DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CHÙM TẢN VĂN CỦA LÃNG THANH

Lãng Thanh (1977-2002) tên thật là Lê Quốc Tuấn. Anh tốt nghiệp Học viện Quan hệ quốc tế và Đại học Ngoại thương. Với tài năng bẩm sinh và một tư duy cách tân mãnh liệt, anh đã để lại tập thơ Hoa gây được sự chú ý của nhiều bạn đọc và được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B (không có giải A) năm 2004. Lãng Thanh cũng làm nhạc, vẽ tranh, viết thư pháp, dịch thơ chữ Hán và thơ phương Tây, viết tản văn, bình luận nghệ thuật và một số thể loại khác. Những bài viết hấp dẫn của một tài năng đoản mệnh đã được bạn bè tìm thấy sau khi anh qua đời và đưa vào tập Lãng Thanh, hoa và những những trang viết để lại
Đường
 
I
Nhà thơ là những người đi rất xa, khó nhọc, Người hái về một nắm hoa lạ. Có người hỏi nhà thơ hái được từ đâu. Người chỉ vào rừng và nói: "Ở sâu trong rừng". Có người hỏi đường đi tới đó. Người mỉm cười: "Tôi bị lạc!".
 
II
Nhà thơ là người phiêu du, Người đi về đâu? Đông, Tây, Nam, Bắc đều là đường. Không có nơi nào nhà thơ không muốn đến,  nếu không thể cho một thứ gì, có lẽ may mắn người nhận được một thứ khác. Chuyến đi xa nào Người cũng mang về nhiều hoa và trái. Bạn bè vây quanh xúm hỏi: Sao ngài hái được nhiều hoa thơm trái lạ vậy? Nhà thơ đáp: Vậy mà tôi vẫn chưa đi hết những lối mòn!
 
III
Nhà kiến trúc, nhà điêu khắc, diễn viên, họa sĩ, nhạc sĩ đều có thể sống bằng nghề của họ. Mặc dù nhiều khi cũng túng thiếu, nhọc nhằn. Riêng có thi sĩ không thể bán tác phẩm của mình mà đủ sống, làm thơ chưa là một nghề chuyên nghiệp. Các nhà thơ thường kiêm các nghề khác. May vì vậy mà nhiều nhà thơ tránh được sự rẻ rúng. Một thi sĩ - chính trị gia nửa đùa nửa thật nói: "Tôi làm Bộ trưởng cho vui, làm thơ là chính". Suy ra, nhà thơ trẻ kiệt xuất không sớm tính kế lập nghiệp, thì khổ cho con cháu mai sau thêu dệt các huyền thoại về số phận bi thảm của một thiên tài chết trong nghèo đói, bệnh tật, điên loạn và chôn theo mối tình tuyệt vọng!
 
IV
Tên tuổi các danh nhân thường được đặt cho các đường phố, phần lớn là các nhà cách mạng, nhà khoa học, nhà thơ... Âu cũng là lẽ phải!
Sinh thời, họ đều là những kẻ đi tìm đường.
 
 

 

Danh họa

 
 Hội họa Việt Nam ([1]) khởi sắc theo đạo Phật từ thế kỷ X-XI và thể hiện bản sắc riêng rõ nét. Cùng với tinh thần nhà Phật, trong hội họa đã xuất hiện loại tranh tứ quý, tứ thời. Các họa gia Việt Nam tiếp thu nhiều lối vẽ tranh thuỷ mặc và thuỷ mặc đạm thái của Trung Quốc, chú trọng đặc biệt về nét bút. Cáo tật thị chúng là một danh tác vẽ mai của Mãn Giác thiền sư sử dụng lối câu lặc pháp vô cùng vi diệu.
Thiên tài hội họa đầu tiên của nước ta là Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông am hiểu mọi thể loại của hội họa Trung Quốc từ sơn thuỷ, nhân vật cho đến hoa điểu. Một số tranh sơn thuỷ của ông chịu ảnh hưởng Nam tông có màu sắc xanh lục, kim bích với nét vẽ mạnh, dùng mực đậm đặc. Những tranh nổi tiếng thuộc loại này như: Quá Thần Phù hải khẩu, Dục Thúy sơn, Vân Đồn, Côn Sơn ca.
Phải đến thế kỷ XVIII thì mới ra đời loại tranh cuộn có cảnh trí dàn trải theo phép "phối cảnh tẩu mã". Tác phẩm Sơ kính tân trang của Phạm Thái là một tác phẩm tiêu biểu. Phạm Thái (1777-1813) tự Đan Phưọng, hiệu Chiêu Lỳ, đạo hiệu Phổ Chiêu thiền sư, quê tại trấn Kinh Bắc. Ông vẽ hàng loạt cảnh trí rất đa dạng của non sông đất nước Việt Nam. Tranh ông có nhiều cách tân về hình khối, màu sắc. Xem tranh ông không thể quên cảnh đá sực sực, nước cồn cồn, đùn đùn khói núi... thi thoảng có bức vẽ cảnh tấp nập thuyền bè, rộn rã chợ cá (Đồ Sơn), cảnh cửa khẩu phồn vinh (Vạn Ninh). Tranh nhân vật của Phạm Thái vô cùng kỳ thú. Ông để lại nhiều tiểu phẩm châm biếm miêu tả sãi vãi, sư tăng, tiểu gái. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng những bức chân dung Trương Quỳnh Như của ông vẫn còn bộc lộ sự non kém của kỹ pháp.
Nguyễn Du - đại họa gia số một của Việt Nam để lại một di sản vô cùng đồ sộ. Bộ tranh cuộn Đoạn trường tân thanh của ông diễn tả một cốt truyện có gốc từ Trung Quốc. Nguyễn Du là họa gia Việt Nam đầu tiên thuần thục cả lối vẽ công bút lẫn tả ý và nâng nó lên một tầm cao chưa từng thấy. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu và màu vẽ của dân tộc. Có thể kể tên một loạt các tranh cuộn của các họa gia khác như Hoa tiên, Bích Câu kỳ ngộ, Tây Sương, Lục Vân Tiên, Phan Trần... nhưng không bộ tranh nào hoàn hảo như Đoạn trường tân thanh. Ngoài ra Nguyễn Du còn sáng tạo hàng trăm bức tranh nổi tiếng khác như: Sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca... Ông được coi là "bách khoa thư" của đời sống xã hội Việt Nam, là "tập đại thành" của hội họa cổ điển. Ông có tinh thần cách điệu và giản hóa mạnh để tạo các mảng lớn, trau chuốt chi tiết kết hợp với bố cục thoáng đãng và hình nét uyển chuyển mang đậm tính Á Đông, bảng màu đơn giản hài hòa. Nhiều chi tiết trong tranh ông mang tính trang trí.
Nhà cách tân kiệt xuất của nền hội họa Việt Nam lại là một phụ nữ - Hồ Xuân Hương. Bà nổi tiếng với loại tranh hoa tình và là nữ họa sĩ đầu tiên vẽ tranh khỏa thân. Bà được tôn là tổ sư của họa phái ấn tượng, họa phái dã thú sau này. Tranh của bà làm xôn xao dư luận đương thời bằng màu sắc tương phản gay gắt, táo bạo bộc lộ những xúc cảm mạnh mẽ trước thiên nhiên. Bà là nhà điêu sắc vĩ đại của nền mỹ thuật dân tộc. Phải đến thế kỉ XX những cách tân của bà mới được đón nhận một cách thấu triệt. Bà sử dụng bảng màu nguyên để diễn tả cần trắng phau phau, đen trùm một thức mây, xanh om cổ thụ, trắng xóa tràng giang, cửa son đỏ loét, bậc đá xanh rì. Bà có nhiều đột phá về phương diện tạo hình, không quá trau chuốt đường nét mà giữ lại những nét cốt tử nhất, sinh động nhất, giản lược tinh tế đến cực độ. Bởi vậy những bức tranh như Tranh Tố nữ, Giếng nước, Sư hổ mang, Động Hương Tích, Thiếu nữ ngủ ngày, Hang Cắc Cớ, Đánh đu, Cảnh thu, Đèo ba dội... xứng đáng là những tác phẩm tạo hình mẫu mực. Tranh của bà luôn cung cấp cho người thưởng ngoạn những liên tưởng táo bạo trên cái nền tả chân, chẳng hạn như bức Dệt cửi, và loạt tranh quạt vô tiền khoáng hậu. Qua đó ta thấy phong cách tạo hình của bà vượt ra ngoài truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, là một phong cách cá nhân độc lập, sáng tạo, hết sức đặc sắc.
Không có ý thức đột phá như Hồ Xuân Hương nhưng Đoàn Thị Điểm (1705-1746) và Nguyễn Gia Thiều lại làm người ta kinh ngạc bởi quy mô hoành tráng của hai kiệt tác tranh tường Chinh phụCung oán, một bức miêu tả chân dung người chinh phụ còn bức kia miêu tả người cung nữ, mỗi bức tranh ước chừng hơn 300m2. Bức chân dung chinh phụ của bà Điểm được xây dựng theo nguyên mẫu phác thảo của Đặng Trần Côn (1710-1742)). Hai họa gia tập trung miêu tả kĩ lưỡng chi tiết tới từng đường tơ kẽ tóc, nhằm làm nổi rõ tâm lí nhân vật. Cho đến nay vẫn chưa ai vượt qua được hai người này về thể loại tranh hoành tráng. Đầu thế kỉ XX chứng kiến một sự đổi sắc của nền mỹ thuật Việt Nam. Các họa sĩ thế hệ trẻ dựa trên sự kế thừa tinh hoa ưu tú của lịch sử dân tộc kết hợp với những tư tưởng và thủ pháp du nhập từ phương Tây đã mang lại cho nền hội họa nước nhà một diện mạo mới. Các trường phái siêu thực, lãng mạn, tượng trưng, lập thể, ấn tượng, tân cổ điển... dần dần xuất hiện ở Việt Nam. Đại biểu của phái lãng mạn là Xuân Diệu nổi tiếng với bức tranh Đây mùa thu tớiNguyệt Cầm. Loạt tranh Điêu tàn của Chế Lan Viên sử dụng gam màu lạnh làm cho chúng ta cảm thấy hoang mang, cô đơn, u trầm, phảng phất những nỗi buồn sâu sắc. Hàn Mạc Tử tiến xa tới chủ nghĩa tượng trưng với ba biểu tượng được lặp lại nhiều lần: trăng, hồn, máu. Hàn cũng là họa gia vẽ tranh đẹp nhất về Maria và Chúa. Tranh của Hàn cho thấy sức tưởng tưởng diệu kì của họa sĩ, nhiều bức mang dáng dấp siêu thực như Trường tương tư, Cô gái đồng trinh. Siêu thực một cách thuần túy là Nguyễn Xuân Sanh với nhiều tranh được coi là bí hiểm, ông rất nổi tiếng với bức tĩnh vật: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà, nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm. Trường phái Tân cổ điển nổi lên họa sĩ hàng đầu là Nguyễn Bính, mặc dù Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ rất trung thành với họa phái này. Bản thân Nguyễn Bính giai đoạn sau có sự chuyển biến phong cách, đề tài và các sáng tác ngày càng mờ nhạt. Một đặc điểm của nền hội họa mới là sự xuất hiện các phong cách cá nhân riêng biệt, không trộn lẫn với nhau, thực sự hình thành cục diện trăm hoa đua nở.
Những năm cuối thế kỉ XX chúng ta lại phải chứng kiến một sự suy thoái của nền mỹ thuật dân tộc. Các họa sĩ của chúng ta phần lớn không chịu đào luyện kỹ thuật, thủ pháp, trau dồi hình họa, bố cục. Họ cố gắng và mong muốn cách tân nhưng lại tuyệt nhiên không nắm vững cơ bản. Chủ nghĩa trừu tượng và lập thể tiếp tục gây ảnh hưởng mạnh nhưng vẫn chưa được công chúng nhiệt tình đón nhận. Một bộ phận họa sĩ chuyển sang khai thác các yếu tố dân tộc nhưng vẫn chỉ giới hạn ở đề tài chứ chưa có những tìm tòi đáng kể.
 
L.T


[1] Lãng Thanh dùng hội họa để phác thảo vài nét bức tranh Thi nhân Việt Nam.

Nguồn tin: TCNV 03-2012

 

Các bài khác:
· NHÀ THƠ QUANG HUY - TỪ 'HƯ VÔ' ĐẾN NỖI NIỀM THỊ NỞ'
· BÍ ẨN MỘT MỐI TÌNH QUA CUỐN SỔ TAY CỦA PHÙNG QUÁN
· BÌNH THƠ 'ĐÂY THÔN VỸ DẠ'
· PHỤ NỮ VIỆT NAM - NHỮNG CÂY LAU BẰNG THÉP
· TÌM NGUYỄN HUY THIỆP QUA 'VONG BƯỚM'
· LÊ ĐẠT - 'CHIM GÕ MÕ XƯA CHƯA GIŨ HẾT LỤY TÌNH'
· HAI TRUYỆN NGẮN VỀ TUỒNG VÀ CHÈO CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
· TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH - NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TƯ DUY THỂ LOẠI
· 'THÀ NHƯ GIỌT MƯA' CỦA NGUYỄN TẤT NHIÊN - MỘT KHÚC TÌNH BUỒN
· TẾ HANH: TỪ 'QUÊ HƯƠNG' ĐẾN 'NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG'
· VỀ MỘT TRUYỆN NGẮN HIẾM HOI CỦA CHẾ LAN VIÊN
· HOÀNG CẦM VÀ CHIẾC LÁ HUYỀN THOẠI
· NHÌN NHẬN PHẠM QUỲNH TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VHVN TỪ ĐẦU XX ĐẾN 1945
· VŨ HỮU ĐỊNH - ĐƯỜNG GIAN NAN CHẠY SUỐT KIẾP NGƯỜI
· NHỮNG BẤT NGỜ TỪ THẠCH LAM
· AI HÁT HAY NHẤT NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN
· KHÔNG THỂ CÓ SẮC MÀU CHUNG CHO CÁC LÁ CỜ THƠ
· “THƠ KHÓ” HAY CÂU CHUYỆN CỦA NHỮNG GIỚI HẠN
· NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM: “TÔI CÓ MỘT HÌNH DUNG VUI VUI, MÌNH NHƯ CON DƠI, CHUỘT KHÔNG NHẬN LÀ CHUỘT, CHIM KHÔNG COI LÀ CHIM”
· THỰC HAY MƠ

 

  
Gia đình Bích Khê