BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
NHỮNG VẬT LIỆU KIẾN TẠO THẾ GIỚI TƯỢNG TRƯNG THƠ BÍCH KHÊ

PHẠM THỊ NHƯ THUÝ

 Thi sĩ Bích Khê

 

I. Những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan  

 

Bích Khê là một nhà thơ theo chủ nghĩa Tượng trưng, vì thế nhà thơ không cảm nhận cuộc đời theo cách thông thường, theo con mắt trần tục mà đi sâu vào cõi vô thức, bằng con mắt của “thế giới tượng trưng”, nhà thơ đã sáng tạo nên một hiện thực - cuộc đời hoàn toàn mới - ở đó cuộc đời tràn ngập hương thơm (“thơm như sữa lúa”), muôn vàn sắc màu (“Muôn sắc màu khoái lạc”) và những âm thanh huyền diệu của những nhạc điệu du dương (“đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới”).

 

Có thể nói, bước vào thế giới tượng trưng của thơ Bích Khê, ta như bước vào một thế giới kỳ ảo luôn vang lên bản giao hưởng tuyệt vời của hương thơm, sắc màu và giai điệu. Nói cách khác, những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan là hương thơm, sắc màu giai điệu.

 

Sắc màu huyền diệu và hương thơm thanh khiết  

 

Hơn cả so với các nhà thơ đương thời, thơ Bích Khê được Hàn Mặc Tử đánh giá cao và các nhà nghiên cứu văn học đã lấy Tinh huyết của Bích Khê để đánh dấu một cái mốc mới của Thơ mới: “Với Tinh huyết, Thơ mới chuyển từ lãng mạn sang tượng trưng và siêu thực… Ở Tinh huyết phần lớn là bí hiểm, nhưng vẫn có thể nhìn thấy trong đó một hồn thơ đắm đuối, cuồng nhiệt. Nhà thơ có nhiều tìm tòi đổi mới thơ ca theo hướng chủ nghĩa hiện đại, đi sâu vào cõi vô thức. Có một số bài, một số câu ý tứ mới mẻ, nhạc điệu du dương...” (Từ điển bách khoa Việt Nam). “Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ làm thơ. Có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực. Lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai” (Chế Lan Viên).

 

Không có đăng đàn tuyên ngôn, nhưng trong tập Tinh huyết, các bài như: Mộng cầm ca, Đôi mắt, Xuân tượng trưng, Duy tân thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mỹ thơ của Bích Khê:

 

“Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

Đêm nay xuân đã lại

Thuần túy và Tượng trưng

 

           (Xuân Tượng trưng)

 

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp - Hạt châu trong -

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng...

...Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theo Ta

Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa

Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy,

Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy

Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương

Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương!

(Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)

Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật,

Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người!...

 

                            (Duy tân)

 

Như vậy, có thể nói “quan điểm thẩm mỹ” của Bích Khê gồm hai xu hướng: “Thuần túy và Tượng trưng” và “Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương”. Bên cạnh sự cách tân theo xu hướng “Hiên đại” đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của thời đại, Bích Khê không lệ thuộc hoàn toàn vào lối thơ tượng trưng của phương Tây mà luôn trở về với cội nguồn Á Đông. So sánh hai thi phẩm của Bích Khê, nhà thơ Quách Tấn đã nhận định: “Tinh huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, còn Tinh hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương”. Cái “sắc thái của Tây phương” đã kết hợp một cách hài hòa với “khí vị của Đông phương” để sinh ra một tiếng thơ đặc biệt “Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy / Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy” mà trong đó có sự phối màu tuyệt diệu với đủ các gam màu:

 

- Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

- Vàng sao nằm im trên hoa gầy

- Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông                 

- Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;

Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi.

- Ô trời hôm nay sao mà xanh?

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành…

- Khung trắng trời mây trắng lạ thường

Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh

- Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

 

                           (Tỳ bà)

 

Nhiều người ca ngợi câu thơ tài hoa Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông. Song, chưa hết, sự tài hoa của Bích Khê còn biểu lộ ở nhiều chỗ khác, chẳng hạn trong bốn câu thơ sau mà ta thấy tràn đầy những hương và sắc: màu xanh của da trời, màu vàng của ánh trăng, màu nhung của mây, sao sáng như kim cương và mùi hương ngào ngạt của dạ lan:

                             

Ôi trời hôm nay sao mà xanh!

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành

Nhung mây tê ngời sao kim cương,

Dạ lan tê ngời say men hương

 

                 (Nghê thường)

 

Nói về sự Giao cảm giữa thơ và họa trong thơ Bích Khê, nhà phê bình văn học Thụy Khuê có những nhận xét rất tinh tế:

 

“Khó phân biệt được lúc nào ông dùng bút để viết, lúc nào ông vung cọ để vẽ, lúc nào ông vung đũa để đánh nhạc. Và cũng cần phân biệt nhạc trong thơ Bích Khê khác với nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử : nhạc trong thơ Hàn là nhạc thầm trong mỗi chữ, nhạc trong thơ Bích Khê là nhạc nổi trong thanh âm lạ, âm bằng. Ở những bài thật hay, thơ Bích Khê là sự hoà âm giữa các điệu nhạc cổ, như điệu hoàng hoa, điệu mộng cầm, bằng những màu sắc tân kỳ của hội họa hiện đại :

 

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;

Xanh nhung ô! màu phơi nơi nơi.

Vàng phai nằm im ôm non gầy;

Chim yên eo mình nương xương cây.

Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:

Đông nam mây đùn nơi thành xa...

Oanh già theo quyên quên tin chàng!

Đào theo phù dung: thư không sang!

Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi:

Làm trăng theo chàng qua muôn nơi;

Theo chàng ta làm con chim uyên;

Làm mây theo chàng bên nhung yên.

Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,

- Hồn ta? hay là hồn tình lang?

Non Yên tên bay ngang muôn đầu...

Thâm khuê oan gì giam xuân sâu?

- Ai xây bờ xanh trên xương người?!

- Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?!

 

                     (Hoàng hoa)

 

Bài Hoàng hoa thể hiện rõ sự giao cảm giữa hai ngành nghệ thuật: thơ và họa. Nhà thơ như một cánh chim, bay qua các khung cảnh khác nhau, trình bày trước mắt ta những bức tranh khác nhau, trong cùng một khoảnh khắc, Vàng phai nằm im ôm non gầy/ Chim yên eo mình nương xương cây/ Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa/ Đông nam mây đùn nơi thành xa...

 

Những bức tranh trên đây, phần nhiều là ấn tượng, chỉ khơi gợi một cảm xúc, mà không mô tả, ví dụ, trong bức: Vàng phai nằm im ôm non gầy, chúng ta không thể thấy rõ hiện tượng vàng phai nằm im ôm non gầy, như thế nào, mà chỉ mơ hồ cảm thấy một ấn tượng nào đó.

 

Những câu thơ tiếp theo cũng thế: Chim yên eo mình nương xương cây, rồi đến Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa/ Đông nam mây đùn nơi thành xa, là những bức tranh gây ấn tượng lãng mạn.

 

Cảm tưởng mờ sương tỏa lên từ những bức tranh ấy, trong câu Vàng phai nằm im ôm non gầy, thì sự mờ sương toả ra ở những chữ vàng phai nằm im. Ai nằm im? - một màu nằm im. Và màu gì? - màu vàng. Nhưng không hoàn toàn là màu vàng mà màu vàng phai.

 

Ai biết và ai có thể định nghĩa được màu vàng phai ấy như thế nào, để trải sự vàng phai đó “nằm im” trên “non gầy”, lại đến thắc mắc: non gầy như thế nào? - nếu không phải là họa sĩ, thì không thể biết cách vẽ những hình ảnh ấy. Vậy sự khơi gợi hình ảnh trong thơ Bích Khê bắt nguồn từ hội họa, từ cách tạo ấn tượng trong lòng người xem, người đọc thơ. [(Thụy Khuê: Nhạc và họa trong thơ Bích Khê)]. Sẽ không có sự phối màu tuyệt diệu đó nếu không có ánh sáng, hay nói cách khác, ánh sáng đã tạo nên sự phối màu tuyệt diệu đó. Và thế là trong những câu thơ của Bích Khê luôn tràn ngập ánh sáng: ánh sáng phát ra từ bàn tay búp sen của giai nhân “đi trong chiêm bao ẻo lả”, biến thành cái nhìn ảo giác chỉ có trong tưởng tượng huyền diệu:

 

Tay búp sen kẻ lên vàng óng ả

Những đường thêu kim tuyến rúng đêm huyền.

 

                              (Đồ mi hoa)

 

Ánh sáng phát ra từ:

 

Ôi! cặp mắt của người trong tựa ngọc

Sáng như gươm và chấp chóa kim cương!

Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp

Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.

 

                          (Cặp mắt)

 

Ánh sáng tràn ra từ bước chân thiếu nữ, đẹp như chuyện thần tiên:

 

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

 

                        (Nàng bước tới…)

 

Và ngay cả khi “chàng Lãng Tử” u buồn thì ánh sáng vẫn bừng lên:

 

Đây chàng Lãng Tử buồn rơi lệ

Miệng cứng hào quang chảy tợ vàng...

 

                        (Sầu lãng tử)

 

Có thể nói, ánh sáng là một phần đặc biệt quan trọng trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê và không gian thơ của Bích khê luôn ngập tràn ánh sáng “Cả không gian là bể sáng tràn lan”. Ánh sáng như là có phép nhiệm màu đã khiến những câu thơ của Bích Khê luôn lấp lánh, lung linh, ngời sắc, kể cả khi màn đêm bao phủ, ánh sáng cũng không hề bị triệt tiêu mà thật ám ảnh:

 

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Một chút trăng say đọng ở làn môi.

 

                    (Tranh lõa thể)

 

Thậm chí, ngay cả khi tâm tư Bích Khê ở trong trạng thái tĩnh lặng nhất, lòng lắm nỗi bất an, nhiều băn khoăn bởi những nỗi buồn mông lung, xa vắng:        

                 

Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh

Anh có khi nào trở lại chưa?

Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc

Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.

 

                      (Làng em)  

 

Song nỗi buồn ấy cũng không giam cầm được tâm hồn nhà thơ mà trong những bước chuyển của mùa thu cô quạnh vẫn hừng sáng ánh biếc của dòng sông bí ẩn, mênh mang, lan tỏa... Hai câu thơ: “Ngày đi chậm lắm. Giồng sông biếc - Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa là những câu thơ tả cảnh tả tình tuyệt bút của đóa hoa thần diệu thơ Bích Khê. Đó chính bởi Bích Khê luôn hướng thơ mình về phía ánh sáng - thứ ánh sáng khởi nguồn của sự sống.Thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê không chỉ đa dạng, phong phú về sắc màu mà điều quan trọng là cái thế giới muôn vàn sắc màu đó ngào ngạt hương thơm.

 

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Nhựa đương lên: sức mạnh của lòng thương;

Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa;

Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương;

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;

Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương.

 

                           (Mộng cầm ca)

Thạc sĩ lý luận văn học Phạm Thị Như Thuý (Doãn Thuỵ Như)

 

Những bài thơ như Nàng bước tới, Nhạc, Xuân tượng trưng, Châu… tràn ngập những hình ảnh nhạc thơm, nắng thơm, khí trời thơm, hoa thơm, cỏ thơm, nụ cười:

 

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

Là nơi đây đoàn tụ nhạc mười phương

Ứ thành xuân cho niên hoa bất tuyệt.

 

                       (Nàng bước tới)

 

Trăng gây vàng, vàng gây nên sắc trắng

Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.

Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng

Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

Của hồn thu đi lạc ở trong mơ…

 

                        (Mộng cầm ca)

 

Một mùi hương rất đặc biệt là Hương thơm của da thịt của người con gái “Nàng là hương hay nhan sắc lên hương”, “Hương da thịt còn thơm hơn chất xạ” (Lõa thể), một mùi thơm quyến rũ: “Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức” (Chân):

 

Có cặp lông mày phớt ráng đêm

Dậy như men rượu gợi mơ thèm

Có gì uyển chuyển trên da thịt

Nức một đường thơm một điệu êm

 

                          (Châu)

 

Hay:

 

Gió thiệt đa tình hôn mặt hoa

Thơm tho da thịt bắt say ngà

 

                  (Hiện hình)

 

Những cặp môi cười gươm sắc lẹm

Chóa lên không khí dội hương vang.

 

                           (Mộng lạ)

 

Điều đặc biệt là, mùi hương ấy vang xa chứ không bay xa: “dội hương vang”. Đây lại là một kiểu tư duy lạ của Bích Khê. Không chỉ có vậy, lời nói cũng “nức ra hơi hương”, mỗi cái “liếc yêu” cũng “phảng phất mùi hương”, đến cả “hồn tôi” cũng “như đỉnh hương”… Có thể nói, thiên nhiên, vũ trụ mở ra trước mắt Bích Khê, đâu đâu cũng ngây ngất mùi hương. Tại sao lại như vậy? Bởi nhà thơ đã thu được linh khí của đất trời, nhựa sống của vạn vật. Song, cái chết cũng có mùi thơm thì quả là chỉ có ở thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê: thế giới của Sọ người, Nấm mộ…

 

Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!

Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!

Ôi bình vàng! ôi chén ngọc đầy hương!

Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!

Ôi thần tình! Người chứa một trời thương.

 

                               (Sọ người)

 

Một đêm vàng - một đêm vàng âm điệu

Đầy nhựa thơm, xanh mịt ngàn phi lau

Mộng ngời lên bay đến một bến tàu -

Biển ngọc bích, thuyền buồm say sóng dịu;

Hương ngọt ngào, ánh sáng chớp mau mau.

 

                               (Nấm mộ)

 

Nhạc điệu du dương

               

Đặc điểm nổi bật của thơ tượng trưng là đề cao tính nhạc. Baudelaire - người mở đầu cho thơ tượng trưng gọi vũ trụ là “Rừng biểu tượng”, là những tương ứng theo trục dọc và trục ngang: “Hương thơm, màu sắc, thanh âm tương ứng nhau”. Thơ phải gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể (Verlaine). Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như một bản hòa âm huyền ảo. Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc. Mỗi bài thơ phải là một bản nhạc. Với Bích Khê, điệu nhạc của những vần thơ, những “lời ca man dại” được thi sĩ rút tỉa ra từ chính thiên nhiên:

 

Hỡi lời ca man dại

Điệu nhạc thở hơi rừng

 

     (Xuân tượng trưng)

 

Hồn thơ Bích Khê đã thăng hoa bởi Tình yêu cuộc sống, yêu tới mức nhà thơ muốn thu vào mình mọi sắc hương, thanh âm của thiên nhiên, vũ trụ. Vì thế, mọi sắc hương, âm thanh của cuộc sống bước vào thế giới thơ Bích Khê đều trở nên lung linh, huyền diệu, đặc biệt là “Điệu nhạc thở hơi rừng”. Bích Khê đặc biệt đam mê âm nhạc và âm nhạc đã trở thành nét chủ đạo trong bản giao hưởng thơ tuyệt vời của ông. Âm nhạc với những biến tấu kỳ ảo của nó đã tạo nên một giọng điệu riêng trong thơ Bích Khê. Âm nhạc, với Bích Khê, không chỉ nghe bằng thính giác mà còn có thể cảm nhận bằng mọi giác quan. Sự tương giao cảm giác này là một sáng tạo độc đáo của thơ Bích Khê. Bằng thơ, Bích Khê đã đưa người đọc đến với một không gian âm nhạc giàu có với những giai điệu lung linh, với những biến hóa kỳ ảo. Giai điệu ấy có thể là hương thơm, là màu sắc:

 

Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,

Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm

…      

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! - hớp nhạc đầy hương.           

 

                                 (Nhạc)

 

Là đường nét với những “điệu ca thần diệu vẳng đưa lên” qua hình ảnh “cung thiềm vắt vẻo cài lên mây” (Nghê thường) bay bổng, lãng mạn và tình tứ với cái hé môi quyến rũ của người con gái có đôi môi mọng ngọt:

 

Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc

Mát như xuân và ngọt tợ hương.

 

                    (Hiện hình)

 

Đó là giai điệu của tình yêu với những cung bậc khác nhau của cảm giác được diễn tả thật tinh tế:

 

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

 

                           (Tỳ bà)

 

Tại sao hầu như bài thơ nào của Bích Khê cũng có tiếng nhạc? Bởi cả thiên nhiên đầy ắp nhạc: “Nhạc thiên nhiên nhạc đầy pha lê” (Lên Kim Tinh). Giai điệu của âm nhạc là hơi thở, là nhịp đập của con tim nhà thơ Bích Khê và với sự nhạy cảm tuyệt vời, nhà thơ đã sáng tạo nên những giai điệu đẹp cho thơ, làm nên những hình ảnh mới lạ độc đáo, làm nên âm nhạc - thơ mang tên Bích Khê:

 

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái

Người họa điệu với thiên nhiên ân ái

 

                          (Duy tân)

 

Cái độc đáo trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê là khi ông lấy một hình ảnh vừa cụ thể vừa trừu tượng “lòng trai ấp mái” nói về một hình ảnh cũng vừa cụ thể vừa trừu tượng là âm nhạc, để rồi từ đó đọc ra bản hòa ca tuyệt diệu của cuộc sống: “Người họa điệu với thiên nhiên ân ái”:

 

Thơ bay; thơ bay vô bàn tay ngà,

Thơ ngà ngà say! thơ ngà ngà say!

Nàng ơi đừng động... có nhạc trong giây

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây,

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương

 

                                (Nhạc)

 

Về nguyên tắc mỹ học, thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp. Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương quan bí ẩn. Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt. Có sự tương giao về ý niệm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng - bóng tối, có sự tương giao về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao về mùi vị: trong - ngọt... Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí (Baudelaire).

 

Những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê  được thể hiện ở những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan thể hiện rõ  ở những câu thơ tương hợp. Câu thơ tương hợp là loại hình câu thơ hàm chứa nhiều phạm trù khác nhau của cuộc sống. Loại hình câu thơ này là kết quả của quá trình ảnh hưởng thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng. Trước hết là câu thơ thể hiện sự tương hợp giữa các giác quan, chẳng hạn như trong câu thơ: Cây du dương lâu đài song sóng. Để viết được câu thơ này, Bích Khê đã sử dụng cả thị giác và thính giác: vừa thấy lại vừa nghe, thấy cây giống lâu đài song sóng, nghe cây phát nhạc du dương. Vì vậy mà cái được biểu đạt của khái niệm “cây” có khả năng đánh thức cùng một lúc thị giác và thính giác người đọc.

 

Trong bài thơ Tranh lõa thể, Bích Khê viết:

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,

Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

 

                      (Tranh lõa thể)

 

Đó là sự tương hợp giữa các giác quan - cả thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác - cũng chính là sự tương hợp giữa các đối tượng của chúng. Do đó mà âm thanh, màu sắc, hương thơm, cơ thể… có thể hòa hợp trong một thực thể. Đối tượng phản ảnh của thơ ca được hiện lên nhiều chiều, nhiều sắc thái, câu thơ lúc đó trở nên sống động và quá trình tri giác nghệ thuật cũng trở nên phong phú và hấp dẫn.

 

Thuyết tương hợp mở ra một hướng nhìn nhận đa diện về sự vật, số những trực quan sinh động do ngũ quan đưa lại về một sự vật hiện tượng sẽ cho ra một phán đoán chính xác hơn của một giác quan đem lại. Thuyết tương hợp không chỉ là một cố gắng tâm linh mà còn là một thực tiễn lý luận khoa học giúp con người khắc phục được sự đơn điệu và phiến diện trong việc khám phá mọi lĩnh vực đời sống.

 

Trong phần tìm hiểu những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan, luận văn có chia ra làm hai mục sắc màu - âm thanh và nhạc điệu, song sự phân chia đó chỉ là tương đối bởi cả ba vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê được nhận biết bằng ngũ quan đó luôn quấn quýt, đan xen, kết hợp với nhau, thậm chí hòa tan vào nhau mà thành hình tượng thơ tượng trưng của Bích Khê:

 

Tiếng ngọc, màu trăng quấn quýt nường

Phút giây người lộ mỏng như sương.

- Nường tan ra nhạc? - tan ra nhạc!

Khung trắng trời mây trắng lạ thường!

 

                          (Hiện hình)

 

Hầu như các nhà nghiên cứu đều nhận xét, tính nhạc là điểm nổi bật trong thơ Bích Khê, ở khắp các trang thơ Bích Khê đều vang lên những giai điệu phong phú đến không ngờ. Về tính nhạc trong thơ Bích Khê, luận văn sẽ trở lại ở mục 1 của chương 3 với sự tìm hiểu kỹ hơn về một quan niệm mới của Bích Khê về nhạc của thơ, trong thơ.

 

Tiềm năng tượng trưng của vật liệu

 

Bằng cái nhìn của mỹ cảm tượng trưng và có cả siêu thực, Bích Khê nhìn cuộc đời, con người và thi ca ở phía không hiện hữu - cái phía luôn bị che khuất, cái phía mà người ta dễ bỏ qua vì phải công phu tìm kiếm - và ở đó Bích Khê đã gặp Nàng Thơ của mình. Hình tượng cuộc đời “thơm như sữa lúa” với “muôn sắc màu khoái lạc”“những hương thơm thanh khiết”, con người “chứa một trời thương” với tình yêu cuộc sống và tình yêu nghệ thuật, thi ca “những rung động truyền thần” với “đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới”“những lời thơ lóng đẹp hạt châu trong” hiện lên lung linh, kỳ ảo qua tư duy nghệ thuật tinh tế và giàu sức tưởng tượng của nhà thơ. Có được như vậy là bởi Bích Khê đã tích hợp được những tinh túy của tư duy nghệ thuật phương Tây hiện đại và nền tảng tư duy nghệ thuật phương Đông truyền thống “Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương!”.

 

Ở một khía cạnh khác, Bích Khê sử dụng thuyết tương hợp để đi đến việc thống nhất của các hoạt động nghệ thuật lại với nhau. Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa, kiến trúc, vũ điệu… vào trong thơ, khiến thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc điệu, bức tranh, lâu đài…; ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là âm thanh, màu sắc đường nét của hội họa:

 

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mát

Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong…

 

Những lời thơ lóng đẹp hạt châu trong đó có lúc được nhận biết bằng từng giác quan, có lúc được cảm nhận đồng thời nhiều giác quan:

 

“Gió đi chới với trong khung trắng

  Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca”

“Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc

  Mát như xuân mà ngọt tợ hương”,

“Rào rạt như nỗi cảm thương

  Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt nường”

“Nàng tan ra nhạc? Tan ra nhạc!

  Khung trắng trời mây trắng lạ thường”...

 

Ngôn ngữ lúc này không chỉ là một phương tiện mà trở thành cứu cánh của thơ nhờ vẻ đẹp của sự giao thoa của các loại hình nghệ thuật. Như vậy, có thể nói, tiềm năng tượng trưng của những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan để kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê là vô cùng rộng mở, có thể tới vô hạn.

 

 Lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất của thi sĩ Bích Khê (1946-2016) tại TP.HCM

 

II. Những vật liệu được nhận biết bằng trực giác

 Có thể nói, quan niệm về thơ, Bích Khê cho rằng, thơ phải là nhạc, là họa, là điêu khắc, là nhiếp ảnh, là vũ đạo, là tổ hợp của nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Thơ phải là “một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy”. Duy tân là bài thơ Bích Khê nói lên đầy đủ nhất ý tưởng ấy của ông. Bích Khê không muốn thơ chỉ là tiếng nói một chiều của cảm xúc, ông muốn thơ phải mang đến cho người đọc những rung động thẩm mỹ đa chiều…

 

Thế giới tượng trưng là thế giới bí ẩn, vô hình

 

Khi tự nhiên tương giao qua trực giác của con người thì con người cảm nhận nó bằng trực giác bí ẩn về mối quan hệ tương hợp ấy, và nó không còn là đối tượng khách quan nữa mà đã hòa hợp với chủ thể thẩm mỹ của nhà thơ để hóa thành một thế giới tự nhiên khác với muôn vàn hình ảnh sắc màu mới mẻ.

 

Nhà thơ tượng trưng Pháp Valery nói: “thơ là nguồn hoan lạc cho trí” - chính là trực giác của tượng trưng. Vai trò chủ đạo trong nhận thức và sáng tác nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng là trực giác - đó là sự bừng ngộ thần bí, với sự khải thị, với trạng thái kích động cao. Và lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca, chủ nghĩa tượng trưng đã “thơ hóa” cả cái xấu và cái ác - đó là tập thơ Những bông hoa ác của nhà thơ tượng trưng Pháp Baudelaire.

 

Chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy được. Cái thế giới không nhìn thấy được đó mới chính là bản thể của thế giới. Cho nên, nhà thơ phải đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình không nhìn thấy ấy.

 

Với Bích Khê, sự tương giao ấy đã khiến ông đưa hẳn một chân sang phía trực giác của tượng trưng còn một chân vẫn đứng nguyên bên bờ lãng mạn. Và có lẽ chính vì thế mà ta thấy ở tập Tinh hoa xuất bản sau này, cái chân đưa sang tượng trưng của Bích Khê lại kéo gần lại bờ lãng mạn hơn so với Tinh huyết.

 

Nói về khả năng trực giác của Bích Khê, Hàn Mặc Tử trong Lời tựa Tinh huyết đã viết: “Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ…”. Nói về khả năng trực giác của một nhà thơ cũng có nghĩa là nhà thơ ấy đã thể hiện mình trong sự tương giao với thiên nhiên, vũ trụ như thế nào? Bài thơ Hiện hình  trong Tinh huyết của Bích Khê thể hiện rõ sự tương giao giữa “con người tượng trưng” của Bích Khê và thế giới.

 

Trong Hiện hình, trước tiên là sự tương giao giữa vũ trụ và con người  “Gió đa tình hôn”, “Gió đi chới với”, “mặt hoa thơm tho mùi thịt”, “người thiếu nữ hiện trong trăng”, “da thịt ý tuyết băng”, “mát như xuân”, “người lộ mỏng như sương”, “khung trắng trời mây trắng”.

 

Tiếp đó là sự tương giao giữa các giác quan: “thơm tho mùi thịt”, “da thịt phô bày”, “ngọt tợ hương”, “rào rạt nỗi cảm thương”.

 

Rồi đến sự tương giao về màu sắc: “khung trắng”, “khăn hồng”, “màu trăng”, “mây trắng”...

 

Nhưng tới đây, ta cũng chỉ mới thấy sự tương hợp này bằng trực cảm. Nếu bằng trực giác thì ta sẽ tìm ra sự tương ứng khó lòng mà phân biệt rạch ròi. Đó là một sự tương giao tổng thể. Tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, họa và nhạc, hương, vị... và cả mọi giác quan:

 

“Gió đi chới với trong khung trắng

  Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca”

“Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc

  Mát như xuân mà ngọt tợ hương”,

“Rào rạt như nỗi cảm thương

  Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt nường”

“Nàng tan ra nhạc? Tan ra nhạc!

  Khung trắng trời mây trắng lạ thường”...

 

Đó là sự tương giao chồng chéo, quấn quýt với nhau không dễ tách bạch, ta chỉ có thể nhận ra sự Hiện hình này bằng trực giác.

Nhà nghiên cứu Phạm Thị Như Thuý (Doãn Thuỳ Như) và nhà báo Liên Chi

 

Thế giới tượng trưng là thế giới của âm thanh hòa điệu cùng sắc màu, hương thơm

 

Các nhà nghiên cứu thơ Bích Khê dường như đều gặp nhau ở nhận định: thơ tượng trưng của Bích Khê gợi lên sự tương ứng giữa hương thơm, màu sắc, âm thanh. Ở những bài thơ như Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nhạc, Thi vị, Hiện hình... khó có thể tách bạch đâu là hương thơm, màu sắc, âm thanh bởi tất cả đã tạo nên một sự hòa hợp, tương ứng dệt nên những hình ảnh, điệp ngữ, liên tưởng trùng phức đầy ám gợi và mê hoặc:

 

Cả không gian là bể sáng tràn lan…

 

                         (Đồ mi hoa)

 

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong.

 

                              (Duy tân)

 

Nguyên lý chi phối bút pháp cách tân trong thơ Bích Khê là đi tìm "cái thống nhất của hỗn độn". Bích Khê đã điều khiển những con chữ một cách tài tình, đưa ngôn ngữ thơ đến cuộc hôn phối thần kỳ, cuộc hòa điệu ngoạn mục với những bộ môn nghệ thuật khác. Ngoài kiến trúc là điêu khắc:

 

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mát

Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong…

 

Ngôn ngữ thơ Bích khê được khai thác dưới góc độ đường nét và màu sắc đã làm cho thơ ông chứa đầy họa tính. Điều này thể hiện khát vọng của thi nhân muốn đưa thi ca vươn đến tìm tiếng nói chung với nghệ thuật hội họa:

 

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc

 

Với Tranh lõa thể, thơ không còn là thơ mà là âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc theo một phong cách riêng, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ mà là thanh âm, màu sắc, đường nét, hương thơm. Đây chính là đỉnh cao của nghệ thuật siêu thần, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết Đông - Tây mà cụ thể là cái nhìn thâm hậu phương Đông trên cơ sở của thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Điều làm nên đỉnh núi lạ giữa cánh động thi ca Việt Nam chính là ở chỗ Bích Khê kết hợp tinh hoa hai nền văn hóa và thi ca ấy.

 

Có thể nói, quan niệm về thơ, Bích Khê cho rằng, thơ phải là nhạc, là họa, là điêu khắc, là nhiếp ảnh, là vũ đạo, là tổ hợp của nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Thơ phải là “một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy”. Duy tân là bài thơ Bích Khê nói lên đầy đủ nhất ý tưởng ấy của ông. Bích Khê không muốn thơ chỉ là tiếng nói một chiều của cảm xúc, ông muốn thơ phải mang đến cho người đọc những rung động thẩm mỹ đa chiều.

 

Nếu như ở bài Hiện hình, sự tương giao tổng thể kia dựa trên cái phông nền là màu trắng thì ở bài Tỳ bà là màu vàng, và hiệu quả nghệ thuật của màu vàng xem ra còn mạnh hơn. Bích Khê, bằng trực giác của mình như là đã quên đi mọi hình ảnh cụ thể sinh động của thiên nhiên mùa thu mà đi vào phía tiềm ẩn của mùa thu tượng trưng để tiến đến sự hiển hiện một biểu tượng “vàng” trực giác bằng ý niệm:

 

“Ô! hay buồn vương cây ngô đồng

  Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”

 

Ta không hề thấy ở đây một hình ảnh cụ thể nào của mùa thu trong thiên nhiên nhưng tâm trí thì như đang bay lượn trong mùa thu tượng   trưng ngợp vàng, mênh mang... bởi chỉ có hình ảnh “cây ngô đồng”, nhưng cái cây ấy đã bị bao trùm bởi nỗi “buồn vương” như là đã xóa nhòa mất chính nó, chỉ còn có ý niệm “buồn”. Và “Vàng rơi! Vàng rơi!” chính là trực giác tượng trưng chỉ biết có “Vàng”. Vàng Rơi và rơi liên tục, cấp tập từ hư không những vàng là vàng, và vì thế nên “thu mênh mông” trở thành thu mơ hồ trong ý niệm - mùa thu trong thiên nhiên đã trở thành mùa thu tượng trưng:

 

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi ! nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Tôi qua tim nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

 

                           (Tỳ bà)

 

Tiềm năng tượng trưng của vật liệu

 

Không chỉ ở hai bài thơ Hiện hìnhTỳ bà vừa dẫn trên ta mới thấy tiềm năng tượng trưng của trực giác trong thơ Bích Khê, mà có thể nói hầu như toàn bộ thơ Bích Khê đều thể hiện tiềm năng ấy. Nếu không có một khả năng trực giác mạnh mẽ không thể sáng tạo được những câu thơ giàu nhạc tính và cũng lung linh sắc màu, vô cùng sống động như trong bài Nghê thường:

 

Ô trời hôm nay sao mà xanh!

Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,

Nhung mây tê ngời sao kim cương,

Dạ lan tê ngời say men hương;

Lầu ai ánh gì như lưu ly?

Nụ cười ai trắng như hoa lê?

Thủy tinh ai để lòng gương hồ?

Không gian xà cừ hay san hô?

           

Và khi năng lực trực giác mạnh mẽ  đó của Bích Khê gặp được “chân lý ngời ra như lưỡi kiếm”, khi tình yêu của Bích Khê “xô dồn sang cực điểm” thì thơ của chàng sẽ tỏa hào quang trong cái cảnh tượng thần tiên “Và hào quang khiêu vũ với hào quang”:

 

Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân

Xác là mộng mà tình là tuyệt đích

Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch

Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao

Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao

Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm

Cho tình ta xô dồn sang cực điểm

Và hào quang khiêu vũ với hào quang...

 

                   (Nàng bước tới)

 

Như vậy có thể nói tiềm năng những vật liệu kiến tạo thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê - những vật liệu được nhận biết bằng ngũ quan - thật là vô biên!

III. Những vật liệu được nhận biết bằng học vấn

 

Trong Thơ mới, Bích Khê là nhà thơ có ngôn ngữ thân thể táo bạo nhất, mới mẻ nhất. Tất cả các phần thân thể trong thơ Bích Khê đều trở thành ngôn ngữ của đam mê, khoái lạc, của mơ mộng, ước ao, của cái đẹp trong trắng và vĩnh viễn. Đó không phải là ngôn ngữ duy nhất vì còn có ngôn ngữ vũ trụ, ngôn ngữ thiên nhiên, song đó là phần ngôn ngữ đặc sắc nhất…

 

Học ở chủ nghĩa tượng trưng

 

Khi các nhà thơ của Phong trào Thơ mới Việt Nam (1932 - 1945) còn chưa hết say đắm với chủ nghĩa lãng mạn thì chủ nghĩa tượng trưng phương Tây đã gần đi hết con đường của nó. Tuy nhiên, do nhận thức nhạy bén với những trào lưu hiện đại của nghệ thuật phương Tây, Bích Khê đã nhanh chóng tiếp cận và học hỏi được rất nhiều ở chủ nghĩa tượng trưng, trong khi vẫn còn một chân đứng trên chủ nghĩa lãng mạn. Vậy ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Bích Khê đã diễn ra như thế nào?

 

Chủ nghĩa tượng trưng chủ trương thể hiện thế giới và sự vật không phải bằng những hình ảnh trực tiếp mà bằng những hình ảnh gián tiếp có tính cách gợi ra những ý niệm tương đương về thế giới, về sự vật. Theo quan điểm của các nghệ sĩ thuộc trường phái tượng trưng, thế giới, vũ trụ đều hiện ra dưới hình thức các biểu trưng. Bởi vậy, nghệ thuật muốn phản ánh thế giới phải tìm ra những "hiện thực ẩn giấu" bằng những suy tư triết học của người nghệ sĩ và thể hiện qua các biểu trưng thẩm mĩ.

 

Nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng là tính cách biểu trưng nghệ thuật cho các “vật tự nó” và các ý niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính. Biểu tượng nghệ thuật được xem là công cụ hữu hiệu hơn hình tượng để chọc thủng cái vỏ quen thuộc hàng ngày nhằm vươn tới cái bản chất lý tưởng siêu thời gian của thế giới - cái vẻ đẹp siêu nghiệm. Các yếu tố then chốt của Chủ nghĩa tượng trưng là trực giác, âm nhạc, trữ tình. Nghệ thuật chủ trương dùng những hình tượng đặc biệt để biểu hiện bản chất sự việc, những tình cảm, những điều bí ẩn mà cảm giác không nhận thức được.

 

Chống đối xã hội tư sản nhưng mang nặng một quan niệm bi đát về xu thế của cuộc sống, Chủ nghĩa tượng trưng chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật” và tự đặt tên là “suy đồi” (từ của Veclen), tức chống lại chủ nghĩa thực dụng và các nghệ thuật thời thượng. Morêa (J.Moréas), người đứng đầu trường phái tượng trưng Pháp đã viết tuyên ngôn của trường phái này (1886). Các đại biểu lớn của trường phái tượng trưng: Veclen (P.Verlaine), Ranhbô (A.Rimbaud), Bôđơle (Ch.Baudelaire), Lôtơrêamông (I.D.Lautréamont) và sau này là Clôđen (P. Claudel) và Valêry (P.A.Valery); Mateclinkơ (M.Maeterlinck), Êliơt (T.S.Eliot; Anh), Rinkơ (R.M.Rilke), Blôc (A.A.Blok), Bêlưi (A.Belyj), Paođơ (E.Pound). Trong nghệ thuật tạo hình có Gôganh (P.Gauguin), Vruben (M.A.Vrubel'), v.v… 

 

Bích Khê gọi Baudelaire là “Vua Thi sĩ”, vì ông đã học được bao nhiêu mùi thi vị ở tác giả Những Bông Hoa Ác (Les Fleurs du Mal):

 

Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con

Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non

Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy lạc

- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng

Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm

Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác

 

               (Bản dịch của Vũ Đình Liên)

 

Và Bích Khê muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày). Sự ảnh hưởng từ Baudelaire đến Bích Khê là rất rõ. Ngoài Baudelaire còn là sự ảnh hưởng của “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry”.

 

Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”. Họ Hàn cho rằng thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc của bạn mình, Họ Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”. Đó là sự khẳng định rõ ràng thơ Bích Khê là thơ tượng trưng. Cần có sự khẳng định như vậy vì thời gian đó, ở Bình Định có cụm từ “Trường thơ Bình Định” có ý chỉ nhóm tứ kiệt gồm 4 nhà thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn và Bích Khê có cùng một xu hướng, trường phái sáng tác. Nhưng thực ra không phải như vậy, họ chỉ chơi với nhau chứ không thành một xu hướng, trường phái, mà họ Hàn thì chủ trương “Thơ Điên”, họ Chế chủ trương “Thơ Loạn”, thi sĩ họ Quách hoài cổ, còn Bích Khê là thơ Tượng trưng.

 

Nhà nghiên cứu Mai Bá Ẩn [6, Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng, phongdiep.net, 2011] nhận xét khá chính xác về thơ tượng trưng của Bích Khê: Còn Bích Khê thì một chân trụ vững ở bờ chủ nghĩa lãng mạn nhưng một chân kia đã đưa sang và gần chạm đến bờ (một tay níu giữ bên này để một tay trườn sang bên kia) tượng trưng chủ nghĩa một cách có chủ ý, ngay từ đầu cầm bút. Đây mới chính là tâm điểm để ta nhận ra biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ lãng mạn 1932 - 1945. “Tính chất uẩn khúc, huyền ảo, siêu thực trong thơ tượng trưng đã được Bích Khê thể hiện qua hàng loạt các bài thơ trong tập thơ Tinh huyết (Duy Tân, Tranh loã thể, Giờ trút linh hồn). Có thể nói “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry” đã tạo dựng cho Bích khê một thứ “thơ vàng ròng” đậm tính tượng trưng... Ba yếu tố tượng trưng, huyền diệu, trụy lạc của tập thơ Tinh huyết đã làm cho Bích Khê trở thành một cây bút khác hẳn với khuynh hướng lãng mạn”.     

 

Theo Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, thơ mới Việt Nam có hai làn sóng. Làn sóng thứ nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết diễn đạt cái tương hợp. Bích Khê là nhà thơ mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự đối nghịch, vừa là sự tương hợp. (Trong bài: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp nửa đầu thế kỷ XX”: Đỗ Đức Hiểu: Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, H.1999, tr.153-154).

 

Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và là một quan điểm triết học - mỹ học xuất hiện cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Vì thế, nó là một thuật ngữ nhiều nghĩa để chỉ một trào lưu không thuần nhất. Tháng 9/1886, chủ nghĩa tượng trưng ra đời ở Pháp với bản “Tuyên ngôn tượng trưng” của Jean Moreas đề xuất một quan niệm thi ca mới nhằm phản ứng lối thơ thiên về chạm trỗ, trau chuốt ngôn từ của phái Thi sơn (Parmasse) và cách làm thơ quá dễ dãi của trường phái lãng mạn. Họ quan niệm: thi ca tượng trưng biểu hiện trước hết “những tư tưởng nguyên uỷ”, nó là kẻ thù của “sự mô tả khách quan”. Hình tượng tượng trưng là đa nghĩa, bất định, nó ghi nhận sự tồn tại của “khu vực bí ẩn” (Mallarmé), của “những cái vô hình và những thế lực định mệnh” (Maeterlinck), thơ “trước hết phải có nhạc tính” do âm nhạc hơn hẳn các nghệ thuật khác trong việc truyền đạt những sắc thái, những bán âm (Verlaine).

 

Quan niệm tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp của các khách thể và hiện tượng mà trước hết có khả năng truyền đạt “nội dung thể nghiệm của ý thức” (A.Belyi). Do vậy, ở những tác phẩm tượng trưng biểu tượng vật thể thực được đan bện chặt với các thủ pháp ấn tượng.

 

Nguyên tắc mỹ học của thơ tượng trưng là: nếu như thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản thì thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp. Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương quan bí ẩn. Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt. Có sự tương giao về ý niệm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng - bóng tối, có sự tương giao về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao về màu vị: trong - ngọt... Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí (Baudelaire).

 

Chủ nghĩa tượng trưng tương giao với vũ trụ, thiên nhiên bằng trực giác qua lối thể hiện bằng biểu tượng phi cụ thể. Valery nói: thơ là nguồn hoan lạc cho trí” chính là trực giác của tượng trưng.

 

Mở đầu trường phái tượng trưng Pháp là Baudelaire với tập “Những bông hoa ác”. Tập thơ ra đời năm 1887 đã làm chấn động dư luận Pháp, đã bị tòa kết án vì lần đầu tiên ông đã thi vị hóa cái Xấu, cái Ác. Còn Bích Khê thực sự đã thi vị hóa cái tội lỗi, nhuốc nhơ, rùng rợn thành cái cao siêu, nhơn đức, thơm tho, khoái lạc... Cái “Sọ người” rùng rợn với Bích Khê lại là một “khối mộng” cho “hồn thơ chếnh choáng”, một “buồng xuân hơ hớ”, “một bình vàng”, “chén ngọc đầy hương”, cả một hồ trăng lấp loáng và chứa ở đó cả một sự sống đầy tình thương “người chứa một trời thương”. Nếu Bích Khê không dùng trực giác của tượng trưng thì làm sao có được những câu “thơ là nguồn hoan lạc cho trí” như thế này:

 

Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm

Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!

Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!

Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!

Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo”.

 

                        (Sọ người)

 

Và những từ, những hình ảnh chỉ có trong thế giới ma quỷ, trong địa ngục, trong “cõi chết” như “đau” “chôn”, “sâu hóm”, “huyệt” “vạn thước sâu”, “mồ người”,… tất cả đã trở thành “ước mơ” thành “tình yêu”, thành “xuân mười bốn” và cuối cũng là quấn quýt, xoắn bện lấy nhau trong tình yêu vĩnh cửu:

 

Hãy khép trong đau để ước mơ

Để yêu lờ lặng những trang thơ

Để chôn tất cả hờn vô tận

Sâu hóm trong đây huyệt chữ mờ

Huyệt chữ bằng tinh vạn thước sâu

Mồ người thi sĩ rất đa sầu

Mồ người mỹ nữ xuân mười bốn

Hai đứa ôm nhau cắn lấy nhau.

 

Học ở chủ nghĩa siêu thực

 

Bích Khê không chỉ học được ở thơ tượng trưng mà còn tiếp thu được nhiều cái mới trong thơ siêu thực, lối thơ chỉ tin cậy ở trực giác. Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ XX, bắt đầu ở Paris và được nhà thơ người Pháp André Breton viết tuyên ngôn vào năm 1924. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng các trình bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ. Siêu thực là một khuynh hướng nghệ thuật lớn bao trùm nhiều loại hình của nghệ thuật. Bắt đầu từ thơ, siêu thực lan tới hội họa rồi tiếp đến điện ảnh, tiểu thuyết. Thuật ngữ Chủ nghĩa siêu thực được nhà thơ Guillaume Apollinaire dùng trong tác phẩm của mình vào năm 1917. Sau tuyên ngôn năm 1924, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong văn học và nghệ thuật.

 

Những nguyên tắc mỹ học của Chủ nghĩa siêu thực là: Hướng về thế giới vô thức của con người - đó là một lĩnh vực vô hạn đối với sự sáng tạo nghệ thuật. Đề cao cái ngẫu hứng, những cái xuất hiện lướt qua trong đầu, không qua sự kiểm soát của lý trí. Vứt bỏ sự phân tích logic, chỉ tin cậy ở trực giác, giấc mơ, ảo giác, ở những linh cảm bản năng và sự tiên tri. Hướng tới sự hồn nhiên trong suy nghĩ như trẻ thơ, tới trạng thái mê sảng, tới những ảo giác mộc mạc của người nguyên thủy và nền nghệ thuật cổ sơ của họ. Chủ nghĩa siêu thực chủ trương thơ ca phải được tuôn trào tự do, không cần tuân thủ các quy định về câu cú, đề cao sự liên tưởng tự do. Về cơ bản, Chủ nghĩa siêu thực chống sự tầm thường của chủ nghĩa hiện thực.

 >> Thư viện Doãn Thuỵ Như (Phạm Thị Như Thuý)

 

Giữa các nhà thơ tượng trưng và các nhà thơ siêu thực tương đồng với nhau ở điểm chính là thơ không tả cảnh, tả tình, thơ phải khám phá nội tâm, diễn đạt những tác động vô hình vào tâm trạng. Thơ siêu thực đi sâu phản ảnh tiếng nói của thâm tâm (vô thức, tiềm thức và ý thức). Vì thế, việc Bích Khê đi nhanh từ tượng trưng sang siêu thực không những không gặp trở ngại gì mà rất thuận đường!

 

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê đã nhận xét: Thơ Bích Khê là sự giao lưu giữa thơ cổ và thơ hiện đại, trong một kiến trúc nghệ thuật âm nhạc và hội họa. Đặc biệt trong lối tạo hình, ông đã sử dụng một phương pháp mới, lúc ấy chưa thịnh hành ở Việt Nam: phương pháp cắt dán (collage). Hình ảnh trong thơ Bích Khê là sự cát dán lắp ghép, hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử là tưởng tượng, vì vậy khi nhìn bề ngoài có vẻ giống nhau nhưng thật ra rất khác: thơ Bích Khê “mới” hơn Hàn Mặc Tử, vì Bích Khê tiếp nhận thêm được những kiến thức siêu thực, mà Hàn Mặc Tử chưa kịp tiếp thu, đã mất.

 

Phong cách siêu thực trong thơ Bích Khê xảy ra ở cả mức độ chữ, lẫn câu: Bích Khê không chỉ để hai hình ảnh khác nhau cạnh nhau, mà còn để hai câu thơ hoàn toàn khác nhau cạnh nhau, như: Vàng sao nằm im trên hoa gầy / Tương tư người xưa thôi qua đây. Câu trên là một câu mô tả sự khăng khít xác thịt: Vàng sao nằm im trên hoa gầy. Câu dưới: Tương tư người xưa thôi qua đây, mô tả sự tan vỡ, nói đúng ra là, vừa đang yêu: tương tư vừa tan vỡ: người xưa thôi qua đây. Bích Khê đã đảo lộn trật tự thời gian sống, để tạo một nghịch cảnh, nghịch lý mới: thường thì người ta tương tư, rồi khăng khít và sau cùng mới lìa nhau, đằng này, người ta khăng khít trước, rồi mới tương tư, rồi xa nhau.

 

Cũng theo Thụy Khê, Tỳ bà là một trong những bài thơ đầu tiên của Việt Nam có cấu trúc gián đoạn: Bích Khê dán những chữ không liên lạc gì với nhau cạnh nhau, dán những câu không liên lạc với nhau lại gần nhau, để tạo ra những hình ảnh hoàn toàn siêu thực: tay - đêm, giăng - mền, trăng - đan, mây - nhung, thuyền - hồn...

 

Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mền

Trăng đan qua cành muôn tay êm

Mây nhung phơi màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

Cây đàn yêu đương làm bằng thơ

Dây đàn yêu đương run trong mơ

Hồn về trên môi kêu: em ơi

Thuyền hồn không đi lên chơi vơi

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu.

 

                            (Tỳ bà)

 

Mỗi câu thơ của Bích Khê là một sự đứt đoạn: Bích Khê là nhà thơ tiên phong, đã đi trước thời đại, thể hiện sự đứt đoạn trong không gian và trong tâm hồn. Sự đứt đoạn của đời sống là một trong những khám phá của nghệ thuật hiện đại trong toàn bộ thơ, văn, nhạc, họa, từ đầu thế kỷ XX. Bởi mỗi ý nghĩ của chúng ta là một đứt đoạn, mỗi hình ảnh chúng ta nhìn thấy trong đời sống là một đứt đoạn.

 

Tiềm năng tượng trưng của vật liệu  

 

Sự tiếp nhận, học hỏi ở chủ nghĩa tượng trưng rồi tiếp theo là chủ nghĩa siêu thực của Bích Khê đã là yếu tố quan trọng hàng đầu để thơ Bích Khê có những đột phá hoàn toàn mới trong khát vọng “Duy tân” thơ của mình và đã trở thành “một đỉnh núi lạ” của thời kỳ Thơ Mới 1930 - 1945, và điều quan trọng hơn: Bích Khê là nhà thơ đi trước thời đại (Lẽ ra câu nói “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” không phải giành cho Xuân Diệu mà chính là Bích Khê). Đó chính là điều mà nhà phê bình Hoài Thanh còn nhiều băn khoăn khi phê bình thơ Bích Khê và ông đã phải thừa nhận rằng đọc thơ Bích Khê một lần coi như chưa đọc. Tuy nhiên, Hoài Thanh cũng đã trích được một đoạn trong bài Tranh lõa thể để gọi đó là “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”. Và Hoài Thanh chỉ trích dẫn 10 câu  đầu của bài Tranh lõa thể.

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,

Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?

Ðến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.

Ðêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.

Vài chút trăng say đọng ở làn môi…

 

Với bài thơ thuộc vào loại tuyệt tác như Tranh lõa thể thì việc chỉ trích ra chục câu đầu như Hoài Thanh thì cũng chưa thể nói được gì nhiều, vì thế cần dẫn lại nguyên văn cả bài như sau:

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ

Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này?

Nàng ở mô? xiêm áo để đâu đây?

Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?

Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường

Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc

Vài chút trăng say đọng ở làn môi

Hai vú nàng! Hai vú nàng! chao ôi

Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng

Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động

Tôi run run hãm lại cánh hồn si …

Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly

Ố hai chân nở màu sen ẻo lả

Cho tôi nàng! cho tôi nàng! tất cả…

Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao

Cho đê mê, chới với hồn lên cao

Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ…

Tiên nương hỡi? Nàng sống trên thế hệ

Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng

Xuân muôn đời di dưỡng giữa vùng tang

Gương phép tắc suốt soi ngàn mộng ảnh!

Cớ làm sao nâng niu bầu giá lạnh

Ấp tranh người, lơ đãng ngắm thi nhân?

Hay nàng nhớ nhung các phương đều lặn

Hay nàng ước mơ tình trong trắng ngọc?

Ôi! nàng ôi! làm sao nàng chẳng khóc

Người thi nhân, vẻ đẹp của khiêu dâm

Trăng thanh tịnh còn lòng trong thơ cảm

Nhạc vô minh hằng sôi trên nét chữ ?

Ôi! nàng ôi! thốt lên, lời ngọc nữ

Lời trân châu rang cả phím lòng tôi

Ngọc Kiều! Ngọc Kiều! Đến cặp song đôi

Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước

Vẽ huyền diệu ứ men say lướt mướt

Vẽ yêu tinh dồn giận thấu vô gan

Ta thiếp đi - trong một phút mê loan

Xuống muôn đợt rồi bay lên tột bực…

 

Nếu nhìn lại bức tranh lõa thể bằng thơ nổi tiếng của thơ Việt Nam như “Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,/ Yếm đào trễ xuống dưới nương long / Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm, / Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông” (Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương) thì có thể nói Tranh lõa thể của Bích Khê đã vượt qua khá xa các bậc tiền bối về mọi phương diện. Với Tranh lõa thể của Bích Khê, thơ không còn là thơ mà là âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc theo một phong cách riêng, ngôn ngữ không còn là ngôn ngữ mà là thanh âm, màu sắc, đường nét, hương thơm. Và không chỉ với bài Tranh lõa thể, hầu như ở bài thơ nào của Bích Khê, ta cũng có thể cảm nhận được điều này: Màu sắc biến thành âm thanh, âm thanh biến thành nhịp điệu, nhịp điệu biến thành hương vị, rồi thành thơ, thành mơ: …Sắc trong màu, màu trong sắc: hân hoan…/ …Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc: lan man… (Đồ mi hoa). Và trong bản hòa sắc muôn màu đó, từng sắc màu với những biểu tượng rực rỡ vẫn hiện ra không trộn lẫn: “Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh / Choáng thời gian vây nuôn đầu thục nữ. Hồn đê mê, trong khi lòng giận dữ, / và tạo ra một thứ sáng hào quang: / Những mặt tươi, nhan sắc đẹp như trăng / và lẻm sắc như thanh gươm vấy máu; / Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu, / có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu (Sắc đẹp).

 

Đây chính là đỉnh cao của nghệ thuật siêu thần, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết Đông – Tây mà cụ thể là cái nhìn thâm hậu phương Đông trên cơ sở của thuyết tương hợp của chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Điều làm nên đỉnh núi lạ giữa cánh đồng thi ca Việt Nam chính là ở chỗ Bích Khê kết hợp tinh hoa hai nền văn hóa và thi ca ấy.

 

Như trên đã nói, nhạc tính là đặc trưng nổi bật của thơ tượng trưng nói chung và thơ Bích Khê nói riêng, đến với thơ Bích Khê ta như đến với thế giới âm nhạc kỳ diệu:

 

Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,

Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm

Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây

Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,

Ô nàng tiên nương! - hớp nhạc đầy hương.

  

                                 (Nhạc)

  

Tuy nhiên, trong Lời tựa tập Tinh huyết, Hàn Mặc Tử lại viết, “âm thanh là một nửa tinh thần anh hoa của thế giới Huyền diệu. Còn một nửa khác là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mã não, trân châu”. Vì thế có thể nói, bước vào thế giới thơ Bích Khê, người đọc không chỉ đê mê cùng tiếng nhạc diệu kỳ mà còn bàng hoàng trước những không gian với những sắc màu hân hoan, những hào quang sáng loáng đang khiêu vũ, với những luồng ánh sáng lung linh bay lượn giữa một trời thơ hằng cửu:

 

Cho tình ta xô dồn sang cực điểm;

Và hào quang khiêu vũ với hào quang

 

                  (Nàng bước tới)

 

Điều cần chú ý ở Tranh lõa thể, nói khái quát là “vẻ đẹp thân xác” trong thơ Bích Khê có ý nghĩa đặc biệt bởi yếu tố thân thể con người, đặc biệt là thân thể giai nhân và thân thể chủ thể trữ tình là nét chủ đạo  trong thơ Bích Khê. Trong Thơ mới, Bích Khê là nhà thơ có ngôn ngữ thân thể táo bạo nhất, mới mẻ nhất. Tất cả các phần thân thể trong thơ Bích Khê đều trở thành ngôn ngữ của đam mê, khoái lạc, của mơ mộng, ước ao, của cái đẹp trong trắng và vĩnh viễn. Đó không phải là ngôn ngữ duy nhất vì còn có ngôn ngữ vũ trụ, ngôn ngữ thiên nhiên, song đó là phần ngôn ngữ đặc sắc nhất. Giáo sư Trần Đình Sử đã có sự phân tích khá xác đáng về “vẻ đẹp thân xác”, “ngôn ngữ thân thể” trong thơ Bích Khê: “Thơ Bích Khê là thơ về cái đẹp, người đẹp. Ta bắt gặp trong thơ ông những tiên nương, tiên nga, ngọc nữ, thuyền quyên, Hằng Nga, Ngu Cơ, Quý Phi, Xuân Hương, Ngọc Kiều, nhìn thấy những đào nguyên, ngọc tuyền, dao động, đào động, cung Quảng... Hoa trái trong thơ ông cũng mang nữ tính: Quả măng cụt, Đồ mi hoa (một thứ cây leo có hoa trắng như tuyết và có mùi thơm). Nhạc trong thơ Bích Khê thường là Nghê thường, Lạc mai hoa, Phụng cầu hoàng, những khúc nhạc tình đắm đuối. Không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê viết: “Ngừng hơi thở… ta nép trong bóng lá, Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên” (Đồ mi hoa). Đó là những vần thơ theo nhịp điệu người đẹp với thiên tính nữ. Thơ ông là thơ về cõi mộng, cõi tiên đầy âm nhạc, thi ca, màu sắc, hương thơm và giao tiếp thân thể. Đẹp và mộng là những nét rất tiêu biểu cho thơ lãng mạn. Đó là những giấc mộng siêu thoát rất thanh, rất xanh, đầy thi vị. Có một thời chúng ta xem mọi mộng mơ, siêu thoát chỉ là thoát li thực tế mà không thấy đó là không gian tinh thần để giải phóng tâm hồn. Những giấc mộng cho phép nhà thơ phác họa nhiều chân dung người đẹp mang tính chất tượng trưng. Thơ Bích Khê có xu hướng lột trần mọi che đậy làm cho thân thể trong thơ xuất hiện với tính chất tự nhiên, phải chăng cũng có nghĩa là lột bỏ những ngôn từ lá nho che đậy? Lõa thể trong nghệ thuật thường tượng trưng cho sự thuần khiết, tự do, sự thiêng liêng, chân lí và cả sự yếu đuối với ít nhiều nhục dục. Loã thể đánh dấu sự rời xa của thơ ca từ vũ trụ bao la, xã hội rộng lớn để trở về với sự chiêm nghiệm thân thể người. Bích Khê đã đem lại một bữa tiệc của thân thể sống động,non tơ, kiều diễm:

 

Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?

Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?

Đâu hang báu cho ta phải khóc?

Trên môi son ta liếc lưỡi gươm mềm!

 

                   (Mộng cầm ca)

 

Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!…

Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!

Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân.

Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.

Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bực

Hồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh…

 

                   (Bàn chân)

 

Trở lại vấn đề đang trình bày là sự tiếp nhận, học hỏi ở chủ nghĩa tượng trưng rồi tiếp theo là chủ nghĩa siêu thực của Bích Khê. Điều cần lưu ý về cái “sự học” ở Bích Khê là: Sách vở và kiến thức đông tây cổ kim tất nhiên là có, và rất nhiều, nhưng đến một lúc nào đó, cái khối tri thức khổng lồ đó, đã ẩn mình nhường chỗ cho một linh giác lạ thường, làm bừng nở ra những bông ánh sáng - đó là những đóa hoa thần dị - thơ Bích Khê. Hy vọng rằng với cái nhìn mới của thời đại mới, những ánh hào quang đang khiêu vũ với hào quang của thơ Bích Khê sẽ có ngày càng nhiều sự đồng cảm của các thi sĩ, các nhà phê bình văn học các thế hệ sau cũng như của cộng đồng xã hội. Nói cách khác, tiềm năng tượng trưng của các vật liệu kiến tạo nên thế giới tượng trưng trong thơ Bích Khê là vô tận!

Nguồn: nhavantphcm, 03 đến 07/5/2017

 

Các bài khác:
· BÍCH KHÊ - HỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG
· BÍCH KHÊ - THƠ CHỌN LỌC (POÈMES CHOISIS)
· MỘT NÉT BÍ ẨN CỦA THƠ BÍCH KHÊ
· TÌNH BẠN CỦA BÍCH KHÊ VỚI HÀN MẶC TỬ, QUÁCH TẤN, CHẾ LAN VIÊN VÀ YẾN LAN
· THẾ GIỚI TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· KỶ NIỆM 100 NĂM SINH NHÀ THƠ BÍCH KHÊ-BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
· RA MĂT TẬP SÁCH “BÍCH KHÊ - 100 NĂM” TẠI HÀ NỘI
· BUỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG
· ĐẶNG HUY GIANG BÌNH "TỲ BÀ" CỦA BÍCH KHÊ
· TỲ BÀ CỦA BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ 100 NĂM
· ẤN TƯỢNG 100 NĂM BÍCH KHÊ
· TỔ CHỨC KỶ NIỆM 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
· CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM 100 NĂM BÍCH KHÊ (1916-2016)
· MỘT LIÊN VĂN BẢN: "HOÀNG HOA" CỦA BÍCH KHÊ VÀ BẢN DỊCH "CHINH PHỤ NGÂM"
· TOÀN BỘ THI PHẨM BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIÊM 100 NĂM BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM BÍCH KHÊ CỦA NGÃ DU TỬ
· BÍCH KHÊ, MỘT TRĂM NĂM VÀ HƠN NỮA
· DƯ LUẬN VỀ THƠ BÍCH KHÊ TRÊN SÁCH BÁO VIỆT TRƯỚC 1945
· 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ (1916-2016)

 

  
Gia đình Bích Khê