|
HỒN MUỐI TRONG THƠ LÊ XUÂN ĐỐ
Hoàng Thụy Anh
Con đường thơ Lê Xuân Đố ung dung thong thả, không việc gì mà phải vội vàng. Nhưng những bài thơ mà ông làm ra đều có một sức nặng. Đó là sức nặng của chất muối như được hòa tan vào thơ. Chất muối không phải bắt đầu từ tập Giọng muối (2003) mà nó đã manh nha từ Hồn nhiên (1988). Nói như thế, cái chất muối ấy vốn dĩ là một phong cách rất riêng của Lê Xuân Đố rồi. Tuy nhiên, chất muối, hồn muối được thể hiện sâu sắc nhất, toàn diện nhất ở Giọng muối.
Viết lời giới thiệu cho tập Giọng muối, Phạm Ngọc Luật nhận định: “Giọng muối đúng là chất anh, là phong dạng, hồn cốt anh những năm này. Muối mặn mòi, mặn chát, muối ngọt...” [1] . Quả như thế! Thơ Lê Xuân Đố đầy muối. Nhưng đó là thứ muối tinh, muối đã được tinh lọc qua trường tư duy của nhà thơ. Do đó, các con chữ trong Giọng muối không nhẹ, nó mang trên mình sức nặng của vị muối. Nhờ cách lắp ghép tinh tế, tận dụng tối đa các khoảng rỗng, hồn muối được trải ra trên diện rộng: sao biển, gió bấc, không em, ảo, phác thảo, bụi và mây.
1. Chữ muối - những nét dư nghệ thuật
Không ướp, tẩm hương liệu cho các con chữ, Lê Xuân Đố ma trận các con chữ bằng thủ thuật lắp ghép tối đa. Câu thơ của Lê Xuân Đố bao giờ cũng nằng nặng nỗi niềm thi nhân và ngồn ngộn khoảng lặng vô ngôn.
Khi rơi vào tâm thế ảo: ảo chữ, ảo nghĩa, ảo thơ, ảo số phận người thơ:
vác phận người nhà thơ lang thang thánh giá
bản mặt nhàu tâm tưởng xóa bôi
thơ mọc nốt ruồi đen đỉnh trán
đũa mâm biết điều im lặng
giấc ngủ cháy tàn bài thơ
mỗi thức dậy đưa đám vội vàng
(Ảo)
Chữ sắp xếp ngổn ngang, không theo trật tự cú pháp. Thơ và số phận nhà thơ mang khuôn mặt lạ: bản mặt nhàu, đỉnh trán có nốt ruồi. Nếu nhà thơ không chịu thay đổi thì sáng tạo sẽ như một cuộc tiễn đưa. Nếu thơ không vượt ra khỏi cám dỗ “mâm rượu bàn bia”, “ồn ào nhân sinh”, thơ sẽ “mất địa chỉ”. Chữ-thơ-người là một hành trình đầy chông gai. Thực đấy mà cũng ảo đấy!
Nguyễn Phan Cảnh đã nói: “Các văn bản thơ hiện đại... có thể gây ấn tượng bề bộn, không trau chuốt từ, nhưng thay vì sự không trau chuốt đó là những cấu trúc cú pháp được nhận thức một cách mỹ học” [2]. Cái xô bồ của con chữ trong thơ Lê Xuân Đố là những dụng ý nghệ thuật. Ông phân cắt các con chữ bằng những khoảng rỗng:
bức tranh màu nắng
buông hờ đường nét không gian
bóng nhà xưa lô xô chực chờ biến mất
mái vàng trời ỡm ờ hư thực
bóng hành khất
ăn mày đức tin
cong dáng hình nuốt vào quá khứ
bức tranh kiệm màu vàng ố
về đâu xa xôi phố cổ
mò mẫm tràng hạt
bước ngoài thời gian
(phố cổ)
Tại những khoảng rỗng về kết cấu hình thức, về sự va chạm giữa các con chữ, bức tranh phố cổ trở nên sinh động hơn. Là tranh đấy, cũng là phố đấy, hư hư, thực thực. Tranh còn đấy, dù đã “kiệm màu vàng ố”, “cong dáng hình nuốt vào quá khứ” mà cái hồn của nó, vẻ đẹp của nó bất diệt, “bước ngoài thời gian”. Liệu phố cổ thực ngoài đời còn hay mất? Dường như có một cái gì lo lắng, chộn rộn vượt ra ngoài con chữ. Đó là mối tương liên giữa nghệ thuật và đời sống.
Đặc biệt, thủ thuật tỉnh lược như một sở trường của Lê Xuân Đố. Hầu hết, các bài thơ trong Giọng muối đều sử dụng nghệ thuật “thiếu” ấy. Cái “thiếu” kết hợp với cái “bất luật lệ” về cú pháp, mỗi câu thơ, bài thơ của Lê Xuân Đố như “ngũ sắc cầu vồng”. Tháo gỡ từng mảng màu, nới rộng sự cộng hưởng giữa chúng, ta mới thấy được giá trị “thặng dư” đằng sau con chữ. Vô hạn các con chữ “không bến bờ” cũng là cách Lê Xuân Đố vô hạn khoảng cách giữa hai người. Em và anh chưng đắng cay tình yêu làm mật, tình đầu vẫn hun hút:
em xanh dòng sông đầu đời
còn biết làm mưa bão
mắt em ảo huyền cửa mở
anh không bến bờ đứt nối chân mày
(tình đầu)
Lê Xuân Đố sáng tạo chữ lập thể bằng cái nhìn thăm thẳm giữa “hình và bóng”:
scandal thi đàn
thế hệ chữ mới đăng quang
chữ lập thể tâm thế tâm thức tâm linh
hậu hiện đại thơ tuyệt giao
xác chữ
Ở đây, ông đã bộc bạch quan điểm của mình trước sự cách tân, vươn mình theo thơ hậu hiện đại của cánh nhà thơ. Nếu lạm dụng quá, thơ chỉ là cái xác chữ, nhốn nháo, vô định và làm “lép” thơ mà thôi. Lê Xuân Đố biết chừng mực, biết “nêm” theo tinh thần hậu hiện đại nên những thủ thuật chơi chữ, bóng chữ đều hàm chứa nghĩa tạo sinh:
rượu rót vào thơ thời gian không màu tóc
(già trẻ uống rượu đọc thơ)
Rượu rót vào thời gian thơ không màu tóc/ Rượu thơ không màu tóc rót vào thời gian/ Thời gian không màu tóc rót vào thơ rượu... Tạo sinh theo chiều kích nào, thơ-rượu cũng trở thành tâm điểm của sự giao thoa: rượu-thơ-thơ-rượu... Bởi vậy, tiếp nhận thơ ông, chúng ta phải ngấm từng chữ một để thấy được nghệ thuật của việc chắp nối, kết dính, để tìm nét dư trong thơ ông.
2. Tình muối và những bè giọng
Chữ muối song hành tình muối, đẩy tình muối đến tột cùng của nhớ thương, tiếc nuối... Nói về cha, sự dồn nén của các con chữ cũng chính là sự dồn nén của nỗi nhớ. Nỗi nhớ không gọi bằng giọng muối mà gọi bằng nước mắt muối:
sau hoàng hôn đêm phố sáng đèn
vảy cá lưng cha trứng cá mắt lưới
thèm mặt trời biển
nước mắt gọi cha
long lanh giọt nguồn vớt lên mẻ lưới cầu vọng
(nhớ biển chiều hôm)
Bằng nỗi khao khát:
cha cơn bão khơi
mẹ mạch nước ngầm âm thầm ru hát
đất mềm biển trời
(mẹ và cát)
Cơn bão khơi và mạch nước ngầm tuy chênh nhau nhưng đồng dòng chảy, đồng lòng, giao kết đất-biển-trời. Và khi nỗi đau là điểm tựa thanh lọc tâm hồn, chữ muối chuyển thành tình muối pha lê:
thổi dọc một đời gió no ruột mát
trong cát mẹ về pha lê nước mắt
(mẹ và cát)
Cái tình quay quắt, chan chứa ấy khi viết về phố phường, truyền thống văn hóa, con người... lại trở nên thâm trầm hơn, ngậm ngùi hơn. Đi giữa “lòng nội ô cao ốc”, nhà thơ “huyền thoại” chính mình trong nỗi xót xa:
người trong khung tranh thếp vàng đi đâu
lòng phố xưa đốt đèn cao áp
(huyền thoại)
Đến xứ sở “nón bài thơ”, ông thổn thức với người xưa, chốn xưa. Lạc nhau từ dạo ấy mà bây giờ trắng cả đầu núi Ngự:
lạc nhau con đò sông Hương
mất nhau tình vàng chén ngọc
giọt rượu chưa chìm hồn đã rêu phong
tri âm trắng đầu núi Ngự
(nón bài thơ)
Lê Xuân Đố còn thể hiện bản lĩnh họa sĩ của mình bằng những chân dung “phác thảo”: Nguyễn Khải tài chữ nghĩa như tài “trận mạc”, Mai Văn Tạo thể hiện bút lực từ “sữa mẹ phù sa quê nhà”, Thu Bồn đi và viết khiến chữ nghĩa cũng “mọc núi non”, Xuân Hoàng đau đáu “tình như vương vấn cổ thành”... Nguyễn Quang Sáng rực rỡ với “câu văn rắn nước hổ mang”:
văn đã xếp qua đầu
tóc bạc đố ai qua mặt
nhậu được
chơi được
viết được
(đụng rượu ông Nguyễn Quang Sáng)
Đó là cốt cách một nhà thơ-họa sĩ. Phác thảo “chân dung” cũng là cách Lê Xuân Đố làm nên cây cọ-thơ cho riêng mình. Phác thảo nhưng đầy tâm sự, nỗi niềm.
Có thể khẳng định, Lê Xuân Đố là người rất nặng tình cảm. Ở đâu, chốn nào, nhà thơ cũng thổn thức, trở trăn với kí ức của mình. Phải chăng có một ẩn ức gì đó trong ông? Phải chăng vì thế mà cảm thức hoài vọng, huyền thoại luôn thường trực? Nói về Hà Nội, Nhật Lệ, Đà Lạt, Nhà Trang... nhà thơ không chỉ gửi gắm những cảm xúc của mình với cảnh vật nơi đây mà còn lồng trong đó niềm riêng:
ta chết non tuổi trẻ
gương mặt em mãi huyền thoại gương hồ
(gương hồ)
thanh tân em rờ rỡ hoa hồng
tang lễ tình yêu tỏa lừng hương sắc
(Nhật Lệ và hoa hồng)
thời gian đeo chuỗi vỏ hào
người đi sóng giật ra màu chia xa
ra về vớt lại người ta
xa xôi mà tiếc tình là Nha trang
(tình Nha Trang)
Đi giữa phố phường Hà Nội, nhà thơ bần thần, tâm hồn thoáng chút cô quạnh trước cảnh vật và con người vừa Hà Nội vừa không Hà Nội: ngào ngạt không gian ngò cải húng thơm/ ngược cao tốc xanh về phố chợ/ không đòi lại đất mà hiến dâng khẩu vị người đô thị.../ có thể rét ngày hè nóng bức đêm đông/ thời trang ngỡ ngàng thời tiết/ giọng ca thời danh đục lại gió mùa/ chim trong vườn Bách Thảo chớ hoang mang/ tiếng hót cũng thành huyền thoại (huyền thoại). Một tâm thế như vậy, đến chốn “đôi bờ tâm phúc”, trước cái đẹp của cõi từ bi, Lê Xuân Đố cháy lòng từ bỏ chốn bụi trần, sống trong cảnh thanh tịnh: quên Bến Đục chân bùn chen chúc/ thả suối Yến lòng A Di Đà/ áp đôi bờ tâm phúc/ đâu còn nợ với trăm năm (hành hương).
Hướng về cái đã qua, miên man trong mạch hoài ức nên cảm thức tìm về tràn ngập trong Giọng muối. Có thể thấy qua cách sử dụng hàng loạt động từ như: thèm, vớt, găm, ngớt, khắc, đứt, liệm, sót, rớt, chìm... Ngay cách đặt nhan đề bài thơ cũng đã thâu tóm phần nào cảm thức ấy: nhớ biển chiều hôm, giấc mơ biển, huyền thoại, tình đầu, tiếc thương... Tất cả làm nên tính chất “huyền thoại” và tính chất “ảo” trong thơ Lê Xuân Đố. Và đó cũng là cách để chúng ta cảm nhận hồn muối trong thơ ông.
Bên cạnh một Lê Xuân Đố - bè giọng trầm, quay quắt, ở Giọng muối, ta còn bắt gặp một bè giọng phá cách, nổi loạn. Nhà thơ gửi gắm trong những cái tình ấy là sự nổi loạn - nổi loạn của giọng muối về thơ thời thị trường. Thơ thời thị trường, thơ không thể qua mặt lương tâm của nhà thơ. Thơ sẽ chết yểu, “bất động”:
nặng giọng muối
bia rượu văn chương
thơ bặm trợn qua mặt thị trường
nhỡ thời rồi tuổi tên bất động
(giấc mơ biển)
Khi để thơ “trình diễn” như “mốt” của cuộc sống, chữ và giọng Lê Xuân Đố tưng tửng, lạnh lùng:
thơ đọc bãi tắm
bao cặp tình nhân bận làm gì dưới sóng
có lẽ nàng thơ nên mặc áo tắm
không đến nỗi nhà thơ chết nắng
...
Hoa Kỳ, thơ Nobel ngàn bản bán không hết
Fahasa Sài Gòn, thơ ký gửi 3 năm chưa nhận được tiền
(trình diễn thơ)
Thơ bán không hết, không ai đọc nên trình diễn thơ để “lăng-xê”. Trình diễn ở sân khấu, quầy bar, bãi tắm, đêm thời trang... và cuối cùng “độc diễn tại gia”. Tái hiện những cảnh ấy, bề ngoài cái giọng lạnh lùng, pha chút thách thức, chút “ngông” nhưng bên trong chất chứa những niềm thương xót, chua cay cho phận thơ.
Nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật với tất cả tâm huyết và nhiệt thành của mình để dâng tặng cho đời tác phẩm vô giá. Thế nhưng, dưới bầu trời-thơ của Lê Xuân Đố, số phận nghệ thuật thật chông chênh, “vô cảm” trước con người:
vô khối chiếc mâm không đồ ăn thức uống
đồng loạt hất nghiêng xoay tròn tháp nón
hướng mặt trời đếm giờ khắc số phận
(bức tranh dưới trời)
Cái thản nhiên, lành lạnh ấy còn “táo bạo” hơn khi viết “thơ cho Bim”:
loài chó nồng nhiệt hơn hẳn chúng ta
trời phú đức tính trung thành
ta xúc động và nhiều khi tự ái
...
lớn tiếng rủa đồ chó má
ta ngầm ganh tỵ lòng thủy chung
Ở bè giọng này, các con chữ có phần “mạnh tay” và ít “đỏm dáng”. Nhờ đó, hình ảnh thơ được chắt lọc hơn, sự trống rỗng như vết bỏng ngấm ngầm vào tâm can chúng ta:
đường nhân loại tấu rền bom đạn
nguyền rủa lũ quạ đen giương cờ phía trước
thác người sục sôi cắm những tháp cao
tối sầm phút giây lo âu chợt thức
chữ Tâm liền vén phép thiêng cuối trời
(Truyện Kiều đọc lại)
Gặp lại bạn thơ, những nghẹn ngào thời cuộc cứ thế dội vào thơ:
nhắm chút gì đi
đôi đũa say chống qua mùa lụt bão
nuôi dưỡng vĩ nhân cũng từ mật máu phù sa
nói một lời đi
máu người nhiễm lây khủng bố
may mắn mùi tình sót lại chân rơm
hoang tưởng đất trời sót lại câu thơ
(gặp lại bạn thơ)
Hai bè giọng không đối chọi nhau, ngược lại, chúng bổ sung cho nhau tạo nên hồn muối, tạo nên tính đa thanh trong thơ Lê Xuân Đố. Giọng trầm lắng ẩn chứa những khắc khoải. Giọng sắc cạnh dấn thân vào những lát cắt thực tế. Hai giọng này có thể luân chuyển, đi về ngay trong một bài thơ. Điều đó đã khẳng định được một phong cách, một ngòi bút rất linh hoạt, tinh tế ở Lê Xuân Đố. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Thanh Thảo không ngần ngại giải bày: “Không chỉ nổi tiếng vì thơ, Lê Xuân Đố còn nổi tiếng là nhà thơ hay…khóc. Anh có thể khóc rất ngon lành vào một lúc ít ai ngờ tới nhất, và anh... tắt tiếng khóc cũng rất nhanh, ít ai lường được. Hỏi anh sao lại như vậy, Lê Xuân Đố nói là không chỉ trong thơ anh không muốn “đụng hàng”, mà... khóc anh cũng muốn một mình một cõi” [3].
Chất muối không chỉ là “đặc sản” của miền Trung, ở trong tập thơ này, Lê Xuân Đố còn đưa vào đó chất muối của miền Nam và miền Bắc. Chất muối đa dạng về vị: vị ngọt, vị mặn, vị đắng cay, vị chua xót... Các vị ấy tồn tại, giao thoa nhau, đối thoại nhau bằng mảnh vỡ của ngôn từ, bằng cách thức tổ chức tràn đầy những khoảng lặng. Chính lẽ đó, nắm bắt Giọng muối, người đọc mới “thoáng” cái kết cấu bề ngoài, hồn muối mới là giá trị đích thực kiến tạo nên thế giới nghệ thuật của riêng Lê Xuân Đố.
Đồng Hới, ngày 28-11-2010
H.T.A
-----------------
[1]. Lê Xuân Đố, Giọng muối, NXB Văn hóa-Thông tin, 2003, tr. 117.
[2]. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa-Thông tin, 2001, tr. 237.
[3]. Thanh Thảo, Nhà thơ Lê Xuân Đố... khóc, http://www.bichkhe.org
|