DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
 
CUỐI NĂM SUY NGẪM VỀ THƠ VÀ THƠ HAY

 
 

                                                                                                                  Hoàng Thư Ngân

 
 

                Bạn hãy thử lên mạng tìm trả lời cho câu hỏi “Thế nào là thơ hay ? xem, sẽ chẳng có câu trả lời nào cả, trong khi “thơ hay thì vô số . Hóa ra đây là một câu hỏi vớ vẩn, thơ hay là thơ hay chứ sao! Đọc một bài thơ, một câu thơ, anh bảo nó hay, tôi bảo nó không hay, có sao ? Tôi thì không tin là vậy. Từ Cổ đến Kim, từ Đông sang Tây, thơ được gọi là “thơ hay đã được tuyển chọn nhiều vô kể. Chỉ riêng ở VN, ai đã thống kê xem có bao bài “thơ hay được tuyển chọn, in ấn, truyền tụng ? E rằng đó là việc bất khả thi, vì ở VN ta “ra ngõ gặp nhà thơ, thơ đã thành phong trào quần chúng, xã phường nào cũng có “thi tuyển (nghe đâu anh Đỗ-Quyên đã được giới thiệu số bài thơ được gọi là “trường ca lên đến vài trăm -  nghe đến khiếp năng lực làm thơ của người Việt - hay có sự nhầm lẫn về khái niệm “trường ca chăng ? Rồi gần đây  “Thiên tuế tình hoài (Ngàn năm thương nhớ) - bộ tuyển những bài thơ hay viết về Thăng Long - Hà Nội, dày tới 2.050 trang, đẫm màu thời gian cổ kính, hai tay bê mới nổi, của Gia-Dũngđáng phục ! Đã chắc rằng việc tuyển thơ thường phụ thuộc ý thích của người tuyển chọn, nhưng chắc chắn “thơ hay trong thiên hạ cổ kim phải có tiêu chuẩn chung của nó, nếu không thì sao chỉ có dăm ba bài thơ được “tuyển” trong hàng vạn bài thơ đặng lưu truyền sử sách chứ ? Nếu không có tiêu chuẩn  chung nào đó thì sự tuyển chọn “thơ hay là tùy hứng  sao? Cụ Hoài-Thanh mà nghe được chắc sẽ mắng : mày dốt !". Thôi, chưa bấu víu vào đâu được, tôi đánh bạo tự tìm cách trả lời câu hỏi này vậy .

 

 

 

 

 

                                                               Tác phẩm đồ sộ Thiên tuế tình hoài

 

 

 

             Trước khi nói về “thơ hay ta cần thống nhất “Thơ là gì ?. Vì không biết thơ là gì thì sao có thể nói đến thơ hay! Rất may, câu trả lời cho câu hỏi “Thơ là gì ? đã có nhiều lắm. Đông, Tây, Kim, Cổ đều có những đáp án cho câu hỏi này. Không dám dẫn chứng nhiều, chỉ xin lấy những tài liệu gần đây mà các bạn có thể tham khảo trực tiếp trên mạng :  "52 định nghĩa thơ cho thế kỷ XXI" của Lawrence Ferlinghetti (đã đăng trên PhongDiep.Net) ; "Thơ ta thơ tây của Phạm Quỳnh-Thượng Chi văn tập - Bộ Quốc gia Giáo dục (1962) ; "Tìm kiếm một định nghĩa về Thơ" -Bài viết của Phạm Hoài Vọng ; "Thơ là giọng, là phong cách của tư tưởng" của Gluck, Louise ; "Yếu tính của thơ "của Adler ; "Thi ca như là hàng hoá và dịch vụ" của Ngô Tự Lập (Tạp chí Tia Sáng) ; v.v..và v.v...  Tổng hợp những gì đọc được, ta sẽ lờ mờ hiểu được “Thơ là gì ?”, vì quả thực, “Thơ” là một thực thể  không thể định nghĩa được. Mỗi người đều có thể đứng ở một hay vài góc nhìn nào đó mà mình quan tâm để đưa ra định nghĩa . Có bao nhiêu bài thơ thì có bấy nhiêu định nghĩa, thậm chí còn nhiều hơn bởi vì các giáo sư và các nhà phê bình thơ còn đông hơn các nhà thơ ”- Lawrence Ferlinghetti đã viết như vậy. Khi chúng ta đang loay hoay tìm cho “Thơ” một định nghĩa thì chính chúng ta đang tìm cách khoác lên thơ ca một cái khuôn mẫu có sẵn, mà “Thơ”, ai cũng biết là không thể có khuôn mẫu. Cũng như đi tìm một định nghĩa về “Tự do”, về ‘“Hạnh phúc”, về “Tình yêu” … , hình như chúng ta chỉ đem cái hữu hạn để nói về cái vô hạn mà thôi.

 

           Hãy nghe một học giả xưa cũ Hoa-Bằng Hoàng-Thúc-Trâm (1902-2007) nói về thơ :

 

 

 

         “Một thiếu nữ, yếm pha mầu ráng, răng nhánh hạt huyền, tóc mây buông xõa hai mép võng nâu, nhịp nhàng theo tiếng kĩu kịt của khóm tre gióng thẳng, tinh xanh, ời ơi ru con bằng những câu ca dao thuộc lòng quen miệng : đó là một bài thơ từ-mẫu mà trầm hùng.                                                       

 

          Một chú tiều gõ nhịp sừng dưới ánh tà huy, nghêu ngao những câu hồn nhiên mà mộc mạc : đó là một bài thơ phác-dã.

 

          Một ni cô, gương mặt trắng trẻo ẩn dưới vành khăn nâu xồng, lầm rầm theo những dư âm dài ngân của tiếng chuông đồng dưới bóng chạng vạng mờ tỏa tam quan : đó là một bài thơ huyền-diệu.

 

          Một sỹ tử, lưng đeo gọng lều, cổ choàng ống quyển, bước thấp, bước cao, vừa ra khỏi nhà thập đạo, vừa lẩm nhẩm ngâm lại bài thơ mới thoạt viết xong trên quyển có dấu giáp phùng, dấu nhật trung, theo vần trường ốc đã hạn : đó là một bài thơ lề lối …”   (trích lời tựa tập thơ “Phấn đấu” của Minh-Tuyền Hoàng-Chí-Trị (1916-2001) - Hà nội -1944) .

 

 

 

        Gần đây nhà thơ Nguyễn-Trọng-Tạo có viết trên trang Web của anh rằng :

 

 

 

   Con người không có thơ thì chỉ là một cái máy bằng xương thịt. Thế giới không có thơ thì chỉ là một cái nhà hoang. Octavio Paz cho rằng: “Nếu thiếu thơ thì đến cả nói năng cũng trở nên ú ớ”. Nhưng thơ là gì thì chẳng ai dám quả quyết là mình đã nhìn thấy hay bắt giữ được. Thơ giống như Gió. Không ai biết rõ Gió từ đâu tới và Gió đi về đâu, nhưng ai cũng cảm thấy Gió mang chứa những năng lực huyền bí siêu phàm. Trên lộ trình viễn du vô định, Gió đã tạo ra biết bao hiện tượng lạ lùng khó mà đoán trước. Kito coi Gió là “Thần hồn thiêng liêng”. Trang Tử gọi Gió là “Thế nhạc”. Liệt Tử luyện mình thành gió vân du đó đây tuỳ thích đến  nỗi  “không biết Gió đi với ta hay ta đi với Gió”. Thơ cũng mang chứa năng lực huyền bí siêu phàm chẳng khác gì Gió vậy. Thơ làm cho ta vui buồn lúc nào không hay. Thơ làm cho ta thoát ra ngoài tục luỵ phiêu diêu cùng trời đất, hoà nhập với thiên nhiên, hoặc đồng cảm cùng đồng loại. Lắm khi, Thơ còn tạo nên sức mạnh tuồng như mê tín của cả một cộng đồng. Chính vì thế mà Thơ có mặt ở mọi thời, mọi người, mọi nơi. Từ  xưa, Thơ được coi như một tôn giáo và được xếp thứ tư sau Thượng đế và Thánh, Thần(“Mấy suy nghĩ về thơ và thơ trẻ”-nguyentrongtao - 25/05/2010 ) .

 

 

 

              Và hãy nghe một định nghĩa hiện đại về “Thơ” của nhà nghiên cứu Phan-Ngọc trong bài viết "Thơ là gì ?" (Tạp chí Văn học, 1994) . Xin ghi ra đây để các bạn cùng tham khảo :

 

        Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này vì có một thứ thông báo hết sức cần thiết cho đời sống tinh thần của một thể cộng đồng chỉ có thể truyền đạt bằng thứ ngôn ngữ quái đản này mà thôi”.

 

 

 

      Cái mà tôi tâm đắc nhất với định nghĩa này về “Thơ chính là từ “quái đản” mà Phan-Ngọc đã dùng - một từ mang trong nó cái vô cùng để nói về cái vô cùng  vậy. Rõ ràng “Thơ” là một cái gì rất “quái đản” . Điều kỳ diệu là con người đã phát hiện ra cách tổ chức hoàn hảo “quái đản” ấy ít nhất là một ngàn năm trước. Thơ đã hút hồn bao tỷ con người Cổ-Kim, đã làm bao cô nàng siêu lòng đến chết và đã làm bao tao nhân mặc khách, bao anh hùng rơi lệ … “Quái đản” cũng hàm nghĩa “cái lạ”, “cái khác thường”, nên tổ chức của thơ  không như  ngôn ngữ giao tiếp bình thường hay văn xuôi. “Cái lạ” khiến người ta nhớ, “cái lạ” khiến người ta suy nghĩ. Vì vậy,“ở bất kỳ ngôn ngữ nào, thơ cũng là một cách tổ chức ngôn ngữ quái đản, nó tuân theo những mô hình cực kỳ gắt gao; nó có vần, có nhịp, có cắt mạch, có số lượng âm tiết, có đối, có số câu, có niêm, có sự vận dụng về trọng âm, trường độ... Mô hình càng chặt thì càng dễ nhớ và dễ lưu truyền, bởi vì người ta có thể căn cứ vào mô hình để phục hồi câu thơ chính xác (cái “quái đản” đó làm cho thơ khác hẳn văn xuôi – tôi nhấn mạnh)…Mọi câu bình thường nhất, đơn giản nhất, một khi đã nhập vào cấu trúc quái đản thì đều mang theo một sự hoán cải, do hình thức đưa đến”(Phan-Ngọc -bài đã dẫn).

 

 

 

         Chúng ta có thể lấy “Truyện Kiều” làm thí dụ : nếu không có thể thơ lục bát và nghệ thuật ngôn từ Việt “quái đản”của Nguyễn-Du thì sao có thể một “Truyện Kiều còn thì nước Nam còn(Phạm-Quỳnh), vì truyện Kiều chỉ là một truyện văn xuôi rất tầm thường về một cô kỹ nữ bên Tàu ? Nguyễn-Du  cũng xứng đáng được gọi là “dịch giả” thơ đại tài với sự chuyển ngữ thơ, điển tích, từ tiếng Hán sang tiếng Việt rất “quái đản”mà chúng ta đều biết (*), như “Đào hoa y cựu tiếu Đông phong” mà dịch thành “Hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông” thì còn gì để nói! Sự “quái đản”còn do “câu thơ đọc xong thì đọng lại nguyên vẹn trong trí óc ta, trở thành một ám ảnh, và được nội cảm hoá ngay lập tức đến mức nó là của chính tôi. Ðây là một sự chiếm hữu trọn vẹn cả nội dung lẫn hình thức không một chút vi phạm dù là nhỏ nhất” ...

 

 

 

          Tuy bài “Thơ là gì?” của Phan-Ngọc, dưới góc độ của Phong cách cấu trúc học, không phải không còn những điều cần bàn, nhưng nó đã cho ta một số thông tin đáng để ý để trả lời cho câu hỏi mà có lẽ sẽ còn mãi với muôn đời …

 

 

 

                 Tìm một định nghĩa cho “Thơ đã bất khả thi như vậy thì sao có thể tìm được một định nghĩa cho “Thơ hay” ? Nhưng, như đã nói ở đầu bài này, “Thơ hay”  ắt phải có “tiêu chuẩn” chung nào đó để người ta nhớ, để người ta trầm trồ, để người ta ngây ngất, để người ta “tuyển” trong hàng vạn bài thơ đặng lấy ra được dăm ba bài lưu truyền sử sách! Theo tôi, có thể đưa ra các “tiêu chuẩn” (đã được kiểm chứng trong thực tế, ít nhất là ở VN (!)), không lấy thứ tự làm quan trọng, sao cho mỗi “tiêu chuẩn” là độc lập với “tiêu chuẩn” khác, và nhất là để những người làm thơ có thể dựa vào chúng để làm ra “Thơ hay”. Xin trình bày để các bạn cùng suy xét : 

 

   

 

Tiêu chuẩn 1 :  “Thơ hay” là thơ của các tác giả có cuộc đời gắn với sự nghiệp lẫy lừng trong lịch sử. Các tác giả này có thể là nhà thơ chuyên nghiệp hay cũng có thể chỉ “ghé qua thăm Nàng Thơ”  trong giây phút nao lòng :

 

 

 

“Ngâm thơ ta vốn không ham

 

Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây …” (Hồ-Chí-Minh)

 

 

 

 Nếu họ để lại thơ thì thơ của họ đều hay” . Có thể chỉ ra nhiều dẫn chứng trên thi đàn Việt-nam các tác giả như vậy: từ Trần-Nhân-Tông, Lê-Thánh-Tông, Nguyễn-Trãi, Nguyễn-Bỉnh-Khiêm, …đến các vị đỗ đại khoa trong các triều đại Phong kiến như Nguyễn-Khuyến,Nguyễn-Công-Trứ,Chu-Mạnh-Trinh, v..v.., rồi các tên tuổi như Cao-Bá-Quát, Phan-Bội-Châu và gần đây có Hồ-Chí-Minh  (có thể kể thêm Tố-Hữu, Sóng Hồng… ,và hiện nay gồm cả nhiều quan chức hoặc  các doanh nhân thành đạt nữa (!)). Thơ của họ là một trong những ưu tiên vào ‘top’ đầu trong các thi tuyển  theo dòng lịch sử. Thực sự, thơ của phần nhiều trong họ đều trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và đã đọng lại, bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ. Có nhiều bài thơ , nhiều câu thơ đạt được sự “quái đản của thơ, chúng được lưu truyền rộng rãi trong lòng những người yêu thơ và có khi là quảng đại quần chúng, nhờ các phương tiện truyền thông. Có thể dẫn ra đây rất nhiều bài thơ, câu thơ như thế, và tất nhiên, cũng không phải luôn là như thế. Tôi nhớ, ở đâu đó, nhà thơ Nguyễn-Quang-Thiều có dẫn tâm sự của Tố-Hữu, đại ý là : có bài thơ của mình cũng thường thôi mà người ta cứ khen là nó hay”. Hồi tôi còn là học sinh, có một cuộc tranh luận ghê lắm về bài thơ “Ba tiêu” (vịnh cây chuối) của Nguyễn-Trãi trên các tạp chí Văn nghệ (hình như khi Cụ được đề cử là “Danh nhân văn hóa thế giới” ?). Hiển nhiên, các nhà phê bình (trong đó có nhà thơ Xuân-Diệu rất hăng hái), theo thông lệ, khen hết lời là bài thơ này rất ‘hay’. Họ nói nhiều nên tự nhiên tôi cũng thuộc :

 

 

 

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Ðầy buồng lạ màu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem.

 

 

 

Cái ‘hay’ nhất là sự bí ẩn ở câu : “Ðầy buồng lạ màu thâu đêm”, mặc dù nếu không biết trước đầu bài thì có lẽ khó mà thấy bài này nói về “cây chuối” (?). Tôi đồ rằng cái thích của Xuân-Diệu (và một số nhà phê bình thời đó) đâu phải là cái thích của nhiều người yêu thơ !

 

 

 

        Có nhiều tác giả tuyển thơ hay lạm dụng “tiêu chuẩn 1” này để “tuyển” thơ hay. Gần đây nhất tôi rất ngạc nhiên khi đọc “Tràng An muôn thuở” - Thơ chọn lọc (1010-2010)- Tác giả Gia Dũng- NXB Văn học-2009 – kỷ niệm 1000 năm Thăng-long, trong đó tác giả “tuyển” cả “Chiếu rời đô” của Lý-Công-Uẩn (trang 9), “Hịch tướng sỹ” của Trần-Hưng-Đạo (trang 55), …. Không biết từ bao giờ “Chiếu” và “Hịch” đã là một thể của “Thơ”  vậy ?     

 

 

 

Tiêu chuẩn 2 :  “Thơ hay” là thơ của các tác giả là các nhà thơ chuyên nghiệp thực sự, cuộc đời của họ gắn với “Nàng Thơ” và họ được vinh danh vì thơ. Họ khao khát và tạo nên sự khao khát vươn tới sự thống nhất cùng vũ trụ, vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn, cao hơn cuộc sống hiện tại. Họ làm giàu cho đời sống tinh thần Nhân loại bằng các tập thơ, bài thơ được xuất bản rộng rãi (nhưng không dễ dãi) và sản sinh ra một thứ thông báo hết sức cần thiết cho đời sống tinh thần của một thể cộng đồng (những người yêu thơ). Nói như Hêghen: “Nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ”. Cũng bởi vậy, thơ của họ được biết đến và được đánh giá bởi đông đảo người yêu thơ và bạn đọc ; chúng được lưu truyền, chúng được sàng lọc khắc nghiệt trên dòng chảy thời gian, trụ được trong lòng độc giả. Họ nhiều khi bị coi là  “điên” với những câu thơ quái đản của mình ( như Puskin,… ở  Nga; như  Lý-Bạch, Đỗ-Phủ, … ở TQ; như Tú-Xương, Chế-Lan-Viên, Hàn-Mặc-Tử, Lưu-Trọng-Lư, Xuân-Diệu, Huy-Cận, Tế-Hanh, Minh-Tuyền, Nguyễn-Đình-Thi, Nguyễn-Bính, Hoàng-Cầm, Quang-Dũng, Phạm-Tiến-Duật, Xuân-Quỳnh,Trần-Đăng-Khoa, v.v…ở VN). Họ thường sống rất nghèo về vật chất nên thường “quái đản” về tinh thần (chả thế mà Xuân-Diệu có lần nói vui rằng : cả nước làm thơ thì đói to (!)). Thơ của họ thường nhận được các giải thưởng cao trong các cuộc thi thơ và có thể nói không quá rằng : nguồn ‘“Thơ hay” chủ yếu là ở kho này vậy.

 

 

 

Tiêu chuẩn 3 : “Thơ hay” là các bài thơ, câu thơ lưu truyền trong dân gian. Chúng có thể có danh hoặc khuyết danh như ca dao, đồng dao, lời ru con v..v…, và cả những thơ làm quà tặng. Càng khuyết danh , thơ càng hay. Tôi đồ rằng có một nhà thơ Hồ-Xuân-Hươngquái đản, nhưng có nhiều bài “hay” được dân gian lưu truyền đời sau đã gán cho bà chứ không phải do bà làm (?) ( như kiểu phong “anh hùng” một thời vậy). Âu cũng là do “dân gian” ! Cái hay của thơ ở tiêu chuẩn này là chúng “đi” vào lòng người một cách rất hồn nhiên, không dính “mùi phê bình”, chẳng cần “in ấn” to tát; chúng bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ ….cũng rất tự nhiên như người ta hít thở không khí trong lành vậy . Nhớ một buổi học dưới mái trường làng vào một chiều mùa Hạ , thày giáo dạy văn ngâm nga câu ca dao :

 

                                 “…Đêm qua tát nước đầu đình ,                                                                                          

                                     Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen …”

 

Rồi thày hỏi : các em có thấy câu thơ này hay không ? Cả lớp im lặng- cái im lặng đầy cảm xúc chưa nói lên lời. Thày giảng tiếp : các em có tin được không, một chàng nông dân cục mịch chân lấm tay bùn lại có thể “bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen” ? Cành hoa sen đâu cứng cáp để người ta vứt bừa một cái áo thấm đẫm mồ hôi lên nó. Chắc chắn chàng nông dân ấy phải rất khéo léo, nhẹ nhàng và đầy ý tứ như một tao nhân mặc khách, mới “bỏ quên” được chiếc áo trên “cành hoa sen”. Và sao chàng lại chọn “cành hoa sen” mà không chọn cành cây khác bên đình để “bỏ quên” áo? Chỉ riêng hành động “bỏ quên” như “cố tình”  đó đã khiến chàng nông dân cục mịch trở thành một thi sĩ ! Câu thơ thật hay cả trong ngôn từ và trong cảm xúc để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải suy nghĩ …

 

         Không biết bao người con Việt còn được “lớn lên” từ các lời ru của mẹ nữa khi “sữa cô gái Hà-lan” tràn ngập phương tiện truyền thông và trẻ nhỏ đang được “rèn rũa” dưới các mái trường ngoại quốc trên quê hương Việt đầy thơ hay này ?

 

 

 

          Với các tiêu chuẩn trên, bạn sẽ dựa vào tiêu chuẩn nào để làm ra ‘“Thơ hay”?

 

 

 

                                                                              Hà nội, 25/12/2010

 

  ------------------------------------------------------------------------------------------------           

 

     (*) Nguyễn Du đã dịch 30 câu thơ và 27 lần mượn ý, chữ trong thơ cổ Trung Quốc; 46 lần mượn chữ Kinh Thi; 50 lần mượn chữ, ý trong các kinh truyện khác; 69 lần mượn điển tích trong các sách Thần tiên truyện, Tình sử ; 21 lần mượn chữ và điển tích trong các sách Phật, Lão v..v…

 

 

 

Nguồn: Phongdiep.net

 


 

Các bài khác:
· CHU CẨM PHONG CÓ VIẾT 2 CUỐN NHẬT KÝ TRONG CÙNG MỘT THỜI GIAN?
· QUA ẤP BẮC
· BỘ BA TRANG THẾ HY-NGUYÊN NGỌC-NGUYỄN NGỌC TƯ
· NGHĨ VỀ THƠ: THƠ VÀ RƯỢU
· HẦU HẾT NHỮNG BÀI THƠ VIẾT TRONG MỘT NĂM
· VỀ TIỂU THUYẾT 'BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG' CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ
· HÀN MẠC TỬ - VIÊN KIM CƯƠNG CHÓI NGỜI TRONG DÒNG CHẢY THI CA CÔNG GIÁO VIỆT NAM
· NGHĨ VỀ BÙI GIÁNG, HÀN MẶC TỬ VÀ THANH TUỆ
· 33 LÚC KHOÁI CỦA KIM THÁNH THÁN
· CHÍ PHÈO - HIỆN THÂN BẢN NGÃ VIỆT?
· NGƯỜI VỢ CUỐI CÙNG CỦA THI SĨ ESENIN
· NGƯỜI VỢ ĐẦU CỦA THI SĨ ESENIN
· MỐI TÌNH ĐẦY CHẤT THƠ CỦA NHÀ VĂN PHAN TỨ
· TRỊNH CÔNG SƠN - BẬC Á THÁNH CỦA SIÊU HÌNH
· KHOÁI CẢM THẨM MỸ CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG 'MÀU TÍM HOA SIM'
· NGƯỜI CUỐI CÙNG CỦA MỘT DÒNG HỌ VÕ TƯỚNG
· ESENIN VÀ DUNCAN – CUỘC HÔN NHÂN KHÓ LÝ GIẢI?
· ĐOÀN GIỎI - CUỘC TRÙNG PHÙNG ĐẦY NƯỚC MẮT Ở ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
· TÂN HÌNH THỨC, NHẮC LẠI - 10 NĂM
· VĂN HỌC TRẺ 2010 - VĂN XUÔI LẤN ÁT THƠ

 

  
Gia đình Bích Khê