BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ - THƠ CHỌN LỌC (POÈMES CHOISIS)

 





















BÍCH KHÊ
Thơ chọn lọc
POÈMES CHOISIS

KỲ THỪ NHẤT

LỜI GIỚI THIỆU của CÔNG TY CỔ PHẦN CADASA

(Cơ quan chủ trương việc dịch thơ Bích Khê ra tiếng Pháp lần đầu tiên)

      Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một ánh sao băng nhưng khác là sao băng thì lịm tắt còn thơ Bích Khê thì bất tử. Bích Khê tạ thế lúc chưa tròn 30 tuổi nhưng đã để lại một dấu ấn rất lớn trong nền thơ ca Việt Nam, đặc biệt như một trong những người đi tiên phong, làm phát triển phong trào thơ mới Việt Nam 1930-1945.
     Bích Khê họ tên thật là Lê Quang Lương, sinh tại quê ngoại là làng Phước Lộc (tức xã Tịnh Sơn), huyện Sơn Tịnh, cư trú tại Thu Xà, một thị tứ thuộc huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Xuất thân trong gia đình nhà nho. Học trung học ở Huế, Hà Nội, nhưng bỏ dở. Dạy học tư ở Phan Thiết, Huế. Chết vì bệnh lao phổi.
      Được đăng thơ lúc còn đi học, ban đầu theo các thể thơ cũ (hát nói, thơ Đường Luật); từ 1935 chuyển hẳn sang thơ mới. Tinh Huyết (1939) là tập thơ duy nhất được in trong khi tác giả còn sinh thời. Sau khi mất, còn để lại các tập thơ chưa in thành sách là: Mấy dòng thơ cũ (thơ viết 1931-1936), Tinh Hoa (thơ viết 1938-1944), Đẹp (viết 1939).
      Chỉ với một tập thơ Tinh Huyết, Bích Khê đã đem đến cho thi ca Việt Nam những hơi thở mới. Theo Hàn Mặc Tử: “Tinh Huyết là một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc”.
Đọc thơ Bích Khê có lúc ta thấy lòng buồn man mác như đang đi giữa cánh đồng vào một chiều mùa thu vàng, vang vọng những thanh âm, những tiếng nói của thời thơ ấu, có lúc như bồi hồi xao xuyến, như tiếc nuối về một kỷ niệm ngọt ngào của một tình yêu đầu đời tưởng chừng như đã chìm sâu vào dĩ vãng xa xăm. Có lúc ta như chìm đắm trong niềm hoan lạc vô biên và đắm đuối với những nỗi si mê cuồng dại trước những vẻ đẹp trinh nguyên, trần thế… và sau tất cả những cái đó ta lại trở về với những gì thánh thiện nhất đầy tính Người nhất.
      Thơ Bích Khê không hề có biên giới giữa hiện thực và hư vô, không hề có biên giới giữa ánh sáng và bóng tối. Thơ Bích Khê cho ta những cảm xúc rất sống động của đời thường, những nỗi rạo rực, những si mê, những ngây ngất nhưng cũng cho ta những khát vọng mãnh liệt về con người, về cái đẹp vĩnh hằng, về những niềm cô đơn sâu thẳm, về những nỗi trăn trở khôn nguôi của một kiếp người.
     Bất kỳ bài thơ nào của Bích Khê ta cũng như nghe thấy có hình ảnh và nhạc điệu du dương, đặc biệt có những bài thơ được gieo toàn là vần bằng, mỗi khi đọc lên ta nghe như thấy những âm hưởng vang lên và bay xa (Tỳ bà, Hoàng hoa). Tất cả đã hòa quyện vào nhau tạo thành một bản tình ca không chỉ với âm thanh tuyệt vời mà còn là những gam màu phức hợp nhất dễ khắc sâu vào tâm khảm và ngân vang mãi trong lòng người đọc.
     Có thể nói thơ Bích Khê là kết tựu đầy đủ những tính cách của ba trường phái Tượng trưng (Symbolisme), Siêu thực (Surréalisme) và Ấn tượng (Impressionnisme). Người ta đã từng ví Bích Khê như là một Beaudelaire (nhà thơ Pháp cuối thế kỷ 19) và không những thế thơ Bích Khê còn ngời sáng màu sắc của Paul Valéry (nhà thơ Pháp,1871-1945).
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

(Tỳ bà)

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô?xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài phút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sông ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si…

(Tranh lõa thể)
     Với lòng yêu mến vô hạn nhà thơ Bích Khê, chúng tôi, Công ty cổ phần CADASA đã đề nghị dịch giả Hoàng Hữu Đản, dịch toàn bộ thơ Bích Khê ra tiếng Pháp để giới thiệu với độc giả phương Tây. Trước đây, chúng tôi cũng đã từng hợp tác với nhà xuất bản Văn học xuất bản các tập thơ song ngữ Việt Pháp của hai nhà thơ lớn Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính. Giờ đây, chúng tôi rất hân hạnh gửi đến bạn đọc một tập thơ nữa của nhà thơ Bích Khê và mong rằng bạn đọc sẽ cùng chia sẻ với chúng tôi niềm vui, niềm tự hào là Quảng Ngãi nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung đã từng sản sinh ra một nhà thơ lỗi lạc: Bích Khê.

     Tp. Hồ Chí Minh – Quảng Ngãi, tháng 03 năm 2009

     NGUYỄN THẾ HÙNG
     (Tổng Giám đốc Công ty CP CADASA)

BÍCH KHÊ , CET AIMABLE POÈTE

     
(Compagnie CADASA qui a la première suggéré l'idée de traduire en Français les Poèmes de Bích Khê)

      Le nom de BÍCH KHÊ apparaỵt sur la tribune de la poésie vietnamienne telle une étoile filante, avec cette différence que l’étoile filante disparaỵt aussitôt parue, tandis que le nom de Bích Khê demeure immortel. Bích Khê meurt au milieu de sa trentième année, mais laisse une empreinte assez profonde dans la poésie vietnamienne, comme un avant – coureur du mouvement de rénovation littéraire des années 1930 - 1945.
      Bích Khê, de son vrai nom Lê Quang Lương est né au village natal de sa mère Tịnh Sơn (Phước Lộc) arrondissement de Sơn Tịnh, et domicilié à Thu Xà, un petit bourg de l’arrondissement Tư Nghĩa, province de Quảng Ngãi. Issu d’une famille de petit lettré, il fait ses études primaires et secondaires à Huế puis à Hà Nội, mais il doit les abandonner à mi-chemin pour se faire instituteur d’ école privée à Phan Thiết et à Huế. Peu de temps après, il meurt de tuberculose.
      Bích Khê commence à publier des poèmes, étant encore écolier. Ce sont d’ abord des poèmes de forme ancienne – ca trù ou đường luật; puis dès 1935, il passe à la poésie nouvelle. Son premier et unique recueil paru de son vivant est, selon le mot de Hàn Mạc Tử, "une fleur étrange qui exhale un parfum également étrange englobanttoutes les suavités de la vertu et de la grâce divine".
      En effet, en lisant Bích Khê, on se sent peu à peu traverser d’une tristesse infinie, comme un promeneur solitaire qui marche au hasard dans un champ désert, par un soir d’ automne que vient égayer tout à coup le faible écho des années d’ enfance, tantôt tourmenté par le sentiment d’ un vague regret, et tantôt tiraillé par le douloureux souvenir d’ un amour décu qu’on croit à jamais déjà sombrer dans la nuit du passé. Parfois au contraire on sent naitre au fond de l’âme une joie sans borne et une passion quasi délirante pour les beautés mondaines et éphémères, et enfin retourner vers le côté le plus sain, le plus pur, le plus authentiquement humain de l’homme.
      Dans la poésie de Bích Khê, il n’y a pas de frontière entre le réel et le néant, entre la clarté et l’ obscurité, entre le commun et le sublime. Elle nous donne des sensations très vivantes de la vie quotidienne, des émotions troublantes, des ambitions qui vont parfois jusqu’à l’ extase quand elle aborde des questions intimes de la vie, les extremes solitudes, l’ avenir, les beautés éternelles, les soucis et les tourmentes sans fin de l’ humanité.
      N’ importe quel poème de Bich Khê est rempli d’ images, de sons, de musique. En particulier, il y a des poèmes constitués uniquement d’ un bout à l’ autre de tons bằng (accent grave ou sans accent) qui laissent après lecture des sensations de mélancolie et de regret sans fin (Tỳ Bà - La cithare, Hoàng Hoa – les Fleurs de chrysanthème).
      On peut dire que la poésie de Bich Khê est le point de rencontre des trois courants littéraires: le symbolisme, le surréalisme et l’ impressionnisme. On compare souvent Bích Khê à Beaudelaire, poète français de la fin du XIXe siècle. Dans la poésie de Bích Khê, on trouve aussi des réminiscences très rapprochées des vers de Paul Valéry, poète fransçais de la première moitié du siècle dernier.
L’or des étoiles dort immobile sur des fleurs maigrelettes
Les langueurs d’amour du passé ont cessé de revenir en ces lieux
O demoiselle! As-tu donc oublié tes anciennes promesses
Les fleurs viennent d’exhaler leur parfum séduisant et délicieux.
Je pénètre en ton cœur pour emprunter quelles paroles de tendresse
Les emporte au balcon de ma chambre et les élève en sérénade d’amour
Mes sentiments pour toi n’auront jamais de baisse
Les notes do ré mi parviennent à mes oreilles comme ton appel: “Chéri!”
La mélancolie s’attache au pêcher pour demander un peu de sa fraỵcheur printanière
La mélancolie s’attache au pin pour saluer le Maỵtre du Printemps
O chose étrange! La mélancolie se pose sur les branches de la platane
L’or tombe! L’or tombe! Dans l’automne infini, grandissant.


La Cithare

La silhouette d’une rose se dessine dans le portrait de la jeune vierge
O fille du Ciel! tu viens ici régner en ces endroits?
Ou-es-tu? Tes vêtements où les as-tu défaits?
Pour venir exposer ton jeune corps impeccable?
Tu es la neige ou ta peau est faite de neige?
Tu es le parfum ou c’est la beauté devenue parfum?
Tes yeux brillent d’une pureté féerique sans pareille
Tes larmes retenues font jaillir des baguettes de diamant.
La nuit mystérieuse se couche et rêve dans tes cheveux de jais
Quelques parcelles de lune illuminent tes lèvres fraiches
Tes seins! Oh tes deux seins! Ah! De grace
Laisse-moi à loisir en sucer le nectar!
Oh! Quel monument fleuri que cette grotte sacrée et merveilleuse!
Je retiens en tremblant les volets de mon cœur amoureux


Nudité
     Notre Compagnie CADASA a depuis quelques années collaboré avec les Editions Văn Học pour la publication des Poèmes choisis de Nguyễn Bính et de Hàn Mạc Tử traduits en français par M. Hoàng Hữu Đản. Avec un amour infini pour le poète Bích Khê, nous sommes très heureux de vous présenter aujourd’ hui un troisième recueil traduit également par le même Mr. Hoàng Hữu Đản : les Poèmes choisis de Bích Khê.
      Nous espérons qu’ après lecture, nos chers lecteurs voudront bien partager avec nous les sentiments de joie, d’ admiration et de fierté pour cet enfant de Quảng Ngãi, le poète Bích Khê qui, malgré sa courte existence–trente ans à peine – nous a laissé une œuvre poétique si admirablement originale et si belle!

      NGUYỄN THẾ HÙNG
      Directeur genéral de la Compagnie CADASA
 

LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ

     
      Trong số các thi nhân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tôi luôn luôn có cảm tình đặc biệt với bộ ba nổi tiếng Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử và Bích Khê vì tâm hồn của họ trong sáng cao thượng và thơ họ vừa đẹp vừa sâu.
     Trong tuyển tập song ngữ Việt Pháp đầu tiên của tôi về thơ ca Việt Nam – Ánh trăng (Nxb Trẻ, 1997) – Nguyễn Bính và Hàn Mạc Tử chiếm vị trí hàng đầu về số lượng những bài thơ hay được chọn lọc. Năm 2007, tôi lại xuất bản riêng hai tuyển tập song song! Thơ chọn lọc của Nguyễn Bính và Thơ chọn lọc của Hàn Mạc Tử, vẫn bằng song ngữ.
     Anh bạn Nguyễn Thế Hùng của tôi, giám đốc Công ty CADASA, cũng là người say mê thơ Bích Khê, hỏi:
     – Sao anh không dịch luôn cả thơ Bích Khê một lúc! Phải cố dịch đi, nếu không sẽ là một thiếu sót rất lớn.
     Tôi trả lời với đôi chút ngập ngừng!
     – Dịch thơ Bích Khê đâu phải đơn giản như nhiều người nghĩ. Bởi bên cạnh những ý tưởng triết học rất sâu chứa đựng trong các câu thơ của anh, còn phải đặc biệt lưu ý đến nguồn từ vựng phong phú có vẻ như đã được anh xếp loại, vừa cụ thể như có thể nắm bắt được bằng mắt bằng tay, lại vừa thanh thoát nhẹ nhàng như mây như khói, đến cái văn phong của anh trong đó phảng phất dấu vết những bài thơ của các nhà thơ thế kỷ XX Pháp, nhưng lại không giống hẳn một ai. Người ta tìm thấy ở Bích Khê những khổ thơ sáu câu vần ôm xen kẽ kiểu Victor Hugo hay Beaudelaire, những câu thơ mang âm hưởng thơ Paul Valéry, Stéphane Malharmé hay Sully Prud’homme …
     Cái độc đáo đích thực của Bích Khê không ai chối cãi được là sự có mặt trong thơ của anh những khổ thơ, hơn thế nữa, của nhiều bài thơ, rất dài và rất hay, hoàn toàn chỉ có vần bằng (thanh huyền và thanh không dấu) như hai bài Tỳ bà, Hoàng hoa; hoặc những bài vần bằng chiếm trên 90% số chữ, số vần trắc chỉ chiếm khoảng 10%. Kể cả ở những bài này nữa, Bích Khê cũng chưa phải là một kẻ đã “cắt băng khánh thành” kiểu thơ này, anh vẫn là đứng trong giới hạn của sự thể nghiệm nhưng là một thể nghiệm mới mẻ, táo bạo, độc đáo mà thành công đến mức độ có thể làm mẫu mực cho thế hệ trẻ học theo. Bích Khê đích thực cùng với Hàn Mạc Tử, là kẻ sáng tạo ra không phải một kiểu thơ mới mà là một dòng, một nền thơ mới trước đấy chưa có mặt ở Việt Nam.
     Ngoại trừ một vài câu thơ chưa đạt lắm trong một số bài, phần lớn các nhà phê bình văn học đều cùng thừa nhận rằng, tuy số bài thơ để lại không nhiều lắm, Bích Khê là một nhà thơ lớn, trước hết vì anh có một tâm hồn cao thượng trong trẻo và đầy chất thơ chỉ chứa đựng những gì đẹp, tinh túy, nhân bản trong thơ ca truyền thống và trong lịch sử hào hùng của đất nước, cũng như trong thơ ca thế giới mà anh biết biến thành của riêng anh; thứ hai là vì thơ anh – nghĩa là cả bản lĩnh, cả cuộc đời, cả tâm hồn và cả trái tim anh – được thể hiện bằng một ngôn ngữ riêng của anh, đầy một tính độc đáo, táo bạo mà các nhà thơ khác không có được.
     Để kết luận, có thể nói Bích Khê là sự thể hiện mới mẻ, mạnh dạn nhất và khá hoàn chỉnh của nền thơ ca Việt Nam trong bước ngoặt lịch sử, bắt buộc nó phải cất bộ cánh cũ, khoác bộ cánh mới để trở thành nền thơ ca tiên tiến dân tộc ngự trị thế kỷ XX và cùng với dân tộc đường hoàng đi vào thiên niên kỷ mới.
     Và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bản dịch thơ Bích Khê bằng tiếng Pháp lần đầu tiên của tôi. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn vẫn không tránh được những chỗ chưa hoàn hảo, rất mong bạn đọc lượng thứ cho.
14 / 02 / 2008

HOÀNG HỮU ĐẢN

AVANT- PROPOS

     Parmi les poètes de la première moitié du XXè siècle, j’ai eu toujours une sympathie particulière pour le trio Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử et Bích Khê, tant pour l’élévation de leur âme que pour la beauté de leur poésie.
      Dans mon premier receuil Clair de Lune (Edition Trẻ, 1997), Nguyễn Bính et Hàn Mạc Tử tiennent la première place pour le nombre et la valeur des poèmes choisis. En 2007, j’ai publié séparément les Poèmes Choisis de ces deux poètes, également en textes bilingues.
      Mon ami Nguyễn Thế Hùng, directeur de la Compagnie CADASA, amoureux lui-aussi de Bích Khê, m’a demandé!
      – Pourquoi ne traduisez-vous pas en même temps le grand poète Bích Khê! Il faut le faire sans tarder, pour être equitable.
J’ai répondu non sans quelque hésitation!
      – Traduire Bích Khê n’est pas si simple qu’on le pense. Car, outre ses pensées philosophiques très profondes cachées dans ses vers, il faut tenir compte encore et spécialement de son vocabulaire très palpable et très vaporeux, de son style qui sent des réminiscences des grands poètes français du XXè siècle sans pourtant ressembler véritablement à aucun d’eux. On y trouve des strophes de six vers du type de Victor Hugo ou de Beaudelaire, des vers qu’on croirait de Paul Valéry, de Stéphane Malharmé ou de Sully Prud’homme …
     La véritable originalité de Bích Khê est sans conteste dans la présence des strophes, plus que cela, des poèmes entiers et de très longs et très beaux dans ses œuvres La Cithare, Fleurs de Chrysanthème constitués exclusivement des tons bằng (accent grave ou sans accent). Ici encore, l’auteur n’a pas théoriquement inauguré une nouvelle forme de versification en tant que chef d’une école littéraire; il reste dans les limites d’une épreuve concrète d’expérimentation. L’épreuve cependant est si belle, si audacieuse et si réussie qu’elle finit par faire loi aux jeunes générations. Avec Hàn Mạc Tử, Bích Khê est ainsi le créateur non d’une forme nouvelle mais bien d’un courant de poésie nouvelle, jusqu’alors inexistant au Vietnam.
      Quelques défectuosités dans certains de ces poèmes mises à part, la plupart des critiques sont d’accord pour reconnaỵtre que, malgré le nombre assez restreint des poèmes qu’il a laissés, Bích Khê est un grand poète, d’abord parce qu’il a une âme élevée et profondément poétique qui ne contient que ce qui est beau, pur, humain, puisé dans la poésie traditionnelle et dans l’histoire héroїque de son pays ainsi que dans la poésie contemporaine mondiale qu’il sait faire sienne dès le premier contact; d’autre part, parce que cette poésie – c’est à dire toute sa personnalité, sa vie, son cœur et son âme – il sait l’exprimer dans un langage propre à lui et plein d’une originalité audacieuse que les autres n’ont pas.
      Avec celle de Hàn Mạc Tử, la poésie de Bích Khê, peut-on dire pour conclure, est une incarnation des plus neuves, des plus osées et assez parfaites de la Poésie Vietnamienne à un tournant historique où elle doit sans hésitation se défaire de ses vieux habits pour en prendre de nouveaux et devenir la poésie nationale d’avant- garde qui dominera tout le XXè siècle et fera avec le peuple son entrée triomphale au troisième millénaire.


      14 / 02 / 2008

     HOÀNG HỮU ĐẢN

LỜI TỰA CHO TẬP THƠ BÍCH KHÊ CHỌN LỌC

Bản dịch thơ của HOÀNG HỮU ĐẢN

GÉRARD BOIVINEAU
Tổng lãnh sự Cộng hòa Pháp
Tại Tp.HCM

     Sáu Ánh trăng (1997) và Thơ chọn lọc của Nguyễn Bính và của Hàn Mặc Tử, trong tuyển tập thứ ba này là những bài thơ của Bích Khê mà ông Hoàng Hữu Đản giới thiệu cho chúng tôi qua bản dịch của ông.
     Thực ra, đây còn hơn một bản dịch. Trong lĩnh vực nghệ thuật, ông Hoàng Hữu Đản đã bộc lộ rõ tài năng sáng tạo này của mình. Nếu được phép dùng một sự so sánh thì tôi nói rằng nhà văn Hoàng Hữu Đản không phải chỉ làm cái công việc của nhà dịch thuật mà công việc của một nhạc sĩ điêu luyện, chuyển tải một giai điệu âm nhạc qua bàn phím chiếc dương cầm riêng của mình.
      Vẫn là một giai điệu ấy, nhưng dưới những màu sắc âm thanh khác. Trong quá trình chuyển tải đó, ông Hoàng Hữu Đản đã cố gắng biến những bài thơ Việt Nam sang âm thanh nhịp điệu thơ Pháp mà vẫn giữ nguyên vẹn được những nét độc đáo của nguyên bản, trên những cách hợp âm, gieo vần mà tác giả đã dùng làm phương tiện diễn tả thi hứng của mình. Ông luôn trung thành về nội dung cũng như về âm thanh nhịp điệu của mỗi bài thơ và với cả phong cách của tác giả. Đây quả là một ngón tài hoa mạo hiểm mà chỉ những người am hiểu sâu sắc các nhà thơ hiện đại Pháp mới có thể mạnh tay thực hiện được.
     Ngoài ra cũng cần cảm ơn ông Hoàng Hữu Đản đã biết duy trì hình thức song ngữ cho các bản dịch của ông. Kể cả một người nói tiếng Việt không chuyên lắm, nhưng khi đọc bản dịch mà gặp thấy một từ ngữ nào đó dùng rất đắt, rất tuyệt vời, đều nẩy ra ý muốn đối chiếu lại với nguyên bản xem, và anh ta sẽ cao hứng đọc to lên đoạn văn này để thưởng thức được hết chất nhạc trầm vang của nó mà anh vừa sung sướng, vừa ngạc nhiên phát hiện ra qua bản dịch ngắn gọn rõ ràng mà anh vẫn đang cầm trong tay.
      Với thái độ khiêm tốn, tác giả – bởi như chúng ta sẽ thấy ở đây ông Hoàng Hữu Đản đang làm công việc một tác giả – có nhắc lại trong Lời nói đầu những do dự đắn đo của ông trước một công trình đầy khó khăn như vậy. Chúng ta nên biết ơn những bạn hữu đã khích lệ ông, bởi họ tin tưởng vào khả năng và tài văn chương của ông. Ông Hoàng Hữu Đản đã hành động đúng khi ông chấp nhận yêu cầu của những người bạn hữu đó, nhờ vậy mà mở đường cho các độc giả nói tiếng Pháp đi vào một thế giới thơ đậm đà tính chất tình cảm và nhiều khi phảng phất chất thơ tình xa vắng bâng khuâng.
      Tôi tin chắc rằng tập Thơ Bích Khê, đối với nhiều người sẽ là một dịp may mắn để tìm hiểu một nền thơ mà, tuy ẩn hiện bóng dáng nhiều câu nhiều ý của các nhà thơ hiện đại Pháp nhưng, như dịch giả nhấn mạnh, vẫn là nền thơ cắm rễ sâu vào truyền thống ngàn đời của dân tộc và mãi mãi vẫn mang nguyên dáng nguyên hình của nền thơ ca thuần túy và độc đáo, phong phú và ngọt ngào của Việt Nam.

PRÉFACE

      Après Clair de Lune (1997) et Poèmes choisis (2007) de Nguyễn Bính et Hàn Mặc Tử, c’est, dans ce troisième recueil, un choix de poèmes de Bích Khê que M. Hoàng Hữu Đản nous donne à découvrir à travers sa traduction.
      Mais il s’agit là de bien plus qu’une traduction. Dans cet art dont il s’est fait une spécialité, M. Hoàng Hữu Đản se révèle lui-même créateur. Si j’osais une comparaison, je dirais que plus qu’un traducteur, l’écrivain se fait ici transpositeur, de la même façon que l’interprète d’une composition musicale: c’est la même mélodie qui s’entend, mais dans une autre tonalité. En transcrivant l’œuvre poétique de Bích Khê, M. Hoàng Hữu Đản s’efforce de rendre dans une tonalité française toute l’originalité du poète, ses assonances et ses rimes internes, procédés de versification par lesquels s’exprime son inspiration, tout en restant fidèle au rythme comme au thème de chaque œuvre. C’est véritablement un tour de force que seul un connaisseur intime des meilleurs poètes français pouvait réaliser.
     Il faut en outre remercier M. Hoàng Hữu Đản d’avoir conservé la présentation bilingue de sa traduction. Même un praticien peu entraỵné de la langue vietnamienne, rencontrant au hasard de sa lecture telle ou telle formulation particulièrement heureuse ou ingénieuse, sera tenté de se reporter au texte original. Il se surprendra alors peut-être à lire ce passage à haute voix pour en gỏter toute la musicalité, surpris de pouvoir en découvrir ainsi et la mélodieuse sonorité et l’extraordinaire concision.
      Avec humilité, l’auteur – car, on l’aura compris, M. Hoàng Hữu Đản fait bien là aussi œuvre d’auteur – nous livre dans son avant-propos ses hésitations devant la difficulté de l’entreprise. Soyons reconnaissants envers ceux qui l’y ont encouragé, confiants dans ses capacités et son talent littéraires. M. Hoàng Hữu Đản a bien fait de céder à leurs amicales pressions, ouvrant ainsi les lecteurs francophones à toute la richesse d’une poésie toujours empreinte d’une émouvante sensibilité et souvent d’une troublante sensualité. Je ne doute pas que ce recueil de Poèmes choisis de Bích Khê sera pour beaucoup une occasion bienvenue de découvrir une poésie qui, tout en pouvant évoquer, comme le souligne son traducteur, certaines réminiscences de poètes français modernes, s’enracine dans une tradition nationale millénaire et demeure authentiquement vietnamienne.

     GÉRARD BOIVINEAU
     Hồ Chí Minh-Ville, février 2009

Phần Thứ Nhất

TINH HUYẾT
LỜI TỰA cho TINH HUYẾT
HÀN MẠC TỬ

     Ở Sọ người, cũng như ở Tranh loã thể, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Quả nhiên là một sự khong khen (1) thanh tao quá, đến ngọt lịm cả người và cả thơ:

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ô tiên nương, nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm?
Nàng là tuyết, hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương, hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung rinh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.


     Trực giác của thi sĩ mạnh quá, đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đang nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ.

(1) Khong khen: từ cũ hay dùng trong thơ ca công giáo, có nghĩa là ngợi khen, ca tụng.

      Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần …
Sự say mê tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của huyền diệu. Ở đây sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa. Người ta chỉ gặp toàn âm thanh đương ngả ngớn với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lồng nhạc, trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ. Không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong chờ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát.
     Ở cái địa hạt Huyền Diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc. Trong khi nói đến nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến những cung cầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. Vì bởi mê man với sự “nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương”, thi nhân đã sáng tạo được rất nhiều bản ca thần tình diễm ảo. Và nhạc lúc bấy giờ cũng không còn là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng cười, mơn man như ân tình đòi hỏi:

… Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu, lên cung thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông!


     Đây là cả một trời yêu thương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng buồn não buồn nê:

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông!

     Thi nhân kéo ta đi lướt thướt trong cõi u hoài, đằm thắm từ những bản đàn xôn xao hồi hộp như Tỳ bà, Mộng Cầm ca, Hoàng hoa, sang qua một thế giới hào quang, gây cho ta nghe một điệu nhạc hiền hậu và ngọt ngào vô cùng đến tê cả lưỡi và hàm răng:

Ô, vàng thơm rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
Đây dây trinh bạch khóc mướt trong mơ
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như lá
Ô, côi lầu mấy ánh gì kim cương
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say
Nàng ơi, đừng động, có nhạc trong dây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động
Ô nàng tiên nương, hớp nhạc đầy hương.


     Đấy là một lối sáng tạo, bỏ vần ở chữ thứ tư (vần giữa), ta đọc lên những câu:

… Ô nàng tiên nương, hớp nhạc đầy hương
… Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương


     Phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi, lên xuống như muôn hoa lá bị cơn gió lùa. Lời thơ rất thanh, ngào ngạt những tình ý say sưa, mát mẻ, phổi ta, tim ta, hồn ta nở nang ra, háo hức một mối lương duyên kỳ ngộ.
     Tác giả khéo dừng hơi (césure) và hạ vần ở chữ thứ tư, làm cho câu thơ nửa như riêng tư, nửa như thuận hòa …
     Chưa hết đâu. Thi sĩ Bích Khê vốn là tay sành âm nhạc, đã nghe quen tai những bản đàn Tây như Valse, Menuet, Marche, Sénérade … đã từng lĩnh hội và thiệp liệp đến thể cách của vần thơ thái tây nên am hiểu một cách thông minh những lối sáng kiến từ điệu.
Và đây là một đoạn thơ phảng phất như âm điệu bài Réversibilité và Harmonie du Soir của Beaudelaire, hay bài Féerie của Valéry:

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ…


     Âm thanh là một nửa tinh thần, anh hoa của thế giới huyền diệu. Còn một nửa khác phải là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mã não, trân châu. Hình như đã lâu lắm, chàng thi nhân có cái ý niệm bao quát, tân kỳ đem mình ví với một thiên tượng luôn luôn ấp ủ những khói mây huyền ảo.
     Màu sắc, như ta đã thấy trong các thi phẩm đông tây đều gồm có hai tính cách:
     – Màu sắc cụ tượng
     – Màu sắc trừu tượng.
     Màu sắc cụ tượng thì lộ nguyên hình bằng bản chất của nó, như gấm, như hoa, mà ta rờ được, nắm được với đôi tay (palpable); còn sắc màu trừu tượng là thứ gì nửa thực, nửa hư, nghe, thấy mà không làm chủ được nó, ví dụ: ánh sáng, hương thơm, nhạc vui, không gian, thanh khí …
     Màu sắc cụ tượng rất dễ tìm dễ kiếm, trái lại, màu sắc trừu tượng rất khó sáng tạo, vì đây là cái đẹp của thơ, và phải có con mắt của thi nhân, của một kẻ siêu phàm, thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng, phép tắc ấy, và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với màu sắc trừu tượng, thi nhân có cái công phu làm cho trở nên cụ tượng, nghĩa là có thể nắm được một nạm hào quang, lùa không gian vào vạt áo, dồn kinh cầu nguyện về phương Nam, cho hai tiếng sáo đuổi nhau là là…
     Bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, cho vật câm không còn là câm nữa. Đấy là tất cả nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân, nếu thi nhân là một thiên tài! Bích Khê đã tỏ cho ta thấy chàng xứng đáng với hai chữ thiên tài ấy!

Ôi cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân
Mát làm sao, mát rợn cả châu thân
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực.


     Bên những chữ cụ tượng như cặp mắt, bàn chân, châu thân, ngực, thớ thịt rất tầm thường không gợi cho ta một sự rung động tân kỳ nào cả, mà thi sĩ đã khéo đưa cho chúng một nguồn cảm giác tinh thần khiến đôi mắt ngời sắc kiếm, bàn chân được ve vuốt, châu thân mát rợn lên và thớ thịt lại có đàn lên cung bực.
     Và đây là những màu sắc mầu nhiệm mà trí người thường không tạo ra được:

Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xa, cừ hay san hô?

HÀN MẠC TỬ

PRÉFACE pour TINH HUYẾT
HÀN MẠC TỬ

      Dans Le Cerveau Humain comme dans Nudité, la nudité érotique a fait place à la poésie, au parfum, à la musique, à la lune, à la neige. C’est vraiment là une louange si pure et si délicate de la beauté féminine qu’elle enivre et le lecteur et la poésie elle-même de la sensation d’une douceur infinie, indescriptible:

La silhouette d’une rose se dessine à travers le portrait de la Vierge
Oh fille du Ciel! Tu viens régner ici, en cet endroit.
Où te trouves-tu? Tes vêtements, où les as-tu abandonnés
Pour venir exposer ton corps dans sa beauté céleste?
Tu es la neige ou ta peau est faite de neige?
Tu es le parfum ou c’est la beauté devenue parfum?
Tes yeux sont des perles où brillent des éclats sans commun
De tes larmes retenues tombent une paire de baguettes de lumière.
La nuit obscure et mystérieuse repose dans tes cheveux et rêve
Quelques morceaux de lune énivrés illuminent tes lèvres.

     L’intuition du poète est si vive qu’il voit la beauté se transformer en parfum, l’accent des chansons féeriques dessiner des ondes de mélodie séduisante et compare les larmes coulant de ses yeux à une paire de baguettes étincelantes de lumière. Et ses cheveux de geais beaux comme une automne toute fraỵche, le poète le prend pour la nuit en train de rêver dans son sommeil.
      Si le poète n’est pas doué d’une puissance extraordinaire en art poétique, comment peut-il créer pour la jeune fille en description une source de vie en même temps si érotique et si pure? Comment peut-il avoir cette force mystérieuse de séduction vis à vis de la sensibilité humaine?
      La passion pour la recherche de la joie infinie a poussé le poète petit à petit vers le rivage du mystérieux. Son imagination devient dès lors plus riche, beaucoup plus riche. On ne rencontre plus que des sons ingénument badins, mêlés à mille sortes de parfums s’envolant lascivement dans des cages de musique, tandis que des milliers et de milliers de rayons lumineux se heurtent contre l’âme des fleurs, contre des vapeurs étranges. Pas une passion des régions lointaines, ni un sentiment de nostalgie quelconque qui ne soient venus ici pour cette réunion intime qui donne l’impression d’une saison indicible de lune et de poésie.
      Dans le domaine du Mystérieux, on voit toute l’attention du poète portée sur les sons et les couleurs. En parlant de la musique, il pense spontanément aux accents de solitude, aux mélodies qui font vibrer l’espace d’émotion. Car c’est en passionnant pour “le rythme et la légèreté de la respiration au milieu de la rosée” que le poète arrive à créer tant de poèmes d’amour d’une beauté quasi magique. Alors, la musique n’est plus musique. Elle s’est évaporée en parfum, en fleurs, en suavité, en fraỵcheur, en frissons, en délire ou en sanglots, en larmes dans les instants de solitude, parfois en sons clairs et aigus comme des rires d’enfants, amadoués et consolants comme les paroles d’amour l’exigent:

Je pénètre en ton cœur pour lui emprunter quelques paroles de tendresse
Je les emporte au balcon de ma chambre où je chante ma sénérade d’amour
Ma tendresse pour toi n’aura jamais de baisse
Les notes do, ré, mi sonnent à mes oreilles comme des appels chéris
La mélancolie couvre le pêcher pour en garder la fraỵcheur diaphane
La mélancolie s’accroche au pin pour saluer le Printemps revenu
Oh! La voilà maintenant s’attarder sur les branches des platanes
L’or tombe! L’or tombe! Dans l’automne infinie!

      C’est ici tout un ciel d’amour sans borne, un ciel de nostalgie sans fin, ciel d’échos et de souvenirs, ciel de regrets et de trisstesses:

L’or tombe! L’or tombe! Dans l’automne infinie!

      Le poète nous entraîne dans une marche interminable vers le domaine de la tristesse et de la mélancolie à travers des poèmes pleins de douceur, des morceuax de musique palpitant d’émotion – Cithare, Rêve de Cantatrice, Fleurs de Crysanthèmes – vers un monde inconnu de lumières et de sons d’une suavité telle qu’elle nous engourdit la langue et paralyse les dents:

La chaleur dorée frissonne, entourée de parfum dans sa cadence de perle
Les pétales de rose commencent à s’ouvrir partout dans le jardin
D’un rythme calme et serein, respirant la fraỵcheur du matin
La clarté de la lune humectant la nature semble onduler dans l’espace
De quelle région lointaine les hirondelles nous viennent-elles apporter des lettres?
Musique et Poésie semblent s’unir en parfait accord
Voici les longs sanglots sortant des cordes de soie vierge
Voici l’âme du marbre exsangue et décolorée
comme des pétales morts
Au balcon des nuages, qu’est-ce qui brille de la clarté de diamant?
La poésie commence à s’énivrer, s’énivre instannément
O demoiselle! N’y touche pas, la musique est toute vibrante dans la corde
Elle fait naỵtre les rêves, elle résonne dans l’espace
Elle s’élève au sublime, elle s’infiltre dans les grottes de pêchers
O demoiselle-fée, bouffée intégrante de la musique embaumée!

      Nous sommes en présence d’une création bien originale du poète: mettre la césure et la rime (intérieure) au quatrième pied du vers:

… D’un rythme calme et serein, respirant la fraỵcheur du matin
… O demoiselle-fée, bouffée intégrante de la musique embaumée!

      Nous avons l’impression ici que l’onde musicale se trouble, s’en va à la dérive comme des feuilles et des fleurs emportées par la tempête. Des vers très délicats, embaumés de fraỵcheur et d’inspiration des plus énivrantes. Nos poumons, notre cœur, toute notre âme se soulèvent, grandissent, aspirent à un contact amoureux des plus exquis, des plus suaves.
      L’auteur a pleinement réussi en mettant la rime juste sur la césure, au quatrième pied du vers, créant ainsi un effet double à la fois de contradiction individuelle et d’harmonie de l’ensemble.
      Ce n’est pas tout. Bích Khê est un poète aussi calé en poésie qu’en musique, amateur des valses, des menuets, des marches, des sénérades. Très versé dans l’art de la versification occidentale, il sait en exploiter les beautés pour embellir ses œuvres de nombreuses initiatives en matière d’expression et d’harmonie poétiques.
      On peut citer en exemple des passages ayant des réminiscences incontestables des poèmes de Beaudelaire – Réversibilité et Harmonie du Soir – ou de Paul Valéry – Féerie:

La lune donne la couleur jaune, le jaune crée la nappe de blancheur
A la surface du lac, calme comme un poème
Mes pieds avancent dans le rythme, je sens un léger parfum alourdir mon cœur
Voici une poésie sans parole d’une belle nuit de soie.
La lune donne la couleur jaune, le jaune crée la nappe de blancheur
A la surface du lac, calme comme un poème
Mes pieds avancent dans le rythme, comme un léger parfum pèsant sur mon cœur
Voici une poésie sans parole d’une belle nuit de douceur.
La lune donne la couleur jaune, le jaune crée la blancheur
De l’âme de l’automne égarée dans le rêve du soir.

      Le son est la moitié spirituelle du monde, la beauté d’âme du monde mystérieux. L’autre moitié doit être la couleur naissante de la vitalité cristallisée dans un ciel de perles, d’agathes, de pierres précieuses. Il paraỵt que, depuis très longtemps déjà, le poète a eu cette idée nouvelle et audacieuse de se comparer aux phénomènes naturels toujours en état de couver des illusions fantasmagoriques.
      La couleur, comme on le voit dans toutes les littératures du monde, implique toujours deux caractères opposés: la couleur concrète et la couleur abstraite.
      La couleur concrète se manifeste directement de par sa nature, par exemple le velours, les fleurs, visibles et palpables; tandis que la couleur abstraite est quelque chose de réel et d’irréel à la fois, qu’on peut voir, sentir, entendre et comprendre mais qu’on ne peut nullement maỵtriser, par exemple le parfum, la lumière, la musique gaie ou triste, l’espace, l’harmonie …
      La couleur concrète est facile à distinguer parce qu’elle est partout, mais la couleur abstraite est très difficile à se figurer bien plus à créer parce qu’il s’agit ici de la beauté poétique qu’il faut avoir des yeux et des oreilles de poètes, de musiciens, des yeux et des oreilles d’un homme surnaturel, entièrement libéré des liens du monde pour pouvoir concevoir et percevoir cette beauté sacrée, ces principes spirituels et comprendre à fond sa signification essentielle.
      A partir de cette beauté abstraite, le poète peut, par son art, contribuer à la rendre concrète. C’est à dire qu’il peut saisir dans sa main une gerbe de lumière, rassembler tout l’espace dans le pan de son habit, faire parvenir ses prières jusqu’aux contrées australes, faire entendre deux sons de fluâte simultannés qui se poursuivent …
      Forcer l’invisible à devenir visible, la mort à devenir la vie, la sourdité à n’être plus sourdité … Voilà en quoi précisément consistent l’art et l’imagination extraordinaires d’un poète de grand talent. Bích Khê a prouvé qu’il est digne de cette appellation.

Oh! Ces yeux amoureux à l’éclat d’un cimeterre Ce pied amoureux qui caresse un pied
Cette fraỵcheur qui fait tressaillir ma personne tout entière
Qui fait accumuler le sang et inonder mes seins
Oh! Ces fibres de chair qui tendent à devenir un accord de musique …

      Avec des mots concrets – ces yeux, ces pieds, la personne, les seins, les fibres de chair … très ordinaires qui ne nous laissent aucune sensation extraordinaire, le poète a su leur donner une sensation spirituelle, morale: des yeux perçants aux éclats de cimeterre, des pieds qui savent caresser les pieds, toute la personne frissonner de fraỵcheur et les fibres de chair devenir un accord de musique …
      Il s’agit ici des couleurs mystérieuses qu’un esprit humain ordinaire ne peut guère créer:

De qui ces balcons brillant d’un éclat de perles?
De qui ces sourires blancs comme des fleurs de poirier?
Le fond du lac, quelle main l’a tapissé de verre?
Et l’espace lointain, de nacre ou de corail?
 

HÀN MẠC TỬ

____________________________________________

... CÒN TIẾP ...




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ SàiGòn ngày 08.11.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com

 

Các bài khác:
· MỘT NÉT BÍ ẨN CỦA THƠ BÍCH KHÊ
· TÌNH BẠN CỦA BÍCH KHÊ VỚI HÀN MẶC TỬ, QUÁCH TẤN, CHẾ LAN VIÊN VÀ YẾN LAN
· THẾ GIỚI TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· KỶ NIỆM 100 NĂM SINH NHÀ THƠ BÍCH KHÊ-BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
· RA MĂT TẬP SÁCH “BÍCH KHÊ - 100 NĂM” TẠI HÀ NỘI
· BUỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG
· ĐẶNG HUY GIANG BÌNH "TỲ BÀ" CỦA BÍCH KHÊ
· TỲ BÀ CỦA BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ 100 NĂM
· ẤN TƯỢNG 100 NĂM BÍCH KHÊ
· TỔ CHỨC KỶ NIỆM 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
· CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM 100 NĂM BÍCH KHÊ (1916-2016)
· MỘT LIÊN VĂN BẢN: "HOÀNG HOA" CỦA BÍCH KHÊ VÀ BẢN DỊCH "CHINH PHỤ NGÂM"
· TOÀN BỘ THI PHẨM BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIÊM 100 NĂM BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM BÍCH KHÊ CỦA NGÃ DU TỬ
· BÍCH KHÊ, MỘT TRĂM NĂM VÀ HƠN NỮA
· DƯ LUẬN VỀ THƠ BÍCH KHÊ TRÊN SÁCH BÁO VIỆT TRƯỚC 1945
· 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ (1916-2016)
· BÍCH KHÊ: NGƯỜI CÔNG DÂN TRUNG THÀNH CỦA VƯƠNG QUỐC TRƯỜNG THƠ LOẠN
· CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM VÀ DIỄN NGÂM THƠ BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH

 

  
Gia đình Bích Khê