DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
TRẠNG CẢM HẬU HIỆN ĐẠI

                                                                                                                 Miên Di

Chúng ta đã đi qua thời kỳ Thơ mới, từ đầu thời kỳ ấy cho đến nay, giữa nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ đã xác lập được mẫu số chung. Nói một cách khác, giữa người làm thơ và độc giả đã tìm thấy được sự đồng cảm sâu sắc. Với thơ hiện nay điều đó có lẽ còn xa lắm, bằng cách nào để nghệ thuật sáng tạo và nghệ thuật cảm thụ“xích lại gần nhau”? Bài viết này xin lấy thơ ra làm ví dụ, mong với đến một điều xa hơn nữa…

Trước hết, hãy đi tìm căn nguyên vì sao thơ hiện nay khó tiếp cận được công chúng, khó đồng vọng được như đã từng. Bởi thơ đang có khuynh hướng chối bỏ “đại tự sự”, nghĩa là không muốn cất lên nỗi niềm phổ quát của một diện tích xã hội, văn hóa,… Mà chủ trương biểu hiện “tiểu tự sự”, thơ như quăng rải những nhận thức cá nhân, những tín niệm rời rạc thay vì một tín điều phổ biến. Điều đó dẫn tới việc một số tác phẩm khi tiếp cận công chúng đã gặp phải lực phản do sự dị ứng giữa những “tiểu tự sự” với nhau, hoặc dị ứng với thói quen cảm thụ mà “mẫu số chung” của hệ mĩ học cũ đã xác lập được một cách khá vững chãi.

 

 

 

Thơ hiện nay gắn với trào lưu “Hậu hiện đại” suy tôn “tiểu tự sự”. Mà cái gọi là “tiểu tự sự” vốn là những nhận thức đơn lẻ về thế giới. Nó không phải là một “hệ nhận thức” rành rọt, có tính chất hệ thống để lấy làm phông nền phổ quát. Để lặn lội được vào nơi đơn riêng ấy là rất khó, thêm vào đó, còn được đẩy lên bằng ngôn ngữ phi cấu trúc, phi trật tự ngữ pháp. Nên dẫn tới một hệ lụy là thơ đương đại rất khó tạo nên những vụ nổ trong tâm tư người đọc. Bởi lẽ, để tìm đến tận cùng hạt nhân ý niệm phải phá vỡ được cấu trúc ngôn ngữ bao bọc phía ngoài, phải giải mã được cái ẩn sâu trong thể dạng ngôn ngữ phức cảm, được cấu trúc một cách hỗn độn trong những câu thơ không cần tuân thủ theo tuyến tính luận lý nào cả. Nó đòi hỏi mỗi người đọc đồng thời vừa phải là một chuyên gia ngữ âm học, cùng lúc phải là một nhà… phân tâm học bậc thầy. Vậy, thơ lúc này là… cái gì? Khi khó tiếp cận người đọc đến thế, khi chật vật rồi mà vẫn không lặn lội được vào tâm tư người khác? Khi mỗi bài thơ cô độc với chỉ mỗi một mình tác giả của nó? - Thơ có thể thay đổi, mãi mãi thay đổi. Nhưng một điều vĩnh viễn không thay đổi là thơ phải có người đọc, phải được sẻ chia. Có thể bằng nhiều thang bậc: đọc hiểu, đọc cảm hiểu, đọc cảm. Nhưng nhất thiết thơ chỉ là thơ khi tự thân nó có hướng đích sẻ chia.

 


Trong bài “Cái mới ở đâu” - từ điểm trông hiện đại - nhà phê bình Inrasara đã thể hiện một quan điểm dung nạp bất chấp: “Cái mới đồng nghĩa với cái xa lạ. Đã lạ thì chưa thể biết đúng hay sai, tiến bộ hay lạc hậu. Mà trước hết và trên hết - nó phải là cái lạ. Lạ và khác cái đã từng hiện hữu trước đó. Cái lạ luôn mang trong mình khía cạnh tối nghĩa của nó”. Câu nói này thuyết phục, trước hết bởi người viết ra nó đã có một tâm thế dung chấp cái mới - đó là tâm thế đẹp. Và thể hiện quan điểm rất hiện đại trong quá trình quy nạp. Xin được nói thêm, chúng ta đang thay đổi theo dòng: quá khứ-hiện tại-tương lai - đó là dòng sống, mà hễ là “dòng” ắt là có tuyến tính, điều đó cho chúng ta tham dự vào dòng sống đó như một phóng thể hướng đích - hướng đích bằng hành động, bằng lời nói, và tất nhiên bằng thơ. Và dù bất cứ bằng cái gì thì cũng không thể loại trừ vị trí lịch sử của nó, cũng đồng nghĩa là phải mang trong mình quán tính lịch sử. Nghệ thuật vốn mang trong nó sự khai sinh “cái mới”, nhưng có sự sinh ra nào không có cha có mẹ? Nghĩa là cái mới ở đâu mà ra, nó có “gen” gì? Vậy, hãy hình dung những cái sẽ là “cái mới” chính là những dự thể được sinh ra, được cấu thành bởi những tế bào của dòng sống. Nó không thể là một cái gì đó tuyệt đối xa lạ. Cũng như mỗi con người là một cá thể duy nhất trong vũ trụ này, nhưng vẫn được cấu thành bởi những thành tố vật chất không hề xa lạ. Vì thế, xin hãy đẻ ra “cái mới” bằng những tế bào trần gian thân thuộc, và hãy trao cho mỗi đứa con ấy một linh hồn duy nhất - linh hồn ấy không gì khác hơn là trạng cảm của một thời kỳ mới, mà đã từng được nhiều người nhắc đến là “tính chất hậu hiện đại”, “tâm thức hậu hiện đại”, “văn hóa hậu hiện đại”, ... Tất cả đang muốn diễn tả một Trạng cảm  hậu hiện đại – cần dung chấp trạng cảm ấy nhưng không nên đồng lõa nó với sự thủ tiêu dĩ vãng. Sao cho tạo ra một công cụ lý thuyết mới cho sáng tạo, nhưng vẫn vừa vặn được với dòng sống, vẫn phù hợp với văn hóa Việt - vừa đi trước khai mở, dẫn lối nhưng vẫn gần gũi được với văn hóa cảm thụ của cộng đồng.

 

 

 

Ở đây xin nói rõ thêm về Trạng cảm hậu hiện đại. - Trạng cảm hậu hiện đại là dạng thức tinh thần của một thời kỳ xã hội bất kỳ đã sinh ra nó, mang trong nó tâm tình của thời kỳ đó. Nghĩa là nó có quan hệ hữu cơ với xã hội. Nhưng khác biệt với các lý thuyết khác ở chỗ: Hậu hiện đại vốn không chủ trương một tâm tình phổ quát - trong khi chính nó lại là một dạng thức tinh thần của xã hội. Mâu thuẫn ấy khiến cho Trạng cảm hậu hiện đại trở nên một trường nhận thức hỗn độn, tập hợp trong nó những nhận thức cá biệt về thế giới. Ở khía cạnh này Trạng cảm hậu hiện đại hé lộ ra một giá trị sâu xa của nó là tính dân chủ nhận thức, khi nó phủ nhận tính đồng nhất về mặt quan niệm thế giới, thoát khỏi những áp đặt giáo điều, dung chấp những nhận thức đơn nguyên về một thế giới mang trong nó sự tập hợp đa nguyên các thành phần nhận thức.

 

 

 

Chúng ta vẫn biết, xã hội là một phức thể tồn tại trong nó những đơn nguyên, được gắn kết với nhau bằng trùng điệp những yếu tố cộng sinh. Nghĩa là mỗi đơn nguyên tiểu tự sự, tự nó đã được hình thành bởi sự tác động của môi trường, văn hóa, không gian, điều kiện xã hội,… Vì thế mỗi “tiểu tự sự” không hẳn là những tâm tình cô đơn tuyệt đối, mà nó còn chất chứa trong nó những thăng hoa và hệ lụy bởi những mối tương quan. Ở đây ta thấy mỗi “tiểu tự sự” tự nó đã nói lên được cái nó thụ hưởng hoặc bị tác động bởi một đại tự sự phổ quát, và cho thấy thêm một tính chất hậu hiện đại nữa là: chính khi phản lại “đại tự sự” là lúc nó góp phần đắp xây nên một đại tự sự to lớn hơn, cặn kẽ hơn. Bằng cách góp thân mình một cách trung thực nhất. Vậy, Trạng cảm hậu hiện đại chính là nơi làm ra những cơ hội tự do cho từng con người được cất lên tiếng nói của mình - đó là cái mà trong những hệ thống nhận thức khác đôi khi không được dung chấp, hoặc ít có tính sẵn sàng đón nhận. Giá trị đó có được từ tính hệ thống phi hệ thống của Hậu hiện đại - đó vừa là mặt chưa hoàn thiện, vừa là mặt tối ưu của nó. 

 

 

 

Khi tiếp đón Hậu hiện đại  bằng khía cạnh Trạng cảm hậu hiện đại với những ưu điểm vừa nêu trên đây của nó. Ta sẽ thấy Hậu hiện đại không xa rời yếu tố nhân bản, nó lộ ra một tâm tình hậu hiện đại được biểu hiện ra bằng nhiều hình thức, tất cả những biểu hiện đó chỉ là hiện tượng giới mà căn nguyên của nó chính là muốn tỏ lộ trạng cảm thời kỳ mà Hậu hiện đại đang trú ngụ. Dưới góc nhìn khu biệt là những “tiểu tự sự” cồng kềnh tràn lấp. Nhưng với góc nhìn phổ quát, sẽ thấy một “đại tự sự” vẫn hiện hữu mặc dù có vẻ như nó luôn bị chối bỏ - “đại tự sự” vẫn tồn tại đấy và được lắp ghép bởi chính những mảnh “tiểu tự sự” đang được suy tôn.

 


Tự nhiên mang trong nó một “trật tự hỗn độn” mà  mỗi nhân tố đều có căn cớ tồn tại - không thiếu không thừa. Ngay cả những cái có vẻ như sự “phá bĩnh” của “tiểu tự sự” cũng cần có những mối quan hệ tương quan mới có thể hình thành nên hiệu ứng và chính nó. Vậy “tiểu tự sự” có nơi để thuộc về - đó là Trạng cảm hậu hiện đại. Nói một cách khác, Trạng cảm hậu hiện đại chính là một “đại tự sự” sãn sàng dung chứa mọi ‘tiểu tự sự”, bất kể sự mẫu thuẫn của từng ‘tiểu tự sự” với nhau. Có thể hiểu trạng cảm đó như cái bóng không cố định hình dung, không thuộc về một thời kỳ duy nhất. Đơn giản là nó thuộc về xã hội - nơi sinh ra nó. Đây là yếu tố nhân bản sâu xa của Hậu hiện đại. Nghĩa là Hậu hiện đại vẫn tồn tại trên căn đế nhân bản, nghĩa là những lời thốt, lời rên của “tiểu tự sự” vẫn mang trong nó sự hướng đích tích cực
. Bởi tính chất xã hội đương đại đang có khuynh hướng phân mảnh, xã hội không còn một “mẫu số chung” cho tất cả mọi người, và đang nảy sinh và tập hợp vô vàn những kiểu hạnh phúc riêng, những lo toan riêng, kể cả sự hài lòng và bất nhẫn cũng riêng… Mỗi “tiểu tự sự” ấy phản ảnh từng khía cạnh của đời sống một, khác với bối cảnh lịch sử trước đây, khi mà xã hội tồn tại trong nó những nỗi niềm giềng mối, chung nhất. Lúc đó chỉ cần một tác phẩm, thậm chí một câu thơ cũng có thể đồng vọng toàn xã hội. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hai giai đoạn xã hội, rồi từ đó tạo ra sự khác biệt giữa hai gia đoạn văn học. đang hình thành một hệ giá trị mới - hệ giá trị ấy chính là sự lắp ghép từng mảnh giá trị khu biệt, rời rạc, thậm chí… tưởng như phi lý. Hướng đi tự nhiên ấy hứa hẹn sẽ hình thành nên một hệ thống giá trị mới. Để lấy làm hệ quy chiếu không chỉ riêng cho phê bình văn học đương đại mà còn cho cho rất nhiều những yếu tố khác của xã hội.

 

Xin quay lại với thơ, ví dụ lúc đầu mà mượn nó để viết bài viết nhỏ này. Về mặt ngữ âm học, tiếng Việt của chúng ta mang trong nó sự biểu cảm tuyệt vời của âm vị, điều đó cung cấp cho người viết công cụ  tạo ra cái chất Hậu hiện đại riêng cho thơ Việt. Hơn nữa, Hậu hiện đại với cái gọi là Trạng cảm hậu hiện đại như đã trình bày trên đây, đang mang tới một nguồn sinh khí mới mẻ, để thay đổi những gì đã sáo mòn. Và tính chất suy tôn “tiểu tự sự” của Hậu hiện đại đã cho phép thơ cất lên tiếng nói tự do, để góp lời tỏ bày những tâm tình của từng cá thể mà không cần một bục gỗ nhân danh, góp phần đắp bồi thêm nữa yếu tố nhân bản một cách tự nhiên tính mà bất cứ không gian xã hội nào cũng cần bồi đắp.

 

 

 

Hậu hiện đại là một lý thuyết áp dụng rất rộng và rất nhiều đối tượng, riêng với thơ Việt, nó đã mang tới sự mở rộng và phá vỡ biên giới trong sáng tạo, nó cùng lúc vừa bài trừ vừa dung chấp mọi hình thức thể hiện. Ở khía cạnh này ta thấy: không cần phải lập lại các hình thức thể hiện của các nền văn học khác nếu như không cần thiết, nếu như sự lập lại ấy chỉ càng ngày càng chia rẽ nghệ thuật sáng tạo với nghệ thuật cảm thụ, nếu như càng ngày càng kéo độc giả rời xa thơ Việt đương đại, càng ngày càng cô độc hóa những người làm thơ, càng ngày càng chặn cái mà thơ luôn muốn cuộn chảy đó là khát vọng sẻ chia…

 


Thơ là cuộc sống, không khí Hậu hiện đại đang phập phồng trong thơ – nghĩa là nó đang phập phồng trong cuộc sống. Việc còn lại là hãy thở bằng buồng phổi của chính dân tộc mình.

 


                                                                                  m.d
Nguồn: phongdiep.net

 

Đón đọc phần 2: Số phận và biến thể của Hậu hiện đại đặt trong bối cảnh đương đại.

 

Các bài khác:
· CHỖ ĐỨNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT HÔM NAY
· HÀNH TRÌNH THƠ HOÀNG TRẦN CƯƠNG
· CHU HOẠCH - NHỮNG CÂU THƠ QUÀNG ÁO MƯA ĐI PHỐ
· BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO NHÂN VĂN – GIAI PHẨM
· CHU HOẠCH - MỘT THÂN, MỘT PHẬN NHƯ TÔI BIẾT
· MỘT VÀI GHI NHẬN VỀ THƠ TRẺ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
· CHÙM THƠ VỀ HÀ NỘI CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
· PHÊ BÌNH TRẺ MIỀN TRUNG – TỪ MỘT GÓC NHÌN
· TIẾNG LỤC LẠC TRONG NGÂN
· VƯƠNG TRONG XIN DỊCH LẠI 'CHINH PHỤ NGÂM' CỦA ĐĂNG TRẦN CÔN
· TÔI VÀ NÀNG CHINH PHỤ XA XƯA
· THƠ VÀ HỌA – PHÊ BÌNH THUYẾT “THƠ HỌA DỊ CHẤT” CỦA LESSING
· SỐ PHẬN CÔ BA SƯƠNG QUA BÀI CA DAO 'CÒ TRẮNG ĐI ĐÊM'
· THƠ MẠNG VÀ CƠ HỘI CHO CÁ TÍNH TRẺ
· CHÙM TRUYỆN NGẮN CỦA LƯU QUANG MINH VÀ NHỮNG LỜI BÌNH
· VỀ MỘT BÀI TRONG QUYỂN THI NHÂN VIỆT NAM
· VŨ TRỌNG PHỤNG - BIỂU TƯỢNG ĐÁNG KINH NGẠC VỀ SỰ THỨC TỈNH LƯƠNG TRI VÀ TẬN HIẾN CỦA TUỔI TRẺ
· KHOA HỌC VĂN HỌC TIỀN HIỆN ĐẠI
· MAI VĂN PHẤN – NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TẠO THƠ…
· LÊ ĐẠT – NGƯỜI THIỂU SỐ

 

  
Gia đình Bích Khê