng tự nhiên của người phụ nữ. Nhiều tác phẩm đề cập đến những khao khát cháy lòng của người nữ chưa hề biết đến tình yêu đã trở thành thiên cổ, hoặc bước ra từ chiến tranh, nhưng người đàn ông của họ đã không trở về từ cuộc chiến. Về vấn đề này, các nhà văn nữ đã thể hiện thành công một cách bạo liệt. Võ Thị Xuân Hà mạnh dạn đưa ra những nghịch lí của chiến tranh, của cái đa đoan hồng nhan qua mối tình tay ba: chồng - vợ - bóng ma ám ảnh của người chồng liệt sĩ (Đàn sẻ ri bay ngang rừng). Dạ Ngân lại trăn trở về số phận những người phụ nữ vì hoàn cảnh chiến tranh mà bị (được) làm mẹ. Truyện ngắn Trên mái nhà người phụ nữ góp thêm một tiếng nói về những vết thương không liền miệng của chiến tranh, khi đêm đêm, nhìn lên mái nhà, với nhiều người phụ nữ, “cuộc chiến tranh vẫn chưa hề nguội lạnh”. Võ Thị Hảo - người kể chuyện cổ tích hiện đại - đã chạm đến những điều sâu kín chôn chặt trong đáy lòng những người phụ nữ không gánh trên vai mình những chữ vàng (tiết hạnh, thuỷ chung, đảm đang, anh hùng) mà chỉ đau đáu một khát vọng lẽ ra thuộc về thiên chức của giới nữ. Có lẽ, đây là nhà văn nữ đầu tiên nói được hết cái khốc liệt của chiến tranh đối với giới nữ, làm nên những bi kịch nữ, qua Trận gió màu xanh rêu, Người sót lại của rừng cười... Từ góc nhìn giới, dục vọng, bản năng trở thành những biểu hiện cho khát vọng sống, cho quyền được làm trọn thiên chức. Từ cái nhìn giới, mới lí giải được vì sao nhiều người phụ nữ đã vượt qua vòng cương tỏa của lễ giáo để được làm mẹ: Bến không chồng (Dương Hướng), Người đàn bà trên đảo (Hồ Anh Thái), Tháng ngày đã qua, Dòng sông trinh nữ (Sương Nguyệt Minh)…

Trong những di họa nặng nề của chiến tranh, nỗi đau da cam mãi còn nhức nhối nhân loại. Hòa vào tiếng nói chung của Việt Nam và của toàn cầu, bằng cách riêng của văn học, các nhà văn viết về chiến tranh đã góp thêm tiếng nói giàu tính phê phán và giàu giá trị nhân đạo. Cái tàn độc của chiến tranh màu da cam, xót xa thay, lại trút xuống người phụ nữ. Kí của Minh Chuyên, với Chiến tranh không mảnh đạn, Di họa chiến tranh, Tình mẫu tử… là những con số nhói lòng. Bằng đặc trưng của thể kí, Minh Chuyên đã đong đếm bi kịch kép của những người vợ, người mẹ bằng những địa danh, địa chỉ, số liệu thống kê. Với truyện ngắn, không cần số liệu, chỉ bằng những biểu tượng, nhiều nhà văn đã khắc hoạ đậm nét nỗi đau thăm thẳm của người phụ nữ. Trong Tiếng lục lạc (Nguyễn Quang Lập), với hình tượng người phụ nữ hữu sinh nhưng không có diễm phúc được làm mẹ, âm thanh lanh lảnh như tiếng trẻ con cười vang vọng khép lại câu chuyện về chiến tranh không có tiếng súng mà âm ỉ nỗi đau. Trong Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh, di chứng của chất độc màu da cam từ chồng cũng khiến Sao năm lần mang nặng đẻ đau nhưng không lần nào được làm mẹ. Sử dụng những chuỗi hình ảnh - biểu tượng và chuỗi câu hỏi tự vấn, Sương Nguyệt Minh khắc sâu ám ảnh bến sông - sang sông - bến đời người phụ nữ. Tác phẩm khép lại mà tiếng gọi “Trả con tôi. Trả con tôi đây” vẫn khắc khoải ngân dài...

Từ cái nhìn “thiên tính nữ” (cái nhìn của những nhân vật nữ, những nhà văn nữ hay những nhà văn nam đã đặt mình vào địa vị phụ nữ để cảm nhận về chiến tranh), văn xuôi hậu chiến viết về chiến tranh đã có thêm một khuôn mặt khác trước - khuôn mặt phụ nữ giàu tính nhân bản         
                        

Văn nghệ Quân đội

 

Các bài khác:
· BÙI GIÁNG VÀ NHỮNG NGƯỜI THÂN
· LÃNG THANH - GƯƠNG MẶT EM PHI NHƯ ĐIÊN CUỒNG
· GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN VỀ ĐẠI VĂN HÀO GOGOL
· DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ - 'NGHÌN NĂM MAI CỐT CHẲNG MAI DANH'
· CHÙM TẢN VĂN CỦA LÃNG THANH
· NHÀ THƠ QUANG HUY - TỪ 'HƯ VÔ' ĐẾN NỖI NIỀM THỊ NỞ'
· BÍ ẨN MỘT MỐI TÌNH QUA CUỐN SỔ TAY CỦA PHÙNG QUÁN
· BÌNH THƠ 'ĐÂY THÔN VỸ DẠ'
· PHỤ NỮ VIỆT NAM - NHỮNG CÂY LAU BẰNG THÉP
· TÌM NGUYỄN HUY THIỆP QUA 'VONG BƯỚM'
· LÊ ĐẠT - 'CHIM GÕ MÕ XƯA CHƯA GIŨ HẾT LỤY TÌNH'
· HAI TRUYỆN NGẮN VỀ TUỒNG VÀ CHÈO CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
· TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH - NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TƯ DUY THỂ LOẠI
· 'THÀ NHƯ GIỌT MƯA' CỦA NGUYỄN TẤT NHIÊN - MỘT KHÚC TÌNH BUỒN
· TẾ HANH: TỪ 'QUÊ HƯƠNG' ĐẾN 'NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG'
· VỀ MỘT TRUYỆN NGẮN HIẾM HOI CỦA CHẾ LAN VIÊN
· HOÀNG CẦM VÀ CHIẾC LÁ HUYỀN THOẠI
· NHÌN NHẬN PHẠM QUỲNH TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VHVN TỪ ĐẦU XX ĐẾN 1945
· VŨ HỮU ĐỊNH - ĐƯỜNG GIAN NAN CHẠY SUỐT KIẾP NGƯỜI
· NHỮNG BẤT NGỜ TỪ THẠCH LAM

 

  
Gia đình Bích Khê