|
ANH EM NGUYỄN TƯỜNG TAM - ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI (Phần 3-Kỳ 1)
Khúc Hà Linh
Xã hội Việt Nam những năm 1930-1945 trải qua một thời kỳ biến động sâu sắc về chính trị, kinh tế và văn hoá. Chỉ nói riêng về văn hoá, thời kỳ này các loại sách báo hải ngoại du nhập vào Việt Nam. Hàng loạt học sinh từ Pháp trở về nước mang tư tưởng tân tiến, mới lạ đã có ảnh hưởng tới đời sống của các tầng lớp nhân dân, nhất là tầng lớp học sinh tiểu tư sản trí thức. Cùng với thương mại, công nghệ, kỹ thuật phát triển, các tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam phát triển theo. Các trường tư thục mọc lên dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Không chỉ con nhà giàu, mà cả con em ở nông thôn cũng tìm về đô thị học tập. Báo chí nở rộ khắp ba kỳ. Có thời điểm cùng tồn tại tới 130 tờ báo và tạp chí.
Trong bối cảnh ấy, đầu tháng 3 năm 1933, nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) ra đời do Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng sáng lập và làm trụ cột .

nhà văn Khái Hưng
Chỉ hoạt động khoảng 9-10 năm, nhưng TLVĐ chiếm ưu thế trên văn đàn công khai đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước. Việc này nhà thơ Tú Mỡ đã kể trên Tạp chí Văn Học số 5 tháng 6-1988: Năm 1932, tờ Phong Hóa phát hành hằng tuần vào ngày thứ Năm của anh Phạm Hữu Ninh quản trị, anh Nguyễn Xuân Mai, giám đốc chính trị, loại báo vô thưởng vô phạt, đang sống dở chết dở vì không ai buồn đọc, sắp sửa phải đình bản. Anh Tam đề nghị nhượng lại tờ báo cho mình làm chủ bút, còn hai anh vẫn đứng tên quản trị và giám đốc chính trị làm vì, mỗi tháng lĩnh mấy chục bạc lương (tức là tiền cho thuê báo). Tất cả đều hỉ hả: anh Ninh và anh Mai trút được gánh nặng mà khỏi đình bản.
Dưới sự điều hành của Nhất Linh, Báo Phong Hóa làm ăn phát đạt, số báo in càng ngày càng tăng. Lúc đầu gặp hồi kinh tế khó khăn, mấy anh em đem hết tài lực làm việc quên mình, không vụ lợi. Bốn anh em giường cột trong tòa soạn: anh Tam, anh Long, anh Giư, anh Thế Lữ ( tức Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng và Thế Lữ - KHL chú ) tình nguyện chỉ lĩnh mỗi tháng 50 đồng đủ sống, để dành tiền lãi làm vốn cho báo phát triển Nhưng đến cuối năm đó, tính sổ mới ngã ngửa ra: lời lãi chia theo số vốn, phần lớn chui vào két nhà tư sản. Anh Nhất Linh bèn họp với anh em phải chấm dứt tình trạng “thằng còng làm thằng ngay ăn”. Không thể chơi với nhà tư sản được...Thế là anh em quyết định thành lập “Tự Lực Văn Đoàn”, trên nguyên tắc là làm ăn dựa trên sức mình, theo tinh thần anh em một nhà: tổ chức không quá 10 người nên không phải xin phép Nhà nước, không cần có văn bản , điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích, tôn chỉ, anh em tự nguyện tự giác tuân theo.
Đoàn viên nòng cốt của Tự Lực Văn Đoàn là những nhà văn trong tòa soạn báo Phong Hóa tất cả chỉ có 6 người. Anh Tam đề nghị kết nạp thêm một người nữa cho đủ số “thất tinh”( tức 7 ngôi sao- KHL ). Anh Giư giới thiệu Trần Tiêu, em ruột mình, một giáo viên trường huyện, thích viết văn, đang viết truyện dài “Con Trâu”, được cả đoàn đồng ý. .. Sau cùng, theo đề nghị của anh Tam, đoàn chỉ kết nạp thêm anh Xuân Diệu, vị chi là “ bát tú ”( tức là 8 ngôi sao - KHL).
* Từ làm báo Phong Hoá, đến văn phái TLVĐ
Số báo Phong Hoá đầu tiên (do Nhất Linh chủ bút) ra ngày 22-9-1932, đã hăng hái ủng hộ cho phong trào thơ mới qua bài viết của Nhất Linh :" Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng..”
Toà soạn và trị sự của báo ban đầu ở góc đường Quán Thánh và Hàng Bún (số 80 phố Quán Thánh - Hà Nội). Toà soạn báo nằm trong một khuôn viên khá xinh xắn. Ngoài có cổng lớn, xung quanh hàng rào sắt, hàng ngày leng leng tiếng chuông xe điện từ Bưởi đi qua. Cây bàng to ở hai bên đường mỗi mùa thu về, lá bàng đỏ cong như chiếc bánh đa vừng rụng đầy sân và liệng thả đậu trên cành tre đằng ngà bên cạnh đó. Toà soạn ở trên gác. Bên trái có phòng riêng của vợ chồng Khái Hưng.
Báo có nội dung mới mẻ là duy tân cấp tiến, đả phá hủ tục, khuyến khích vươn tới cái văn minh. Phong Hoá in tranh khôi hài nhạo báng không chừa một ai, cốt là vui cười. Từ ông Lý Toét, Xã Xệ đến nhà thơ Tản Đà, luật sư Lê Thăng, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tố… đều bị phơi lên mặt báo với ý ngầm muốn phá cũ, lập cái mới. Báo còn lỡm cả nhân vật tai to mặt lớn trong chế độ đương thời, như loạt bài động chạm đến Hoàng Trọng Phu “ Đi xem mũ cánh chuồn”. Như thế là báo trào phúng Việt Nam quả đến đây mới có. (Phạm Thế Ngũ - TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc- NXB VHTT, 2000)
Báo Phong Hoá giá bán 7 xu. (số ra ngày thứ sáu, ngày 19- 1- 1934). Báo bán chạy và hấp dẫn bạn đọc từ thường dân đến trí thức. Sau khi Phong Hoá ra được hai mươi tám tháng, Nhất Linh cho ra tiếp tờ Ngày Nay để đáp ứng nhu cầu bạn đọc và ngầm ý là để sơ cua khi có biến cố gì xẩy ra.
Tờ Ngày Nay số 1(ra ngày 30 - 1- 1935) bán giá 10 xu, bìa chụp hình thiếu nữ mặc áo mùa xuân. Ngay trang đầu đã phi lộ: Ngày Nay là tờ báo thứ hai của TLVĐ… Chúng tôi đưa các bạn từ rừng ra bể, từ thành thị đến thôn quê xem các trạng thái hiện có trong xã hội. Chúng tôi sẽ đi nhận xét thấy sự thật, nói lại để các bạn hay và sẽ chụp nhiều ảnh in xen vào bài để các bài này được rõ hơn…Quả thật, số đầu tiên trên trang bìa đã xuất hiện chức danh Giám đốc Nguyễn Tường Cẩm (là anh thứ hai nhà văn Nhất Linh), báo Ngày Nay đã thay đổi khác. Những phóng sự, những bức ảnh thật đẹp mang hơi thở muôn mặt của đời sống dân quê. Ngoài các bài trong chuyên mục, còn thấy truyện tranh liên hoàn Trong Rừng Sâu, do Thế Lữ viết truyện, tranh vẽ của Cát Tường. Tuy không còn mục trào phúng, nhưng Ngày Nay thêm “ phóng sự điều tra “ rất sinh động( như nạn trộm cướp ở làng quê, về không khí ngày tết, nạn khốn cùng dân quê…), đặc biệt có nhiều ảnh mỹ thuật choán cả trang bìa rất bắt mắt. Đến tờ số 2 (ra ngày 10- 2 - 1935) độc giả bất ngờ thấy trang nhất xuất hiện chủ bút mới : Chủ bút Nguyễn Tường Lân - tức nhà văn Thạch Lam .
Từ khi ra đời, báo Ngày Nay gây tiếng vang và thu hút sự chú ý của bạn đọc. Các nhà văn rất xông xáo trong hoạt động nghề nghiệp, tả xông hữu đột không chừa bất cứ một lãnh địa nào trong đời sống. Họ cử phóng viên lên tận làng Trũng, nơi sinh ra vị anh hùng Hoàng Hoa Thám kháng chiến chống Pháp, đã bị giết hại hơn hai mươi năm về trước. Họ gặp người con trai của ông là Hoàng Văn Vi, lấy tài liệu cho phóng sự hai kỳ trên báo Ngày Nay. Tác giả Việt Sinh ( một bút danh khác của Thạch Lam) đã kể về cuộc đời của người con còn lại của Đề Thám bằng phóng sự ảnh rất sinh động. Có thể cũng từ đó mà bạn đọc cả nước mới hiểu thêm về con người Đề Thám. Theo bài viết, thì Hoàng Văn Vi là con trai Đề Thám và người vợ ba. Khi Đề Thám bị giết hại, Hoàng Văn Vi mới lên 5 tuổi. Ông này bị Pháp bắt khi mới 7 tuổi và được giao cho quan án Giáp ở Bắc Ninh nuôi, cho đi học nhưng trong cảnh quản thúc. 15 tuổi Hoàng Văn Vi được cho ra Hà Nội học trường bách nghệ, nghề mộc. Năm 18 tuổi thì về quê lấy vợ là một cô con gái một vị bộ tướng của cha mình. Một điểm rất rõ ràng là trong khi các bọn bồi bút, và báo khác xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Hoàng Hoa Thám, thì các phóng viên báo Ngày Nay trung thực mô tả sự anh hùng của Đề Thám mà không sợ đàn áp.
Nhưng vì phải chăm lo hai tờ báo cùng một lúc, khó khăn nhiều thứ, ít lâu sau tờ Ngày Nay không ra hàng tuần, mà mỗi tháng một kỳ, thành từng tập dầy. Cuối cùng, Ngày Nay ra được 13 số rồi tự rút lại chỉ còn tờ Phong Hoá. Chỉ đến năm 1936 khi loạt bài giáng quá mạnh vào nhà cầm quyền, Phong Hoá mới bị đóng cửa vĩnh viễn.
Nhà thơ Tú Mỡ từng hồi ức rằng, dạo ấy báo Phong Hoá liên tục xoáy sâu vào chế nhạo châm biếm triều đình Nam triều bù nhìn, mất hết quyền lực vào thực dân Pháp. Tiếng là một quốc gia, nhưng triều đình chỉ còn mấy việc là cai quản đám quan lại mũ cánh chuồn; đội lính mặc sà cạp vàng; chăm lo cúng tế; phong hàm cho mấy quan bản xứ, phong sắc cho bách thần… còn chuyện quốc gia, ngoại giao, quân sự, tài chính, nâng cao dân trí, chính trị xã hội … đều do Pháp cầm roi chỉ đạo. Nhà cầm quyền lấy cớ tờ báo đăng truyện Hậu Tây du, nói cạnh khoé đến những nhân vật mới trong triều đình Huế phò tá hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam phương là những con cưng của Pháp sang tây… nên đã cho Nam Phong báo tử.
Mặc dầu vậy, sau 3 năm ra đời, báo Phong Hoá đã ảnh hưởng to lớn trong xã hội. Người nông dân không còn sợ hủ lậu cũ, tập tục cũ như trước. Dân trí được nâng lên. Trong đời sống tinh thần dường như có luồng gió mới thổi vào cái xã hội trì trệ từ trước 1932, và đặc biệt tiếng cười của Phong Hoá đã góp phần làm đảo lộn trật tự một phần đời sống: cụ Nguyễn Văn Tố phải cắt bỏ búi tóc; Tản Đà hết ngông hết mộng, đóng cửa An Nam tạp chí; Nguyễn Văn Vĩnh đình Niên lịch thông thư. Tờ Nam Phong, thành trì của văn hoá cũ, không chịu nổi những nhát dao cạo của Phong Hoá đành để sụp đổ. Những hý hoạ phát hành khắp Bắc Trung Nam chỉ cho người ta thế nào là nhà quê, là hủ lậu, thế nào là văn minh là tân tiến và thúc đẩy họ trút bỏ những tập tục cũ .( Phạm Thế Ngũ - sách đã dẫn)
Lại nói, tờ Phong Hoá hoạt động được khoảng nửa năm và ngày càng phát triển mạnh, khỏang tháng 3 năm 1933, sau số báo xuân Quý Dậu phát hành, Nhất Linh tính về lâu dài, nên quyết định thành lập TLVĐ.
TLVĐ có một biểu trưng riêng in trên báo Phong Hoá làm dấu hiệu của văn đoàn. Đó là một hình tròn, đóng khung hai chữ T.L xếp thành chữ triện hình chim đại bàng tung cánh bay trên sóng(1933).
TLVĐ có tôn chỉ , đăng trên báo Phong Hoá số 87 ngày 2 tháng 3 năm 1933 [1] với 10 điều cụ thể như sau:
1 -Tự mình làm ra những sách có giá trị văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu sách này chỉ có tính cách văn chương thôi, mục đích để làm giàu văn sản trong nước.
2- Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và xã hội ngày càng hay hơn
3- Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
4- Dùng một lối văn dễ hiểu ít chữ nho, một lối văn thật sự có tính An Nam
5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà với tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có cách trưởng giả quý phái.
7-Tôn trọng tự do cá nhân
8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9- Đem phương pháp khoa học Tây ứng dụng vào văn chương An Nam.
10- Theo một trong 9 điều trên đây cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác.
Đúng như tên gọi, TLVĐ là tổ chức văn chương độc lập, với khuynh hướng nghệ thuật riêng: “ Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu ít chữ nho, một lối văn thật sự có tính cách An nam, …lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ”. Vì thế báo Phong Hoá đả kích kịch liệt bất kỳ ai đi ngược xu hướng đó. Số ra ngày 29-9-1932 có bài chê ông phó bảng Hoàng Tăng Bí, viết báo Trung Bắc tân văn là văn khó tiêu như trứng vịt, hoặc Việt Sinh châm biếm loại văn chương chỉ biết “khóc, khóc một giọng rên ư ử từ ngàn xưa”. Các nhà văn TLVĐ còn tỉ mỉ thống kê để minh chứng rằng Tương Phố nghèo nàn ngôn ngữ đến nỗi trong một bài Giọt lệ thu có bốn trang giấy đã dùng 61 từ “ ôi, than ôi, lệ”. Kể cả Nguyễn Trọng Thuật, tác giả Quả dưa đỏ cũng bị chỉ trích như một con lừa chưa thuộc ngữ pháp(?).
Chưa dừng ở đó, Phong Hoá còn tiếp tục tấn công vào một thứ văn chương lai căng. Trong bài “ Hai cái thái cực” trên Phong Hoá tháng 3 năm 1933, Nhất Linh đã hài hước nhại một câu văn Tàu cổ lỗ :
“Bỉ nhân trầm tư mặc tưởng nghiên cứu về cái thâm ý đại nghĩa của nhân thế sau khi đã biện phục… vào những lý thuyết của các triết học thì phải phục nhận rằng nhân thế là một gang tay là bạch câu quá khích vậy”.
Nhất Linh nhái tiếp một câu đặc quánh văn tây:
“Cảm tình ta như nôn nao như xoáy tận đáy cõi lòng, tư tưởng ta như nẩy phăng ra ngoài óc, tim ta hồi hộp muốn phá tan lồng ngực nhảy ra ngoài”…
Đồng thời Nhất Linh chăm lo đến công việc in ấn rât chu đáo, từ bìa sách đến nội dung, sao cho sách thì đẹp, mà nội dung thì hay có giá trị tư tưởng tốt, không đi chệch hướng tôn chỉ nêu ra. Ngày ấy tranh minh hoạ đều do các hoạ sĩ tài danh đảm nhiệm: Trần Bình Lộc (Nhất Sách), Nguyễn Gia Trí (Rilg), Tô Ngọc Vân (Tô Tử). Trong các nhà xuất bản như: Tân Dân, Nam Kỳ, Cộng Lực, Lê Cường, Tân Việt… chẳng nhà nào tranh giành được với TLVĐ. Họ lại còn chiêu hiền đãi sĩ, trân trọng những người tài, chứ không như một số nhà khác bắt chẹt những nhà văn mới vào nghề, mua đứt bán đoạn tác phẩm của họ, chỉ trả giá 20 đồng, nhưng in ra bán gấp 10 đến 15 lần…kiếm lời.
Báo Phong Hoá bị đình bản, nhưng Nhất Linh đã có đề phòng, nên chẳng hề nao núng. Ông cho tục bản tờ Ngày Nay thay thế. Người đứng đầu TLVĐ cho anh em chuyển dần nội dung của Phong Hoá sang Ngày Nay. Trước báo Phong Hoá còn nói chuyện chính trị quốc gia dè dặt, nay báo Ngày Nay viết nhiều bài đanh thép của Hoàng Đạo, Tứ Ly. Họ gộp những nội dung lại thành vấn đề mới mà như cũ. Họ thêm mục mới như “ Bức tranh vân đẩu”. Báo Ngày Nay là người bạn của mọi tầng lớp bình dân trong nước. Họ tìm thấy nhiều điều cần thiết cho cuộc sống mới, nhằm mở mang dân trí, điều mà thực dân Pháp và bọn cường quyền không muốn.
TLVĐ có cơ quan ngôn luận là báo Phong Hoá, về sau là tờ Ngày Nay. Lại có nhà xuất bản Đời Nay để in ấn tác phẩm của nhóm. Giai đoạn đầu phải in thuê của nhà khác .
Năm 1938 là năm TLVĐ làm ăn phát đạt, có số bạn đọc rất đông, có đội ngũ cộng tác viên hùng hậu, giỏi giang, chuyên nghiệp, lành nghề. Chính Tú Mỡ cũng thừa nhận trước khi viết cho Phong Hoá mới chỉ là học nghề, khi làm báo Phong Hoá là vào nghề, đến báo Ngày Nay thành lành nghề. Do sự nghiệp kinh doanh tiến triển nên TLVĐ xây dựng được nhà in riêng. Sự kiện này được công bố lên mặt báo bằng một hình thức thách đối rất sâu sắc mà hóm hỉnh. Vế thách như sau: Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà. Tám con chữ, được lặp lại từng đôi một, bốn lần. Hình như đến bây giờ sau bẩy chục năm chưa có ai đối lại. Đọc vế ra nghe rối như canh hẹ, nhưng bình tâm thì nghĩa của nó chỉ là một thông báo tin vui: Báo Ngày Nay trước phải đi in thuê, đến bây gìơ in ấn ngay ở nhà in của nhà mình.
Chỉ sau khoảng một năm làm việc, nhà xuất bản Đời Nay tung ra xã hội trên năm mươi nghìn cuốn tiểu thuyết, trừ hai tập thơ của Tú Mỡ và Thế Lữ. Mỗi đầu sách in từ bốn đến năm nghìn bản vẫn bán hết. Nhất Linh từng học nghề xuất bản tại Pháp, có tài năng quản lý tổ chức đến nỗi các nhà xuất bản khác ghen tỵ mà không sao được.
“ Nhà xuất bản Đời Nay mở kỷ nguyên cho cuốn sách trong lịch sử văn học Việt Nam.”( Phạm Thế Ngũ- sách đã dẫn).
Trước, văn chương thường tả sự chán đời, khóc than uỷ mị, con người thì dường như bất lực trước cuộc sống, trai gái thất tình tìm cách tự tử để giải thoát. Kể từ khi ra đời, TLVĐ đã thổi vào nền văn học nước nhà một sinh khí ấm áp hơn. Số phận con người trong mỗi truyện tuy gặp trắc trở, có đau buồn, tình yêu ngang trái nhưng họ đều quý mạng sống, muốn vươn lên, muốn đoạn tuyệt hiện tại để tìm cuộc sống mới ở phía trước. Những con người rất đáng yêu, đáng trân trọng như cô hàng xén, hai đứa trẻ, như chị Tý, Liên, Lan trong truyện Thạch Lam, hoặc trong tác phẩm Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo v.v. Vấn đề con người, tự do cá nhân được miêu tả đầy chất nhân văn, tin yêu cuộc sống. Đặc biệt tiếng cười có sức công phá thói hư tật xấu trong xã hội như nói phần trên.
TLVĐ còn là cái nôi đỡ cho những tài năng văn học nước nhà. Họ đặt ra Giải thưởng văn chương hai năm xét và trao giải một lần. Ban giám khảo gồm các nhà văn trong nhóm. Những tác phẩm phải đi theo khuynh hướng của nhóm mới được đưa vào xét giải.
Năm 1935 không có tác phẩm trúng giải chính thức chỉ có bốn giải khuyến khích, với tổng số tiền 100đồng chia đều cho bốn tác phẩm. Trong đó có Đỗ Đức Thu với Ba, Phan Văn Dật với Diễm dương trang, Hàn Thế Du với Bóng mây chiều…
Giải thưởng năm 1937 được trao là: Kịch Kim tiền của Vi Huyền Đắc, Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng (mỗi giải 50 đồng); Nỗi lòng tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Mẫn được giải thưởng 30 đồng. Đặc biệt có một thiếu phụ xin dấu tên là L.D được trao 30 đồng.. Riêng Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính được được Hội đồng đặc biệt khuyến khích..Ngoài ra các tác phẩm được hội đồng chú ý: Bốn Mùa, tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Sơn, kịch Hai người trọ học của Nguyễn Đại Thanh, tiểu thuyết Hy sinh của Phạm Ngọc Khôi và Ngược dòng, tiểu thuyết của Nguyễn Lân.
Đến năm 1939 TLVĐ lại trao giải thưởng cho cuốn tiểu thuyết Làm lẽ của Mạnh Phú Tư, Cái nhà gạch của Kim Hà ( mỗi giải 100 đồng). Về thơ trao giải cho tập Bức tranh quê của Anh Thơ và Nghẹn ngào của Tế Hanh… Ngoài ra còn một số tác phẩm khác được ban giám khảo khen trên giấy, được gửi đến tận tay các tác giả.
Có thể nói rằng nhiều cây bút từng lọt vào mắt xanh của TLVĐ thời kỳ ấy, đã thành nhà thơ, nhà văn nổi tiếng sau này.
Nòng cốt TLVĐ ban đầu là những nhà văn trong tòa soạn báo Phong Hóa do Nhất Linh là giám đốc, tất cả 6 người. Sau nhiều lần bổ sung, cuối cùng văn đoàn có tám người, gọi là bát tú (tám ngôi sao).
1. Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) - Vị chủ suý hay linh hồn TLVĐ
Trên trang Website của Bộ ngoại giao Việt Nam, ngày 22 tháng 3 năm 2008 ở trang chủ, mục kỷ yếu lãnh đạo nói về Bộ trưởng Nguyễn Tường Tam, có ghi những dòng trích ngang như sau:
- Họ và tên thường dùng: Nguyễn Tường Tam .
- Bí danh : Nhất Linh.
- Ngày tháng năm sinh: 25 - 7 - 1905
- Nơi sinh: Phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Giữ chức bộ trưởng: 2/3/1946 đến 3/11/1946
- Những nét chính về Nguyễn Tường Tam:
Học mỹ thuật ở trong nước rồi sang Pháp học, đỗ cử nhân khoa học, nghiên cứu thêm về báo chí. Thành lập TLVĐ và sau đó khởi xướng đoàn “ánh sáng” cải tạo nếp sống ở thôn quê ( 1932). Xuất bản báo Ngày Nay (1936).
Hoạt động chính trị, thành lập đảng Đại Việt dân chính (1939). Bị thực dân Pháp truy bắt phải trốn sang Trung Quốc rồi bị bắt lại tại Liễu Châu năm 1942...
Trong hồi ký của người em gái ông, Nguyễn Tường Tam tuổi Bính Ngọ. Nếu Bính Ngọ phải là năm 1906, chứ không phải 1905. Cả trong những bài viết của người thân trong gia đình, khi viết về ông, nhiều người vẫn nói ông tuổi ngựa. Thế nhưng có lẽ phải có đủ tuổi đi thi, ông đã làm lại giấy khai sinh, tăng ngày sinh, thành ra một số tài liệu dựa vào thẻ căn cứơc số F 13108 ngày 19-2-1951 có ghi sinh ngày 1-2-1905 và nói ông sinh năm đó.
Thuở nhỏ Nhất Linh học tiểu học ở Cẩm Giàng, học trung học tại trường Bưởi - Hà Nội. Năm 16 tuổi Nhất Linh làm thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, hai năm sau có bài Bình Luận Văn Chương về Truyện Kiều trên Nam Phong Tạp chí, một ấn phẩm vào loại sang trọng thời ấy. Cuối năm 1923 ông đậu bằng Cao tiểu, chỉ vì chưa đến tuổi vào trường Cao đẳng, nên ông làm thư ký ở Sở tài chính Hà Nội, quen thân Tú Mỡ cùng viết cho tờ Nam Phong. Ông có năng khiếu nhiều ngành học, nhưng không hiểu vì sao ban đầu học trường thuốc rồi chuyển sang học mỹ thuật, mà cũng chỉ một năm rồi bỏ. Năm 1926, Nhất Linh vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ Đình Di định cùng làm báo. Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh nên hai người này bị bắt, Nhất Linh phải trốn sang Lào, sống bằng nghề vẽ thuê phông rạp và tìm đường sang Pháp du học. Ở Pháp, ông đậu bằng Cử nhân khoa học, còn dành thời gian nghiên cứu về nghề báo chí xuất bản.
Trở về nước năm 1930, Nhất Linh làm giáo sư tại trường tư thục Thăng Long - Hà Nội, kết bạn với Khái Hưng cùng dạy ở đây. Trong thời gian ngắn Nhất Linh có làm hiệu trưởng trường này. Năm 1932 làm chủ bút tờ Phong Hoá, sáng lập nhóm TLVĐ, mở nhà xuất bản Đời Nay, khởi xướng Đoàn ánh sáng cải tạo nếp sống ở thôn quê.
Công việc làm báo đang thuận lợi thì Chính phủ Nam triều có công văn mời ông vào Huế làm giáo sư tại trường trung học Khải Định. Có thể đây là cách chính quyền đưa ông đi chỗ khác để giãn người chủ suý của tờ báo với các cộng sự, vốn có ý chống lại nhà cầm quyền mà không có cớ đàn áp thẳng tay. Nhất Linh đã nhận ra điều đó, ông từ chối khéo, không nhận lời và ở lại Hà Nội tiếp tục con đường văn chương.
Nhưng trong khi TLVĐ đang hoạt động mạnh có tác dụng rõ rệt trong đời sống xã hội, thì Nhất Linh- vị chủ soái của TLVĐ từ năm 1939 đã quay sang hoạt động chính trị. Ông thành lập Đảng Hưng Việt rồi làm tổng thư ký Đảng Đại việt dân chính. Vì có ý thức chống Pháp, từ 1940 một số thành viên TLVĐ như Hoàng Đạo, Khái Hưng, rồi Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt đầy lên Sơn La. Nhất Linh cũng bị thực dân Pháp truy bắt phải trốn ra nước ngoài. Ông có sang Hồng Công với ý định dựa vào Nhật để chống Pháp. Nhưng sau khi được mục sở thị về quân Nhật tàn bạo dã man, ông tỉnh ngộ nhận ra không thể dựa vào Nhật, nên lại trở về Trung Quốc. Từ vùng đất quân Nhật kiểm soát vào lãnh địa của tướng Trương Phát Khuê cai quản, Nhất Linh bị nghi ngờ là gian tế của Nhật . Ông bị bắt giam bốn tháng trong nhà tù ở Liễu Châu năm 1942. Sau nhờ có Nguyễn Hải Thần, Nghiêm Kế Tổ bảo lãnh, nên được tự do nhưng không trở về nước, sống cuộc đời lần lưu vong thứ nhất.
Cuối năm 1945 đầu năm 1946 Nhất Linh trở về Hà Nội, có tham gia đại biểu Quốc hội khóa I đặc cách. Ngày 2 tháng 3 năm 1946 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, Quốc hội họp đã phê duyệt danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Nhất Linh được giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao[2].
Ngày 17-4-1946 ông làm Trưởng đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị tại Đà Lạt đàm phán với Pháp.( Võ Nguyên Giáp là phó trưởng phái đoàn, kiêm trưởng ban quân sự, Vũ Văn Hiền là tổng thư ký phái đoàn, Hoàng Xuân Hãn là trưởng ban chính trị, Nguyễn Mạnh Tường trưởng ban văn hoá, luật sư Trần Văn Tuyên đổng lý văn phòng Bộ ngoại giao, Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Mạnh Tường làm phiên dịch) . Ông được cử trong Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau nhưng không đi, mà bỏ sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946 và lưu vong lần thứ hai ở Hương Cảng.
Khoảng cuối năm 1950 Nhất Linh về nước, tuyên bố không hoạt động chính trị. Ông ở nhờ nhà anh cả Nguyễn Tường Thụy (số 2 Lý Thường Kiệt- Hà Nội), trong một khu phố yên tĩnh, đối diện với Viện Đại học Hà Nội. Ông rảnh rỗi vẽ bức ảnh chì khá lớn về người mẹ đang chắp tay niệm Phật trong bộ áo nâu tu hành. Không ai ngờ một người đàn goá bụa, đôi vai gánh vác gây dựng cơ nghiệp họ Nguyễn Tường gian lao, khắc liệt trần ai, đến cuối đời lại nương thân cửa Phật, khi về cõi niết bàn là sư cụ chùa Xá Lợi - Sài Gòn vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, thế kỷ XX.
Năm 1951( chắc chắn là sau tháng 2) Nhất Linh cùng người anh cả là Nguyễn Tường Thuỵ vào Nam, để vợ và 4 con ở lại Hà Nội. Ông mang theo con gái lớn và con trai út vào sống tại Sài Gòn. Thẻ căn cước sồ F 13108 do Phủ thủ hiến Bắc Việt cấp ngày 19-2-1951 tại Hà Nội còn ghi : Nguyễn Tường Tam, nghề nghiệp văn sĩ, nơi sinh tổng Ngọc Trục, Cẩm giàng, Hải Dương, con ông Nguyễn Tường Nhu và bà Lê Thị Sâm… chứng tỏ trước khi đi Sài Gòn cư trú, ông đã khai giấy này. Ở Sài Gòn, ông cho in lại các tác phẩm cũ và viết tác phẩm mới. Ông đã lấy chữ đầu quê vợ( Phượng Dực) và chữ cuối nơi sinh trưởng của mình là Cẩm Giang (Giàng) rồi ghép thành tên nhà xuất bản Phượng Giang. Tường Hùng người đã thiết kế dấu hiệu con phượng hoàng làm biểu tượng nhà xuất bản Phượng Giang. Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí lui tới đây giúp Nhất Linh trang trí mẫu bìa tiểu thuyết qua nghệ thuật cắt và dán giấy màu của ông. Hoạ sĩ đã vẽ bức chân dung Nhất Linh bằng chất liệu sơn dầu, nhưng mới có phần đầu đầy đủ, bàn tay cầm gói thuốc lá mới là mấy nét phác thảo, thì ông Trí bị bắt đi an trí ở Thủ Dầu Một. Khi trở về định vẽ tiếp, nhưng Nhất Linh không đồng ý. Có lần ông nói vui cứ để nguyên như vậy, bởi cuộc đời ông cũng chưa phải là tác phầm hoàn tất.
Năm 1954 Nhất Linh sang Pháp chữa bệnh và thăm người con cả đã sang Pháp du học từ năm 1949. Thời gian này toàn bộ gia đình ông cũng di cư vào Nam. Bà Nhất Linh mua một căn lầu trong chung cư, số 39 đường chợ An Đông , Chợ Lớn để lấy chỗ ở và buôn bán.
Nhất Linh ở Pháp một thời gian ngắn lại hồi hương.
Sang năm 1955, ông mang theo con trai vào học một trường trung học công lập Đà Lạt và quyết định ở hẳn trên đó. Ở đây ông có thú vui chơi hoa phong lan rồi mê lan, đến nỗi mang được cây lan quý về nhà, ông trồng lên một khúc cây mục, tìm rêu để đắp vào rễ giữ độ ẩm, rồi treo ngay trên tường trong phòng ngủ. Nhất Linh chơi lan công phu, ra thư viện tra cứu hoặc đặt mua các sách ngoại quốc viết về hoa phong lan trên thế giới, rồi tỉ mỉ phân loại, so sánh với hoa ở địa phương. Ông vẽ từng đóa hoa, đặt tên, ghi chú đặc tính, với ý viết một cuốn sách về việc sưu tập hoa phong lan. Bà Nhất Linh bận rộn buôn bán ở Sài Gòn, ông cũng gọi lên Đà Lạt sống với ông ít ngày để cùng thưởng lan. Cái nhiệt tình của Nhất Linh đã lây sang rất nhiều người. Về sau Nhất Linh mua căn nhà số 19 đường Đặng Thái Thân, do ông chủ garage Lê Đình Gioãn, một người bạn lan để lại. Tại đây Nhất Linh đã biến căn biệt thự thành một trại lan nhỏ với đủ các loại hoa trồng khắp từ trong ra đến tận ngoài nhà. Những người bạn từ Sài Gòn lên Đà Lạt để cùng đi tầm lan với ông khá đông: nhà văn Đỗ Tốn, thi sĩ Tô Kiều Ngân. Ngoài các văn nghệ sĩ còn có cả cựu bộ trưởng, nhà chính khách như ông Phan Huy Quát thỉnh thoảng cũng có mặt. Đặc biệt có tướng Dương Văn Minh… Một lần đi tìm lan trở về, xe bị lính bắt dừng lại bên vệ đường hai tiếng đồng hồ. Sau đó dò hỏi được biết vì Ngô Đình Diệm đi kinh lý trên Đà Lạt, chuyến bay chở tổng thống bị trễ và vì không biết lúc nào phi cơ đáp xuống phi trường Liên Khương nên tốt nhất là chặn tất cả xe cộ lại. Khi biết chuyện này Nhất Linh nói đùa với mọi người: "Nếu trong số này, mai sau có ai làm tổng thống thì nhớ ngày hôm nay phải chờ đợi bực mình nhé!".
Nhất Linh sống thanh bạch và giản dị, không bao giờ in một tấm danh thiếp cho chính mình. Trong các đơn từ, giấy tờ, hoặc có ai hỏi về nghề nghiệp, ông chỉ khai giản dị "nhà văn”.
Năm 1957 Nhất Linh mua được vài mẫu đất, rất gần dòng suối Đa Mê, nằm ven quốc lộ 20 Sài Gòn – Đà Lạt, ngay cột cây số 27. Ông cho xây móng dựng một căn nhà gỗ tranh đầu tiên của đời mình. Đó là căn nhà do ông tự vẽ họa đồ, xây cất bằng toàn vật liệu nhẹ, một kiểu nhà thông thoáng, đơn giản và rẻ tiền, đúng tiêu chuẩn kiểu nhà của Hội Ánh Sáng thời Tự Lực văn đoàn ở ngoài Bắc.
Một đêm kia trời mưa dông bão lớn, căn nhà đang làm dở bỗng nhiên bị sụp đổ tan hoang, chỉ còn trơ lại nền móng. Nhất Linh buồn rầu, nói với người con mình rằng : nay việc đã không thành, sự sụp đổ này chắc có một điềm lạ. Thế rồi ông quyết định giã từ Đà Lạt, dòng Đa-Mê để về ở luôn Sài Gòn, chấm dứt cái thời kỳ , mà như một học giả Sài Gòn nói "một Nhất Linh nằm trùm chăn ở trên Đà Lạt".
Về lại Sài Gòn năm 1958, Nhất Linh hoạt động văn hoá. Ông là chủ tịch đầu tiên của Văn bút Việt Nam ( về sau làm cố vấn).
Ông muốn ra báo nhưng chính quyền không cho phép, đành tìm cách xin ra giai phẩm định kỳ. Nghĩa là làm số nào đem duyệt số nấy. Giai phẩm “Văn Hoá ngày nay” số đầu tiên ra ngày 17 tháng 6 năm 1958, in 8000 bản bán vài ngày đã hết, phải in thêm nhiều lần mới đáp ứng nhu cầu bạn đọc.
Toà soạn là một văn phòng nhỏ nằm sau biệt thự của anh cả Nhất Linh là Nguyễn Tường Thuỵ. Việc ăn ngủ, làm việc, hội họp nhân viên biên tập đều ở đó. Khác xa với thời Phong Hoá, trước kia Nhất Linh chỉ trông nom, phân công người phụ trách, nay một mình ông lo bìa, trình bầy, trả lời bạn đọc cả sửa bản in thử. Nhất Linh có tài năng về hoạ nhưng ông theo nghiệp hoạ sĩ. Ông chỉ dùng cho báo chí. Tờ giai phẩm Văn Hoá ngày nay chiếm được chú ý của công chúng bấy giờ. Tại số đầu tiên, ông đã trích đăng từng phần cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, rồi mới in thành sách.
Xóm Cầu Mới còn có tên là Bèo Giạt, dựa theo một câu thơ của Huy Cận "Bèo giạt về đâu hàng nối hàng". Bản thảo thai nghén từ năm 1940. Theo nhà xuất bản Phượng Giang thì Nhất Linh viết đi viết lại Xóm Cầu Mới tất cả năm lần. Lần đầu tiên viết năm 1940 ở Hà Nội, lần thứ hai năm 1943 tại Quảng Châu. Lần thứ ba năm 1949 tại Sường Châu, một hòn đảo nhỏ, cách Hương Cảng một hoặc hai giờ tầu thủy. Về nước, Nhất Linh viết lại lần thứ tư năm 1951. Và sau cùng, trước khi đăng trên tờ Văn Hóa Ngày Nay, Nhất Linh đã sửa bên dòng suối Đa Mê, Fin Nom (Đà Lạt) vào năm 1957.
Xóm Cầu Mới là câu chuyện không phải xảy ra ở Sài Gòn, mà nó được lấy bối cảnh từ phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương là nơi ông sinh ra và lớn lên. Nơi Thạch Lam viết truyện ngắn nổi tiếng "Nhà Mẹ Lê".
Về lại Sài Gòn lần này, bạn bè văn chương lần lượt tìm đến ông như là tìm chỗ dựa tinh thần trong thế sự đầy bế tắc và mâu thuẫn lớn.
Theo nhà văn Vũ Hạnh, từng là Ban thường vụ của Hội Bút Việt, kể rằng, từ sau vụ đảo chính tháng 11 năm 1960 không thành, suốt ba năm Nhất Linh không đi họp Hội, nhưng tự nhiên ngày 30 tháng 6 năm 1963 (trước một tuần lễ Nhất Linh tự tử) bỗng thấy ông đi dự hội nghị thường niên để bầu lại Ban thường vụ mới. Vũ Hạnh viết:
“ Anh ngồi gần tôi và hỏi: Anh thấy văn nghệ lúc này thế nào? . Tôi đáp: Tôi nghĩ trong lòng có vui mới thích ca hát, có no mới thích chuyện trò, có tin tưởng nhau mới thích tâm sự. Ỏ trong điều kiện hiện tại văn nghệ đang nằm trong khủng hoảng nặng nề .
Anh lại hỏi: Thế họ sống như thế nào?
- Sống bằng quảng cáo và sống thiếu thốn. Còn anh ngày xưa, anh sống thế nào?
Anh đáp: Chúng tôi sống bằng lý tưởng của mình và sống hết sức đầy đủ...
Vậy mà một tuần sau anh ra đi. Anh đã giúp cho tôi tin tưởng thêm lên ở cái truyền thống bất khuất của dân tộc mình trước bọn bạo quyền... "
TLVĐ là tổ chức văn chương tự lực. Họ tự lực về tài chính, không chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền. Họ tự lực về chuyên môn và khuynh hướng nghệ thuật. Họ tự tôn người chủ soái, cùng nhau tuân theo quy chế hoạt động. Lãi ăn lỗ chịu, cùng nhau gánh vác. Vì thế, khi thuận lợi thì phát triển, khi khó khăn thì lùi vào thế thủ. Sau khi Thạch Lam mất năm 1942, Khái Hưng chết năm 1946, Hoàng Đạo chết bên Tàu năm 1948, Nhất Linh lưu vong nước ngoài… TLVĐ không hoạt động được, đã sảy đàn tan nghé, chứ không tuyên bố giải tán. Nhưng các nhà nghiên cứu văn học sử thì cho rằng, TLVĐ cơ bản tan rã sau khi Thạch Lam mất tại Hà Nội năm 1942. Như vậy TLVĐ chỉ chính thức hoạt động 10 năm( 1932-1942) ( tham luận của giáo sư Phong Lê, Huệ Chi, tại Hội thảo khoa học “ Bảo tồn và phát huy di sản cố trạch của TLVĐ tại thị trấn Cẩm Giàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương” được tỉnh Hải Dương tổ chức tại địa phương ngày 9-5-2008)
Duy Lam con trai bà Nguyễn Thị Thế, người gọi Nhất Linh là bác, viết văn từ 1953, đã từng gửi truyện ngắn của mình cho bác và thành thật hỏi rằng, có thể theo nghiệp văn chương được hay không? Nhất Linh đã đọc kỹ và trả lời có thể được. Ông đã khuyến khích con cháu theo nghề văn chương nghệ thuật chứ không khuyến khích làm chính trị. Thế rồi sau tết năm ấy, Duy Lam nhận được một bản viết tay, do Nhất Linh gửi đến. Nội dung là tuyên bố trong những bốn cộng tác viên của Văn Hoá ngày nay, thì Đỗ Đức Thu được gia nhập TLVĐ, còn ba người là Duy Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị Vinh chỉ là dự bị. Khi thấy sách của Đỗ Đức Thu được xếp vào trong văn chương TLVĐ đã có nhiều người không hiểu, làm cho các nhà nghiên cứu sau này gặp khó khăn. Bởi Nhất Linh khi ra quyết định công nhận chỉ chép tay ra 5 bản, gửi cho bốn người mỗi người một bản, còn lưu giữ một bản. Bên ngoài không ai biết gì vì người đứng đầu văn đoàn chưa từng công bố. Sau này Nhất Linh giải thích rằng, TLVĐ có nhiều người đã chết (Thạch Lam, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Trần Tiêu), nhiều người ở lại miền Bắc(Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu) nên cần bổ sung, và danh sách người gia nhập sẽ được hợp thức hoá khi cần thiết.
Thì ra về cuối đời Nhất Linh còn là nơi nương tựa cho anh em văn nghệ sĩ có khuynh hướng cùng TLVĐ.
Sống dưới chế độ Việt Nam cộng hoà, Nhất Linh phản đối Ngô Đình Diệm độc tài gia đình trị, ông cùng các nhà hoạt động khác thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chính của đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông. Cuộc đảo chính tháng 11 năm 1960 thất bại, hầu hết những người liên can đều bị bắt. Chính quyền Diệm cho bắt giam các nhân sĩ, lãnh tụ các đảng phái, giáo phái khác…chỉ một mình Nhất Linh được giam lỏng tại nhà riêng hơn hai năm rưỡi. Ngày mồng 6 tháng 7 năm 1963 Toà án quân sự đặc biệt Sài Gòn có trát đòi ông ngày 8-7-1963 có mặt tại Toà thượng thẩm, để xét xử tội “xâm phạm an ninh Quốc gia”. Nhất Linh đã uống độc dược quyên sinh.
Trong hồi ký " Nhất Linh - cha tôi” của Nguyễn Tường Thiết phát hành tại Sài Gòn năm 1964, những ngày cuối cùng của Nhất Linh được kể lại như sau:
“... Buổi sáng ngày 7-7 1963 Nhất Linh đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo, lấy mấy tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật báo. Các con đoán có lẽ ông đi họp ở đâu vì cũng đúng vào chủ nhật tuần trước, tức 30-6 ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt. Khoảng gần 10 giờ Nhất Linh về. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần, cứ để nguyên quần áo tây ngồi xuống ghế xích đu, bên cạnh người con trai. Điếu thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay, ông mở bia, rót vào cốc nhỏ ra dáng suy nghĩ. Một sấp ronéo để trước mặt ông. Đó là bản cáo trạng khá dầy, trong đó có những lời kết tội như "phản quốc", "xâm phạm an ninh quốc gia". Trong suốt hơn một giờ, Nhất Linh vẫn giữ im lặng, suy nghĩ. Khoảng 11 giờ, với vẻ thảnh thơi, ông thay quần áo ngủ, rồi dặn người con trai Nguyễn Tường Thiết :" Chiều nay con lại luật sư Chính lấy hết các giấy bác sĩ về. Biết địa chỉ không?". Con trai nói: "Con đoán họ chẳng làm gì cậu đâu, nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc này họ đem ra xử cho có lẽ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có ra Côn Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giầu thêm cuộc đời tranh đấu của cậu. Cứ coi như là một dịp đi nghỉ mát". Nhất Linh đáp lại: "Cậu chẳng sợ kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau. Có điều bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những người quốc gia đối lập rồi gán cho họ tội phản quốc”.
Nhất Linh đã có chủ ý cho độc dược vào rượu uống. Khi gia đình phát hiện ra thì đã muộn: Cuối phòng, vẫn trên cái ghế xích đu buổi sáng ông gục đầu hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh tay buông lỏng thả xuống sàn nhà. Dáng điệu ấy thoạt trông thì khổ sở nhưng nhìn lên gương mặt thì tuyệt nhiên không một nét đau đớn. Ông như người ngủ gục. Gương mặt êm ả, bình thản. Để ý lắm mới thấy một ít nước bọt rỉ ra ở khóe mép... Thân thể ông mềm, trong túi có một tờ giấy, đó là Di ngôn. Ông đã viết hai bản di chúc, một để trong túi áo ngực, một tờ dặn đưa cho bác sĩ Đặng Văn Sung, nhờ ông ấy chuyển ra ngoại quốc.
Nhất Linh đã ra đi ở tuổi 58 để lại di chúc: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự huỷ mình cũng như Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do. 7.7.1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”
Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tìm cách đối phó. Họ yêu cầu tang quyến phải an táng gấp, trong khi đó gia chủ đòi phải chờ đến ngày chủ nhật, đợi con cả Nhất Linh ở Pháp về chịu tang. Mật vụ được cài nhan nhản ở xung quanh nhà Nhất Linh, khu chợ An Đông. Người thăm viếng phần lớn đàn bà nhiều hơn đàn ông, bởi người ta phải đề phòng khủng bố. Nhà cầm quyền cũng từ chối không cho quan tài Nhất Linh đến chùa cầu siêu, bắt đám tang đi theo lộ trình, đi đúng giờ quy định sẵn. Gia quyến tìm nhiều cách đấu tranh, sau cùng chính quyền phải đồng ý cho quan tài ông ghé qua chùa Xá Lợi cầu siêu, nhưng không cho quan tài vào trong.
Theo Thế Uyên trong bài “Người bác” (TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc-NXB VHTT, năm 2000), đám tang ông có nhiều cảnh sát chiến đấu và mật vụ đi lẫn trong những người đưa đám. Đoàn đưa tang đầu tiên là một vòng hoa lớn, sau là một người mang ảnh Nguyễn Thái Học, tiếp theo là tấm ảnh chụp lại hình Nhất Linh do Nguyễn Gia Trí vẽ dở như nói phần trên.
Vũ Hoàng Chương viếng Nhất linh bằng đôi câu đối rất sâu sắc:
* Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt
* Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu.
Trừ bốn chữ ” chứ sao, đâu chỉ” ra, còn toàn bộ là tên tác phẩm của ông.
Ngày 8-7- 1963 tại phiên toà, những người bị xét xử trong đó có Phan Khắc Sửu đã xé một chiếc áo đen, đeo cánh tay trái làm băng tang Nhất Linh, khiến cho chủ toạ phiên toà ngỡ ngàng. Uỷ viên chính phủ Lê Nguyên Phu nói: “ Bọn Quốc dân Đảng để tang Nguyễn Tường Tam”. Nhưng thực ra gần 30 người chính trị phạm hôm đó đều đeo băng tang, chỉ trừ Phan Quang Đán. Kết thúc phiên toà, mỗi bị can bị tù 5 năm đầy đi Côn Đảo.( theo Trương Bảo Sơn).
Thi hài Nhất Linh được an táng tại nghĩa trang Giác Minh, sau được hỏa thiêu di cốt, gửi bình tro tại chùa Kim Cương đường Trần Quang Diệu quận 3 Sài Gòn. Năm 1981 bà Nhất Linh từ Sài Gòn sang Pháp đoàn tụ với con, đã qua đời và được an táng ở đấy. Hai mươi năm sau, tức 2001, các con của ông bà Nhất Linh đã quyết định dời mộ cha mẹ và chị gái lớn là Nguyễn Thị Thư về Hội An - Quảng Nam, nguyên quán của gia tộc Nguyễn Tường. Mộ ông bà Nhất Linh nằm gần mộ cụ tổ là tiến sĩ Tam giáp Nguyễn Tường Phổ, người đầu tiên của họ Nguyễn Tường ra làm quan và lập nghiệp ở Cẩm Giàng Hải Dương, nhưng khi mất đã được triều đình nhà Nguyễn cho phép mang thi hài về an táng tại quê nhà.
Cuộc đời Nhất Linh đầy gian nan và phức tạp. Có lần ông ghi chép nhìn nhận cuộc đời mình, mà như một chúc thư :
“Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm công việc mình đã làm tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp, lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực Văn Đoàn và công việc sáng tác...”
(Nhất Linh - 2 giờ sáng, mồng 1 Tết năm Quý Tỵ 14-2-1953)
Trước khi mất khoảng mấy giờ đồng hồ, Nhất Linh còn trò chuyện với con trai. Khi Nguyễn Tường Thiết hỏi cuộc đời cậu gian nan như thế, thì cái gì là tâm đắc nhất, ông không hề dấu diếm, trả lời con: "Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có việc nào cậu cho là đến nơi đến chốn. Nhưng cậu vừa lòng nhất là việc thành lập được Tự Lực Văn Đoàn. Đến bây giờ cậu vẫn tha thiết nhất về việc này.
Nhất Linh đã nói thực lòng. Ngay từ ngày ông còn lưu vong trên hòn đảo Sường Châu, một lần vợ ông, bà Phạm Thị Nguyên đã sang thăm chồng và tiếp tế tiền để chồng sinh hoạt, bà không khỏi bồn chồn khi thấy chồng sống cô độc trên đất khách. Bà luôn tìm cách nhắc lại về thời làm báo, viết sách. Chỉ những khi đó, như một phép lạ, nét mặt Nhất Linh vui, tươi sáng. Bà tâm sự với bạn của chồng rằng, nhẽ ra Nhất Linh không nên đụng vào chính trị, chỉ viết văn, làm báo cũng vất vả rồi!
Cũng đã nhiều lần Nhất Linh thường trao đổi với bạn hữu rằng: Văn hoá có sức mạnh thay đổi lâu bền hơn chính trị. Làm chính trị có ích một thời, làm văn hoá mà thành công, có ích mãi mãi. Văn chương vượt thời gian, không gian.
Trưa ngày 7-7-1963, khi Nhất Linh còn ngồi nói chuyện với con trai là Nguyễn Tường Thiết, nghe con gợi ý ông nên viết hồi ký thì Nhất Linh đã bộc lộ ý mình :” Cậu cũng có dự tính viết ba quyển: Cuộc đời làm báo của Nhất Linh, cuộc đời làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam, và quyển thứ ba cậu viết về hoa phong lan”. Nhưng rồi ông chưa thực hiện được ý nguyện ấy, ngậm ngùi để đời mình cho lịch sử xét xử.
Đúng như di chúc Nhất Linh để lại, đời ông lịch sử sẽ phán xét. Thế nhưng ông đã tự nhận ra rằng: trong cuộc đời của mình, Nguyễn Tường Tam đã thất bại khi làm chính trị, chỉ còn một nhà văn Nhất Linh sống mãi trên văn đàn Việt Nam.
Nhất Linh thích vẽ, thổi kèn và thích nhất hai câu thơ của Huy Cận, trong bài Chiều xưa:
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về [3]
Vợ ông là bà Phạm Thị Nguyên (1909-1981), quê làng Phượng Dực, Thường Tín, tỉnh Hà Đông, trước năm 1945 là chủ hiệu buôn cau khô có tiếng ở Hà Nội mang tên Cẩm Lợi. Bà mất tại Pháp ngày 6 tháng 5 năm 1981.
Là một người Tây học, từng trải nhưng việc hôn nhân của mình, Nhất Linh lại nghe theo sắp đặt của gia đình. Về việc ông lấy vợ , bà Nguyễn Thị Thế em ruột Nhất Linh kể: “Mẹ dục mãi anh mới chịu đi coi mặt. Đám cưới xong, mẹ tôi lại đi cân gạo với các bà bạn. Anh Tam cũng thôi đi làm, xin vào học trường Cao Đẳng Hội Họa. Chị Tam dọn hàng bán cau ở ngay nhà...”. Sau khi kết hôn, ông bà ở nhà 15 phố Hàng Bè, Hà Nội, bà vẫn bán cau khô, có quan hệ buôn bán với bạn hàng trong Nam và Quảng Nam.
Ông bà Nhất Linh có đông con. Theo Nguyễn Tường Thiết, một lần về thăm Huy Cận ở Hà Nội được nhà thơ vui vẻ kể lại rằng "Bố mẹ cháu có trên mười người con. Cháu có biết vì sao cháu có đông anh em thế không? Mỗi lần bà Nhất Linh mang bầu thì ông Nhất Linh lại nói với tôi là sau mỗi lần sinh đẻ bà khỏe hẳn ra chứ không như những người đàn bà khác ngại đẻ, cho nên có nhiều con cũng là một cách tốt để bả sống lâu."
Trong số ấy con gái lớn là Nguyễn Thị Thư, con gái thứ hai mất ở Cẩm Giàng, con trai út là Nguyễn Tường Thái bị bệnh tê liệt chết khi tám tuổi, Nguyễn Tường Thiết áp út bị đôn xuống là em út trong gia đình .
Từ khi viết cuốn Nho Phong đầu tay (1926) đến khi ngừng thở (1963), Nhất Linh để lại 17 tác phẩm chính, chủ yếu là tiểu thuyết. Trừ hai cuốn Nho phong, Người quay tơ xuất bản trước khi thành lập TLVĐ, còn lại 10 cuốn đều in ở nhà xuất bản Đời Nay. Sau này vào Sài Gòn ông hoàn chỉnh một số tiểu thuyết dang dở và in thêm 5 cuốn nữa trên nhà xuất bản Phượng Giang.
Nhất Linh, ngoài những tấm hình được công bố rộng rãi, qua nhiều ký ức của đồng chí, bạn bè và người thân trong gia đình, thì ông là người dáng dong dỏng quắc thước, khuôn mặt phong sương, có cặp mắt sâu, đôi mày rậm, vầng trán cao, nụ cười cởi mở dưới hàng râu mép. Nhất Linh có cái nhìn đặc biệt, nhìn thẳng và sâu vào đôi mắt người đối diện, nhưng lúc nào cũng phảng phất vẻ mơ màng, xa xăm.
Nhất Linh tinh tế và mực thước. Là người có khiếu thẩm mỹ, nên dù trong không gian chật hẹp thế nào ông vẫn tạo nên một cảnh khung cảnh tươi tắn và ấm cúng. Cầm tinh con ngựa, tuổi Bính Ngọ, mệnh Thiên hà thuỷ - nước sông trời, cuộc đời ngựa bay nhảy trên đồng cỏ, nay đây mai đó. Ngay từ khi xây dựng gia đình, ông đã nói với người vợ rằng, mỗi người có bổn phận. Ông có bổn phận đối với xã hội, còn bà có bổn phận đối với gia đình. Thật vậy những năm tháng, chồng mải mê làm báo, xoay sở nhiều bề nhưng vợ ông, bà Phạm Thị Nguyên tất tả vật lộn với nghề buôn bán cau, sinh đẻ ( 13 lần sinh đẻ nhưng chỉ nuôi được 7 ) nuôi đàn con và làm hậu thuẫn cho chồng thi thố giữa cuộc đời. Nguyễn Hải Thần từng là phó chủ tịch chính phủ liên hiệp kháng chiến, có lần nói về bà Nhất Linh: “ Anh Tam nếu không có chị ấy thì không thể làm nên sự nghiệp này”. Quả vậy!. Thi sĩ Anh Thơ, người phụ nữ nhận giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn năm 1939, sau từng làm phóng viên báo Đông Tây ở Hà Nội thời bấy giờ, đã viết loạt bài phỏng vấn vợ các nhà văn, nhà thơ như bà Tản Đà, bà Song Kim vợ Thế Lữ…Khi phóng viên phỏng vấn về vai trò người vợ nhà văn nổi tiếng như Nhất Linh, bà đã trả lời: Tôi lấy nhà tôi là do hai bên cha mẹ có mối manh, dạm hỏi và cưới xin linh đình. Khi tôi về nhà chồng rồi, thì chỉ biết lo buôn bán để gánh vác giang sơn nhà chồng”. Câu trả lời tự nhiên, thô mộc dân dã ấy đã làm cho Anh Thơ rất cảm kích. Nữ nhà báo có ấn tượng rất đẹp về bà: Đôi mắt bà chớp chớp…Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Ánh sáng vừa dịu, vừa như có một cái gì như sẵn sàng vì mọi người…Tôi nhớ mãi cặp mắt ấy. Cặp mắt có vẻ chịu đựng mọi hy sinh, vì người thân yêu của mình. Cặp mắt của người đàn bà Việt Nam, cũ kỹ, tảo tần, không ý thức được rằng những việc mình làm đã đóng góp cho sự nghiệp của chồng không nhỏ.”
( trích từ cuốn sách Từ bến sông Thương- Anh Thơ- hồi ký 1986, )
Nhất Linh yêu vợ bằng cách riêng của một con người lịch lãm. Mỗi lần viết xong và xuất bản được một cuốn truyện mới thì dù vợ ông bận rộn đến đâu, ông vẫn tìm cách đưa bà đi bãi biển Sầm Sơn cùng mình nghỉ ít ngày cho thanh thoả. Đôi lần ông tập cho vợ hút thuốc lá, uống rượu, thưởng thức thú pha và uống trà tàu buổi sáng. Hồi ở Đà Lạt an nhàn giữa thiên nhiên ngoạn mục, ông không quên tìm bà lên nhiều lần cùng thưởng thú chơi phong lan. Có những ngày lạnh lẽo, những buổi sớm mai khi con còn trong giấc ngủ, thì hai ông bà đã bên nhau uống trà nóng, rất là tương đắc.
Bản thảo tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, vẫn còn những dòng chữ đề tặng vợ như sau: Tặng Nguyên, người rất thân yêu, đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này khởi đầu từ 1940 mới được viết tiếp theo. Hương Cảng trên núi, ngày 16-10 -1949. Nhất Linh. Trước lúc ra đi , Nhất Linh vẫn không quên dành cho vợ một lời di ngôn:
“ Mình, Mối tình của đôi ta hàng bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không …mong ước gì hơn nữa.
Anh, Nhất Linh. 7.7.1963”.
Đôi vợ chồng họ do gia đình sắp đặt, chứ không phải tự tìm nhau.
· Nhất Linh, khối mâu thuẫn lớn.
Đọc đến đây có người hỏi vậy Nhất Linh thực chất là người như thế nào?
Ngay từ nhỏ, ở quê Cẩm Giàng, Nhất Linh đã tỏ ra một con người chất phác và rất tình cảm với cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Nhất Linh quan tâm đến người em gái Nguyễn Thị Thế hơn cả. Những lần em giã vừng cho mẹ, người anh thường ở bên giúp đỡ. Nhất Linh rất thích ăn cơm trộn vừng khi còn trong cối, vì thế mỗi khi lấy vừng ra, cô em vẫn để lại một ít và cho cơm nóng vào cối trộn cho anh. Chính chi tiết nhỏ ấy, sau này Nhất Linh có cái biệt hiệu Tam cối kéo dài quãng tuổi thơ, cho đến khi ra Hà Nội học. Nhưng với công việc thì Nhất Linh cứng nhắc đến cực đoan.
Thời kỳ còn làm báo Phong Hoá, Ngày Nay, có lần Thạch Lam trễ hẹn nộp bài cho toà soạn, Nhất Linh tức giận đến tận nhà em ở Yên Phụ hỏi tại sao không viết. Nghe trả lời là chưa thể viết được, thì ông bỏ về và cắt tiền tháng của em trai, đến khi có bài mới trả.
Nhất Linh là con người có chí hướng rõ rệt và quyết tâm đi theo lý tưởng của mình. Đỗ bằng Đíp lôm, Nhất Linh vào Sở tài chính Hà Nội làm việc chờ thời. Có người hỏi vì sao không đi học Cao đẳng, sau này đường tiến thân rộng mở, Nhất Linh đáp rằng: không muốn làm ông tham, ông đốc, nguyện vọng tha thiết là viết văn làm báo, sống bằng ngòi bút của mình, sống bằng nghề tự do, ngoài vòng cương toả.
Lý tưởng ấy đã được thực hiện. Năm 1930 sau khi đỗ bằng cử nhân khoa học từ Pháp trở về nước, Nhất Linh hăng hái đứng ra làm báo với mục đích làm cách mạng văn hoá, dùng văn chương báo chí để vận động cải cách xã hội, nâng cao dân trí. Nhất Linh đã nhận rõ điều căn bản là: người Việt Nam bị đô hộ, nô lệ một phần vì thất học và tục lệ hủ lậu, mê tín dị đoan. Muốn thoát ra trước hết phải nâng cao dân trí, thì mới có dân quyền, dân sinh... Vì thế cải cách xã hội là rất cần thiết. Những chuyên mục trên báo chí, và hoạt động của trào lưu văn chương TLVĐ và phong trào ánh sáng như phân tích bên trên đã nói rõ.
Bây giờ nhìn lại, đường lối dân tộc, khoa học, đại chúng mà đảng ta nêu trong Đề cương văn hoá 1942 thì TLVĐ đã thực hành từ trước. Quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, tuy TLVĐ không nói rõ trong tôn chỉ của mình, nhưng thực tế văn đoàn này đã hành động theo quan điểm đó, cách đây hơn bẩy thập kỷ.
Trong hồi ký về những năm tháng làm báo Phong Hoá và TLVĐ, khi nhắc tới Nhất Linh, Tú Mỡ trân trọng cho rằng, đó là một người trí tuệ thông minh, ưa hoạt động, yêu đời , có chí lớn, yêu nước, nể phục người cộng sản. Tú Mỡ viết “ Tôi còn nhớ, anh Tam sau khi ở trại tập trung Sơn La về có nói với tôi: chung sống một thời gian trong căng với mấy anh đảng viên cộng sản, mới biết họ giỏi, có tinh thần cao, bất khuất gan dạ, đồng tâm nhất trí, và dù gian khổ đến đâu vẫn lạc quan.”- trang 400, sdd. Vậy vì sao Nhất Linh lại không thể là bạn chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản? Theo Tú Mỡ, phải chăng vì tự ái sai, chỉ muốn người phục tùng mình mà không chịu phục tùng người khác. Phải chăng ngại gian khổ, sợ chiến tranh, sợ chết?
Có lẽ Nhất Linh không sợ chết. Năm 1963 ông đã lấy cái chết để tố cáo chế độ gia đình trị của Ngô Đình Diệm độc tài.
Cuộc đời Nhất Linh là khối mâu thuẫn lớn!
Ông yêu nước, chống Pháp, nể phục trân trọng người cộng sản, nhưng không đủ bản lĩnh ngồi cùng con thuyền với họ. Và Nhất Linh dù là con người cực đoan, bảo thủ đến cùng trước nếp nghĩ của mình, nhưng cuối đời ông thừa nhận cuộc đời ông chỉ là tác phẩm dở dang những công việc dở dang "Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có việc nào cậu cho là đến nơi đến chốn.”
Vẫn theo “ Trong bếp núc của TLVĐ " hồi ký của Tú Mỡ thì TLVĐ khi ra đời chỉ có chủ định làm việc văn chương. Nhưng hoàn cảnh thúc đẩy, một số anh em bước vào đường làm chính trị dù muốn hay không muốn: Một buổi tối họp mặt, anh Tam bảo : Đã đến lúc chúng ta phải hoạt động chính trị giành lấy chính quyền. Cái chính phủ Trần Trọng Kim không làm nên trò trống gì đâu. Nhật không nuốt nước ta được, vì Mỹ không để cho nó chiếm cái cửa ngõ Á Đông. Chúng ta cần phải vào một tổ chức cách mạng để khi thời cơ đến, sẽ đứng ra giành chính quyền..”. Tú Mỡ hỏi : “ Sao anh không vào Việt Minh?”, Nhất Linh trả lời: “Việt Minh là cộng sản, họ chủ trương giành chính quyền bằng súng, sẽ gây ra chiến tranh chết chóc, và tàn phá. Vả lại Mỹ sẽ chống Cộng, Mỹ vừa giàu vừa mạnh.Ta đi với một Đảng thân Mỹ rất có lợi, ta sẽ đấu bằng chính trị, không phải bằng đổ máu ít ra cũng giành được tự trị. Mỹ nó chả cần cướp nước để cai trị ta như Tây. Ta đi với Mỹ, để cho nó buôn bán với ta, đem tiền của mở mang kỹ nghệ, nó có lợi mà ta cũng có lợi..”.Quan niệm của Nhất Linh bấy gìơ là thế.
Có lẽ vì cực đoan, thiếu mềm dẻo, thiếu cách nhìn toàn cục, nên Nhất Linh chỉ cho rằng, phải mất 80 năm gian khổ đấu tranh, hy sinh bao nhiêu xương máu dân tộc Việt Nam mới giành được độc lập, mới đuổi Pháp ra khỏi đất nước. Đến sau này khi trở thành bộ trưởng ngoại giao, lại phải ngồi bàn và thoả hiệp với Pháp, phải chăng ông viết thư xin từ chức là vì vậy?
"Hà Nội ngày 5 tháng 3 năm 1946
Kính gửi: Cụ Chủ Tịch
Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến.
Thưa cụ,
Tôi tự xét bất tài, bất lực nên không thể đảm đương bộ Ngoại giao trong Chính phủ, vậy tôi xin từ chức Ngoại giao bộ trưởng kể từ hôm nay. Tôi không muốn sự từ chức của tôi có ảnh hưởng đến công việc chung nên tôi đề nghị cụ kiêm luôn chức Ngoại giao bộ trưởng hay một người trung lập nào. Về việc từ chức của tôi chỉ là việc làm của cá nhân, không có liên quan gì đến sự đoàn kết các đảng phái.
Kính chúc cụ và Nội các thành công trong việc đưa nước ta đến chỗ hoàn toàn độc lập.
Nguyễn Tường Tam
Từ chức và lưu vong xứ người, Nhất Linh muốn tìm một chỗ dựa mới để thực hiện ý nguyện làm cách mạng theo quan niệm của mình. .
Nhưng thời điểm lịch sử bấy giờ không cho phép ông dựa vào Tưởng Giới Thạch. Từ năm 1946 Hồng quân dưới sự lãnh đạo cuả Đảng cộng sản Trung Quốc đang thừa thắng, thảo phạt quân Tưởng, tiêu diệt sinh lực địch khiến chúng chạy dài xuống phía Nam. Nhất Linh trôi dạt về Hồng Công chờ thời và ẩn dật. Ông ngồi tại Sường Châu sửa lại tác phẩm Xóm Cầu Mới.
Cuối năm 1950 trở về Hà Nội, nhất Linh tuyên bố không tham gia đảng phái chính trị nào. Việc này được Tú Mỡ, người bạn cộng sự thời TLVĐ kể lại một cách chân tình: "Còn anh Tam nghe nói một dạo ở Hà Nội sống về in lại sách của TLVĐ... Điều khiến tôi vui lòng là anh không đóng vai gì trong các chính phủ bù nhìn của Bảo Đại do giặc Pháp dựng lên, gây ra hoạ nồi da nấu thịt".
Con người ấy, dưới con mắt của Tú Mỡ là người vừa đáng yêu và đáng tiếc “Điều đáng tiếc là sau Kháng chiến, anh đã theo bè lũ Ngô Đình Diệm vào Nam để rồi bị bè lũ ấy chèn ép, cắt mất nguồn sống đến nỗi uất ức phải tự tử. "
Nhất Linh là con người hành động, có lẽ phải vào Nam chỉ vì quá cô đơn, lạc lõng. Ông tìm về nơi yên tĩnh là Đà Lạt lấy thiên nhiên khoả lấp nỗi trống trải đến ghê sợ. Từ khi em trai Thạch Lam mất vì bệnh tật năm 1942 ở Tây Hồ, rồi Hoàng Đạo người em, người đồng chí vốn là cánh tay đắc lực của mình chết đột tử bên Tàu năn 1948, Nhất Linh trở thành cô đơn.
Trong gia đình, anh em đồng chí đều cho rằng, người ta trọng nể Nhất Linh, nhưng quý Hoàng Đạo, bởi Hoàng Đạo mới là người mưu lược linh hồn. Khi nhận được tin Hoàng Đạo chết, những người thân trong gia đình nhận định: Hoàng Đạo không còn, nhất định Nhất Linh sẽ từ bỏ chính trị. Quả như vậy. Về nước, gần 10 năm ( 1950 đến 1960) Nhất Linh xa lánh chính trị, tập trung vào viết sách báo, vui với thiên nhiên hoa cỏ, và làm chỗ dựa tinh thần cho các nhà văn trẻ , nhưng…
Còn nữa
Nguồn: Phongdiep.net |