BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BUỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG

                              Nguyễn Duy Long 

                                                                     

Trong Thi thoại tản mạn (VII) đăng trên tạp chí Thơ (số 3, 2014, trang 121 – 5), nhà phê bình Hồng Diệu bực mình về sự bất nhất ở những câu thơ trích in trên sách báo. Ông dẫn ra hai câu danh trấn giang hồ trong bài Tỳ bà của Bích Khê. Xin chép lại 4 trong 6 trường hợp in ở hai cuốn sách mà Hồng Diệu đã trích.

(...)

b) Trong quyển Thơ Bích Khê do Chế Lan Viên, Hà Giao, Nguyễn Thanh Mừng sưu tầm và tuyển chọn, Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình xuất bản năm 1988:

Ô hay, buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông

                                                             (tr.21)

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông

                                                            (tr.43)

c) Trong quyển Tinh hoa, thơ Bích Khê - Lê Thị Ngọc Sương sưu tầm, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 1997:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông

                                                            (tr.18)

Ô! Hay, buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi: thu mênh mông

                                                            (tr.120)

(...)

Do không đủ cứ liệu minh xác nguyên tác hai câu thơ ấy, nhà phê bình cau có: Nếu tìm đọc những quyển sách khác, có dẫn hai câu thơ trên, rất có thể thấy những cách viết khác. Dấu chấm, dấu hai chấm, dấu phẩy, dấu than, chữ viết thường chữ viết hoa cứ lung tung, chả chỗ nào giống chỗ nào.

Muốn phân minh, truy đâu cho xa, chỉ cần phối kiểm bản in đầu chưa đến nỗi thất truyền: Tinh huyết do Trọng Miên in tại Hà Nội năm 1939. Nghe đồn đoán, ấn bản này cực hiếm, chỉ còn chừng vài ba bản, bản chúng tôi dùng nằm trong bộ sưu tập của nhà sưu tập Nguyễn Tuấn Dũng (Sài Gòn)([1]). Xin cảm ơn ông đã chụp giúp một bản làm tư liệu tham khảo. Và thử diện kiến dung nhan ban đầu bài Tỳ bà.  

 

Bản lai chân diện mục của hai câu thơ này là:

Ô ! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi ! Vàng rơi : Thu mênh mông

Quả thực, so sánh các bản với nhau và với nguyên tác, lề lối đặt để dấu câu thật bề bộn và ngổn ngang. Cùng một vị trí như nhau, chỗ này là dấu hai chấm, chỗ kia là dấu than. Đều không phải là chữ đứng đầu câu, viết hoa cũng được mà viết thường cũng xong. Cũng là một dấu câu, khi thì đứng ngay sau chữ này, lúc nhảy sang chữ kế tiếp, rồi lẳng lặng biến mất. Những xáo trộn nho nhỏ ấy là chuyện của văn bản học.

Một ký tự còm cõi nhưng chuyện không hề cỏn con chút nào. Từ dấu than chia uyên rẽ thúy hai chữ “Ô! Hay” biểu lộ sự ngạc nhiên và hân hoan đến dấu than tiêu tao ôm vào sau chữ “Ô hay!” đã cách biệt về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa. Nếu dấu phẩy ngắt “Ô hay” với “buồn vương cây ngô đồng” đôi dòng, đôi ngã thì nhịp thơ ngân luyến hơn? Hoặc giả dấu phẩy ấy khẽ khàng bớt đi thì tiết tấu mềm lặng hơn? Nếu “Vàng rơi !” thứ nhất xoắn xít dấu câu cảm thán như lời mời gọi của loài hoa vương giả thì “Vàng rơi :” thứ hai óng ánh dấu hai chấm như chớm sang cõi vô biên yên tĩnh đến cô quạnh: “Thu mênh mông”.

Tôi tìm đến tập Tinh huyết của Nhà Xuất bản Hội Nhà văn (1995)([2]) mà người đứng tên biên tập là chuyên gia văn học Việt Nam hiện đại: Lại Nguyên Ân. Xem ra, dưới tay người am hiểu văn bản học, câu thơ gần với nguyên văn hơn cả, ngoại trừ việc lạc mất dấu cách bày biện hai bên dấu chấm than và dấu hai chấm: “Ô ! ”, “Vàng rơi ! ” và “Vàng rơi : ”.

Không phải tự dưng như thế. Xưa tiếng Việt phân tách dấu hỏi, dấu than, dấu hai chấm... với ký tự ngay trước đó. Nay ít phổ biến vì quy phạm chính tả du nhập từ khối Pháp ngữ nay chuyển sang cộng đồng Anh ngữ.

Dấu cách như con chữ giấu mặt, vô hình không tướng, đứng trước và sau dấu than, dấu hai chấm... có công năng gì? Một ngắt quãng cần thiết? Hay đơn giản là thói quen kỹ thuật rồi riết thành biểu tượng thẩm mỹ khi bày biện con chữ lên mặt giấy. Với dấu cách, dẫu nội dung không khác gì mấy nhưng thông điệp hình thức đã khác. Mà thơ đâu chỉ cảm nhận bằng thính giác, “đọc”, "nghe" và "ngâm ngacó khi mở rộng biên độ tưởng tượng, “xem”, "nhìn" và “thấy” bằng thị giác nữa.

Chẳng lẽ tất cả các tuyển thơ khác đều rơi vào tình cảnh tương tự? Cho đến giờ, Tinh huyết in nhân Hội thảo Thơ Bích Khê, kỷ niệm 90 năm ngày sinh và 60 năm ngày mất (2006)([3]) đáng tin cậy hơn cả. Ở đây, tuy không nhất quán nhưng Lại Nguyên Ân đặt để dấu cách tách biệt ký tự cuối cùng với dấu than, dấu hỏi, dấu hai chấm... như trong nguyên tác. Và giá như mà ông đừng nhuận sắc chuyện viết hoa hay hỏi ngã (mà không một lời lưu ý người đọc) thì diện mạo tuyển thơ đã gần như nguyên gốc.

Tiếc là nhà văn bản học tham khảo một bản không hoàn hảo (tức là bản còn nguyên mẩu cải chính ngàn vàng đính kèm những chi tiết đáng giá vô cùng). Chính vì thiếu mẩu cải chính này, câu thứ 7 bài Tỳ bà, các bản bấy lâu nay đều sao y lỗi in bản đầu: Tôi không bao thôi yêu nàng. Mẩu cải chính cho biết nguyên ý của thi nhân là Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng.  

Một đằng kẻ bị tình phụ đong đưa tuyệt vọng nhưng vẫn tỉnh táo xác quyết: “Tôi không bao giờ thôi yêu nàng”. Còn đây là tâm thế đuổi bắt giấc mộng mị chưa thành với tiếng “Ôi” thảng thốt, cầu khẩn và van xin tội nghiệp. Từ dằn lòng Tôi không bao giờ thôi yêu nàng đến vật vã Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng vời vợi đến chừng nào.

 

Tạm gác chỗ thêm thắt vô tình, rơi rụng ngẫu nhiên do nhập liệu, dựa vào mẩu cải chính, xin hiệu chỉnh mấy lỗi in trong phần chính văn. Chữ người trong câu Hồn người mê Sắc đẹp trên giường chính là ngươi (Sắc đẹp, trang 46). Thêm dấu huyền vào nhạc tính khác đã đành mà ý vị cũng khác. Cũng vậy, Tả mình lạnh khớp đến hàm răng (Châu III, trang 93), phần chính văn lầm lẫn, Cả chứ không phải Tả.

Theo chỗ tôi đối chiếu, tuy không hề hay biết mẩu cải chính nhưng nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân kịp dọn sửa mấy lỗi in này. Câu thứ 8, bài Cơn mê (trang 32), chữ thế in lầm đã sửa thành chết: Ai bão là tôi chữa chết rồi. Và chữ thường mất cân xứng trong câu Những cánh đau thường sắp mặt lầu (Mộng, trang 43), nghe ngang tai thế nào, đúng ra là thương. Rồi câu cuối cùng của Nàng bước tới (trang 65), chữ vội in nhầm đã sửa thành với: Và hào quang khiêu vũ với hào quang...

Xin kể lể hơi dài dòng về cái lỗi định hình mấy chục năm nay ở bài Mộng. Nguyên văn câu thơ thứ mười bốn là Đừa mông mơ bên suối ngọc tuyền (trang 44). Chủ đích của tác giả viết chữ Đùa hay thợ sắp chữ sai sót thành Đừa (và người sửa in bỏ qua)? Có lẽ người làm sách nghĩ chữ “Đừa” tối nghĩa nên đều cải biên thành chữ “Đùa” cho rõ nghĩa. Có thể chữ Đừa (có dấu móc) kém đặc sắc và thiếu mạch lạc nhưng liệu đó chính là nguyên tác của Bích Khê hay chữ Đùa kia.

 

Thưởng thơ, việc chi khệnh khạng cuốn từ điển và gượng giải ngữ nghĩa khác nhau ra sao. Nhưng cũng đành lấy óc duy lý mà bàn vậy.

Chữ đừa đi vào Đại Nam quốc âm tự vị cuối thế kỷ XIX, đại khái là gạt, đưa đi, xô đẩy nhẹ nhẹ. Mở cuốn từ điển tam ngữ Việt-Hoa-Pháp nửa đầu thế kỷ XX thì thấy chữ đừa được chua Repousser kèm ví dụ Lưỡi đừa cái xương cá và đối dịch bằng Rejeter avec la lange arêtes de poisson([4]).

Còn đùa, trong những từ điển tiếng Việt hiện hành, có hai chữ đồng âm ngẫu nhiên, xếp thành hai mục từ. Mục thứ nhất có nghĩa làm hoặc nói điều gì cho vui, không phải là thật. Mục thứ hai gồm hai từ đồng âm cùng gốc với nghĩa là làm cho xáo trộn lên và dồn về một phía.

Như vậy, trường nghĩa đừa đùa (mục từ thứ hai) phần nào liếc dẫm lên nhau, thể hiện động thái gạt, dồn, xô đẩy vật gì sang một bên. Nhưng nói cho vẹn lẽ, “Đùa mộng mơ” nghe thường tình nhưng “Đừa mộng mơ” chưa từng đi vào thơ và là lối nói lạ hóa của riêng Bích Khê.

Một chữ Đừa kia giàu sức gợi mở, trải dài theo không gian và thời gian. Cái “mộng mơ” phi hình thể biến thành vật hữu hình sờ chạm được. Nơi phàm trần, thi nhân say hoa ghẹo nguyệt, đm mình dưới trăng mờ bên suối ngọc cỏ thơm, đầy màu sắc, âm thanh, hình khối, ánh sáng. Bên này chữ Đừa mạnh bạo còn bên kia chữ Đùa sáo mòn chăng?

Có chữ chưa hiện hữu bao giờ, nhà văn trước bạ vào ngôn ngữ được mà. Huống chi đừa đã thành một ký hiệu trong hệ thống chữ Việt, vì lẽ gì không được phép đi vào câu thơ Bích Khê? Thiết nghĩ, chỗ nào lấn cấn chưa đủ bằng cớ giải mã thì ít ra thả một ghi chú chữ “Đừa” này có lẽ là ”Đùa”.

Câu chuyện văn bản học Tinh huyết không chỉ vậy. Nhìn tổng thể, Tinh huyết kết cấu làm 4 phần: Nhạc và Lệ, Đẹp và Dâm, Cuồng và Ánh sáng, Châu. Ba phần đầu, tên tập thơ Tinh huyết và tên từng bài thơ chạy tiêu đề đầu trang. Nhưng phần thứ tư hơi khác, có thể nói chỉ là một bài nhan đề là Châu, gồm ba đoạn thơ (hay ba bài thơ nhỏ) đánh dấu bằng số La Mã I, II, III hoặc gồm 8 tiểu đoạn mà câu mở đầu được chọn làm tiêu đề đầu trang. Tiêu đề đầu trang này có thể xem như đề mục phụ và là dấu hiệu mở đầu, kết thúc và tách rời từng tiểu đoạn nhằm người đọc dễ tiếp nhận một thi tứ tương đối hoàn chỉnh ở trong đó.

In lại nên chăm chút tiêu đề đầu trang và đắp lại số La Mã như vốn có nếu không sẽ phát sinh ra những dị bản. Hơn nữa, đánh rớt chi tiết nhỏ nhặt ấy, e khó lòng tái hiện trọn vẹn định dạng nguyên gốc. Bản tái bản vốn nhàn nhạt, nảy sinh sai biệt tưởng chẳng phương hại mấy nhưng làm cho phong vị càng nhạt thêm.

Phàn nàn thêm chút về vết xước lềnh khềnh trong Tinh huyết vừa được Nhà xuất bản Nhã Nam tái bản mới đây([5]). Nhà làm sách chứng tỏ sự cẩn trọng với tiêu chí ”theo sát đúng với văn bản đầu tiên” nhưng tỉ mỉ đến đâu và sít sao như thế nào vẫn là dấu chấm lửng... Mà lòng rẻ rủng đã dành một bên. Lẽ ra phải thấu đáo và khoa học hơn mới hy vọng “gương vỡ lại lành” những bản in kế tiếp.

Mấy lệ chứng vừa dẫn cho thấy việc tái sinh như nguyên tác ngó vậy mà muôn phần nhiêu khê. Kể sao cho hết sự lỏng lẻo lối viết ngày xưa? Kể sao cho hết cái rối rắm thói quen hôm nay? Lỗi chế bản sẽ xử lý như thế nào? Giữ nguyên như vậy và mở ngoặc bên dưới lưu ý nguyên bản viết..., đúng ra là... và kèm lý do? Trung thành tuyệt đối với quy phạm chính tả văn bản gốc hay tôn trọng chuẩn chính tả hiện hành? Xưa dùng dấu gạch nối trong từ đa âm tiết còn nay bỏ hẳn thì lược đi cho tiện hay giữ lại cho bằng được? Hay truyền thống đặt để dấu câu của quê hương Bắc đẩu Bội tinh đến giờ vẫn chưa khuất mặt cách lời([6]) có nên gia giảm chút ít sao cho hợp quy cách của xứ sở Nữ thần Tự do? Mạn phép liến thoắng về phương châm ấy hẳn không phải chuyện vẽ rắn thêm chân. Xin hẹn một dịp khác.

                                                                                1.2016

 

 



[1] Theo chỗ tôi phỏng đoán, Tinh huyết 1939 có hai biến thể, khác nhau ở bìa sách, còn phần ruột y như nhau, trang tiêu đề đều in Trọng Miên xuất bản. Ngoài bìa, biến thể 1 ghi Trọng Miên xuất bản và biến thể 2 ghi Nhà Xuất bản Đông phương.

[2] Bích Khê. Tinh huyết. Nxb Hội Nhà văn Hà Nội. 1995.

[3] Thơ Bích Khê (tuyển tập). Thanh Thảo, Lại Nguyên Ân tuyển chọn. Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ngãi. Hà Nội, Quảng Ngãi. 2006.

[4] Gustave Hué. Dictionnaire annamite-chinois-français. Imprimerie Trung hòa. Hà Nội. 1937: 297.

[5] Bích Khê. Tinh huyết. Nxb Hội Nhà văn. Hà Nội. 2015.

[6] Bằng chứng là tập thơ Trần Dần Đi ! Đây Việt Bắc ! (hùng ca – lụa 1957) mới đây của Nxb Hội Nhà văn (Hà Nội, 2010) do họa sĩ Trần Trọng Vũ (thiết kế bìa, trình bày) dùng dấu cách giữa dấu than và ký tự cuối cùng. 

 

Các bài khác:
· ĐẶNG HUY GIANG BÌNH "TỲ BÀ" CỦA BÍCH KHÊ
· TỲ BÀ CỦA BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ 100 NĂM
· ẤN TƯỢNG 100 NĂM BÍCH KHÊ
· TỔ CHỨC KỶ NIỆM 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
· CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM 100 NĂM BÍCH KHÊ (1916-2016)
· MỘT LIÊN VĂN BẢN: "HOÀNG HOA" CỦA BÍCH KHÊ VÀ BẢN DỊCH "CHINH PHỤ NGÂM"
· TOÀN BỘ THI PHẨM BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIÊM 100 NĂM BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM BÍCH KHÊ CỦA NGÃ DU TỬ
· BÍCH KHÊ, MỘT TRĂM NĂM VÀ HƠN NỮA
· DƯ LUẬN VỀ THƠ BÍCH KHÊ TRÊN SÁCH BÁO VIỆT TRƯỚC 1945
· 100 NĂM NHÀ THƠ BÍCH KHÊ (1916-2016)
· BÍCH KHÊ: NGƯỜI CÔNG DÂN TRUNG THÀNH CỦA VƯƠNG QUỐC TRƯỜNG THƠ LOẠN
· CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM VÀ DIỄN NGÂM THƠ BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH
· BÍCH KHÊ – MỘT TÀI THƠ ĐỘC ĐÁO
· ĐÊM THƠ - NHẠC KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT BÍCH KHÊ
· CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM THƠ KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ QUA CẢM NHẬN CỦA PHẠM DUY
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ TRẺ MÃI THEO THỜI GIAN
· ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ PHÁP TRONG THƠ MỚI VÀ THƠ BÍCH KHÊ, HÀN MẶC TỬ

 

  
Gia đình Bích Khê