BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ VÀ HÀN MẶC TỬ VỚI HAI BÀI THƠ VỀ THÔN VĨ DẠ

                                                                                                                                                      Nguyễn Công Thận     

Trước khi đi vào nội dung bài viết, tôi xin phép được chép ra đây hai bài thơ đó của hai tác giả để tiện cho bạn đọc xem xét. 
 

Đêm xuân đến thôn Vĩ Dạ nghe đàn sáo ( Bích Khê) 

      Ti trúc mê li xuân dưới nguyệt

      Cỏ  hoa vờ vật mộng trong hương

      Tràng An thú ấy ai không biết

      Vĩ  Dạ đêm nay khách chật đường. 
 

 

Đây thôn Vĩ Dạ  (Hàn Mặc Tử) 

      Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

      Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

      Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

      Lá  trúc che ngang mặt chữ điền. 

      Gió  theo lối gió, mây đường mây

      Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

      Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

      Có  chở trăng về kịp tối nay? 

      Mơ  khách đường xa, khách đường xa

      Áo em trắng quá nhìn không ra

      Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

      Ai biết tình ai có đậm đà?  
 

 Thôn Vĩ Dạ có gì đặc biệt mà cả hai thi sĩ cùng thời đều có thơ vậy?  

 Để lý giải vấn đề này, trước hết xin mời các bạn hãy nghe câu chuyện sau đây: 

Theo lời kể của một người sống cùng thời với hai nhà thơ, thì nếu từ Huế, đi bằng thuyền chèo ngược dòng sông Hương chừng độ hút tàn một điếu thuốc, bạn sẽ thấy dòng sông chẽ ra hai nhánh, như hai cánh tay ôm trọn vào lòng một cù lao nhỏ xanh tươi, trù phú. Theo sử sách thì cù lao này được gọi là Cồn Hến từ đầu niên hiệu Gia Long. Từ xa xưa, nơi đây ban đầu chỉ là một cái cồn nhỏ do cát phù sa sông Hương tạo thành. Theo thủy triều lên xuống, Cồn Hến khi thì ẩn mình dưới làn nước sông Hương, khi thì nổi lên một phần, phô diễn vẽ đẹp trinh nguyên của tạo hóa. Dần dà theo năm tháng, được sông Hương nuôi dưỡng bằng nguồn phù sa ngọt ngào, Cồn Hến trở  thành một cù lao trù phú, thơ mộng như bấy giờ.

Một điều thú vị là thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây rất nhiều hến sinh sống,  làm nguồn thực phẩm đặc biệt cho cư dân trong vùng. Cái tên  bình dị “Cồn Hến ” chắc cũng từ đó mà có.

 Vào cái thời mà hai thi sĩ của chúng ta đang sống, mò hến là công việc rất tự nhiên của cánh “chân yếu, tay mềm” ở nơi đây. Những buổi chiều tà hay sáng sớm, giữa sông nước mênh mang, sương mờ ẩn hiện, các thiếu nữ chẳng ngại ngần thoát y, để hết quần áo trên bờ, tốp năm tốp bảy ùa ra triền sông vừa mò hến, vừa cười đùa rất hồn nhiên, vô tư . Toàn cảnh sinh hoạt tự nhiên, khoáng họat  đó của các thiếu nữ cồn Hến, vô tình đã tạo nên một kỳ quan sinh động, thần tiên, đầy sức mê hoặc trên sông Hương, cuốn hút du khách thập phương kéo về chiêm ngưỡng.

Cứ như là Tạo hóa đã cố tình sắp đặt, cồn Hến lại nằm đối diện với thôn Vĩ Dạ, địa danh mà hai thi sĩ Bích Khê và Hàn Mặc Tử cùng ca ngợi tâm đắc trong hai thi phẩm ta đang bàn đến. Trên thực tế,  Cồn Hến là một phần của thôn Vĩ Dạ. Nói đến Vĩ Dạ tức là hàm ý nói đến Cồn Hến.  

Bây giờ, mời các bạn quay về với bài thơ của Bích Khê:  

‘Ti trúc mê li xuân dưới nguyệt

Cỏ hoa vờ vật mộng trong hương…”

Như bất cứ trang quân tử nào, thi sĩ Bích Khê của chúng ta đã về thôn Vĩ Dạ có Cồn Hến thần tiên đã thả hồn theo tiếng sáo trúc mê li, chìm đắm trong đêm xuân, mơ mộng với nguyệt, với cỏ hoa…say đắm đến vờ vật tâm can. 

Chúng ta đã biết bịệt tài dùng từ ngữ của tác giả. “nguyệt”, “cỏ” “hoa” là những từ mang nghĩa bóng rất  hàm súc mà nhiều tác giả vận dụng. Ví dụ, khi ai đó viết “... nơi đấy có nhiều hoa thơm, cỏ lạ” thì nghĩa bóng ai cũng hiểu là “nơi đấy có nhiều cô gái đẹp, quyến rũ”. Hay như Hàn Mặc Tử cũng có câu thơ ví von:

“ Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

   Đợi gió đông về để lả lơi ”

Vậy thì, với lối  ví von “thiên nhiên hóa ”, rõ ràng tác giả Bích Khê đã nói đến hình ảnh sống động ở thôn Vĩ Dạ - Cồn Hến thời đó. Mỗi sáng bình minh hay chiều tà trên mặt sông lấp loáng sương mờ, rất nhiều thiếu nữ trong y phục Eva  đang đùa giỡn cùng sóng nước. Song , với một trạng thái xuất thần, thi sĩ mô tả những hình ảnh đó không như là thực tại, mà đó là ảo mộng thần tiên. “ Cỏ hoa vờ vật mộng trong hương” 

Hai câu cuối bài thơ, thi sĩ gần như đưa ra một kết luận :

 “Tràng An thú  ấy ai không biết

  Vĩ Dạ đêm nay khách chật đường”  

Tràng An là tên gọi chung của các kinh đô. Ở kinh đô Huế này, “cái thú ấy” – tức về Cồn Hến để thưởng ngoạn cảnh và người ấy, xem như một cuộc thưởng ngoạn mà ai đã ở kinh đô đều biết tiếng. Đêm Vĩ Dạ  là đêm hội thực sự, nơi du khách kéo đến “chật đường” để chờ mong thưởng ngoạn thêm một lần quang cảnh thần tiên của Cồn Hến trên sông Hương. 

 Bây giờ, chúng ta hãy đến với bài thơ của Hàn Mặc Tử: 

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

     Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

     Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

     Lá  trúc che ngang mặt chữ điền  …” 

  “Sao anh không về chơi Thôn Vĩ ?”  nghe như một lời mời chào hay như một lời trách móc, quyến rũ khó cưỡng nổi. Song, với các hàng cau và vườn tược thì có gì mà mời gọi đến thế? Cau và vườn thì nhiều nơi trên đất nước ta đều có, chẳng riêng gì ở Vĩ Dạ! Vậy đích thị cái lý do để “khách chật đường” mà Bích Khê trong bài thơ trên đã nói chính là cội nguồn của cảm xúc trong khúc thơ mở đầu này.

Ở đây, Hàn Mặc Tử cũng mượn cảnh nói người như Bích Khê trên kia, muốn lột tả cảm xúc mãnh liệt khi đứng trước quang cảnh thần tiên trong buổi sớm mai của thôn Vĩ Dạ. Xuyên qua hàng cau nhuộm nắng mới lên của bên này thôn Vĩ Dạ, ngắm bầy tiên nữ thóat y đùa nghịch ở bên kia Cồn Hến, chàng thi sĩ không thể không thốt lên “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”! Chúng ta đã gặp đâu đó trong một số bài thơ của thi sĩ những câu thơ bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp tự nhiên của tạo hóa. Ví dụ như “Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”…

Nhưng ở bài thơ  này, tác giả đã rất kín đáo ví von khiến nhiều người ngộ nhận. Nguyễn Du khi mô tả cảnh nàng Kiều tắm, người đã viết : “Rõ màu trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. Các thi sĩ cao tay đều đã dùng một           “đường tơ ” ví von như vậy.  

Tuy say đắm với cảnh, với người đến thế, và mặc dù đang sống trong cái thời đại mà văn hóa Tây phương đã tràn vào các ngõ ngách của cuộc sống, chàng thi sĩ của chúng ta, vốn vẫn còn mang trong mình nét văn hóa Á Đông, đã ngại ngùng, lịch thiệp xòe bàn tay kéo cành trúc lá lưa thưa ra che mặt:

             “ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Che là che cho có  lệ mà thôi, qua các ngón tay xòe ẩn trong cành trúc lưa thưa lá, chàng vẫn không thôi ngắm nhìn đàn tiên nữ bên Cồn Hến đang nô đùa cùng sóng nước. 

Nhưng rồi, nắng cũng lên cao hay trời cũng đã tối, các giỏ hến cũng đã  đầy, vui đùa cũng đã thỏa thích, các thiếu nữ phải về nhà, để lại mặt sông tỉnh lặng với sự ngẩn ngơ, tiếc nuối của khách thơ:  

      “ Gió theo lối gió, mây đường mây

         Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”  

Nhưng bỗng nhiên, một  ước vọng cháy bỏng vụt ập đến với thi nhân, cho dù rất đỗi huyễn hoặc, vô định :

      “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

         Có chở trăng về kịp tối nay …” 

Đến đây, do khuôn khổ của bài viết, chúng ta buộc lòng phải để chàng thi sĩ chìm đắm trong những rung cảm siêu thực nhưng rất riêng tư của chàng trong khổ thơ cuối, để quay về xứ Huế … 

      “Mơ  khách đường xa, khách đường xa

      Áo em trắng quá nhìn không ra

      Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

                             Ai biết tình ai có đậm đà?”

Mối liên tưởng giữa “khách đường xa” thưởng ngoạn với “những Êva Cồn Hến” và tà “áo em trắng quá nhìn không ra” qua cái nhìn nhạt nhòa siêu thực về một Cồn Hến rất thực kia quả đã làm cho bài thơ thanh thoát hẳn lên và gợi mở cho ta nhiều điều thú vị.  

Thôn Vĩ Dạ- Cồn Hến , dù chưa được một họa sĩ tài danh nào vẽ nên bức tranh sống động mô tả trên đây, nhưng địa danh đó đã đi vào thơ ca của hai thi sĩ tài hoa xuất chúng. Với hai trái tim tràn đầy tình yêu, yêu đời, yêu người, cảm nhận tinh tế vẻ đẹp tự nhiên của tạo hóa, Bích Khê và Hàn Mặc Tử đã thổi hồn vào các bài thơ về thôn Vĩ Dạ, làm chúng sống mãi cùng thời gian và in đậm trong tâm tưởng của chúng ta.  
 

Ai đó đã nói rất  đúng: “Nghệ thuật có thể làm ra những vần thơ đẹp. Nhưng chỉ với Tâm Hồn mới làm nên Thi Ca”. Quả thật, thôn Vĩ Dạ đã thực sự đi vào Thi Ca nhờ Bích Khê và Hàn Mặc Tử.  
 

  

                                    NCT- Singapore, 9/5/2010

 

 

Các bài khác:
· CẢM NHẬM BÍCH KHÊ BẰNG THƠ
· NHỚ BÍCH KHÊ VÀ ĐƯỜNG BÍCH KHÊ
· ĐỨNG DƯỚI GÔC NGÔ ĐỒNG Ở NAM KINH NHỚ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ-NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI BA QUA THI PHẨM 'TỲ BÀ'
· THƠ BÍCH KHÊ - ÊM ĐỀM VÀ GỢI CẢM
· BÍCH KHÊ QUA NHÌN NHẬN CỦA ĐINH HÙNG
· "TINH HUYẾT" CỦA BÍCH KHÊ LÀ MỘT TRONG NHỮNG TẬP THƠ LÀM NÊN LỊCH SỬ
· PHẠM DUY VỚI
· BÍCH KHÊ: CÂY ĐÀN MUÔN ĐIỆU
· TINH HUYẾT MỘT THẾ GIỚI THƠ KỲ DỊ
· NGÔN NGỮ THÂN THỂ - MỘT PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA (TRƯỜNG HỢP BÍCH KHÊ)
· GIỚI THIỆU BẢN DỊCH TIẾNG ANH "TRANH LÕA THỂ" CỦA BÍCH KHÊ
· TẢN MẠN VỚI THINH QUANG VỀ BÍCH KHÊ
· ÐỌC THƠ BÍCH KHÊ NGHĨ ÐẾN MỘNG ÐÀI
· BÍCH KHÊ-NHÀ THƠ TƯỢNG TRƯNG TÀI HOA RẤT MỰC
· THI PHÁP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ TRONG MÙA TRĂNG TƯỢNG TRƯNG
· NHÌN LẠI BÍCH KHÊ
· THƠ BỆNH BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - CON CHIM YẾN CỦA THỜI GIAN

 

  
Gia đình Bích Khê