BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ: NGƯỜI CÔNG DÂN TRUNG THÀNH CỦA VƯƠNG QUỐC TRƯỜNG THƠ LOẠN

                                                                   Bùi Thụy Đào Nguyên



Bích Khê (1916 -1946) là một nhà thơ tiền chiến nổi tiếng của Việt Nam.
Ngoài bút hiệu trên, ông còn ký bút hiệu '''Lê Mộng Thu''' khi sáng tác thơ Đường luật.

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông là con thứ chín trong một gia đình nho học, người ông từng tuẫn tiết vì không chịu theo Nguyễn Thân đàn áp cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.
Thuở nhỏ, Bích Khê học tiểu học ở Phước Lộc và Đồng Hới, học trung học ở Huế rồi ra Hà Nội học ban tú tài nhưng nửa chừng bỏ dở.

Năm 1931, 15 tuổi, ông đã biết làm thơ Đường luật, ca trù.
Năm 1934, cùng người chị ruột tên Ngọc Sương vào Phan Thiết mở trường dạy học tư và học thêm.
Năm 1936, chị Ngọc sương bị mật thám Pháp bắt, trường đóng cửa, Bích Khê trở lại quê nhà.
Năm 1937, bị bệnh phổi, sau khi điều trị trở về lên sống trên núi Thiên Ấn thuộc Quảng Ngãi, rồi lại ngược xuôi trên một chiếc thuyền quanh các ngả Sa Kỳ - Trà Khúc.
Năm 1938, lại cùng chị Ngọc Sương (khi ấy đã được thả) vào Phan Thiết mở trường dạy học, được vài năm lại bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa.
Năm 1941, Bích Khê dạy học ỏ Huế.
Năm 1942, bệnh phổi tái phát, ông trở về Thu Xà. huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 17 tháng 1 năm 1946, Bích Khê lìa bỏ cõi đời và cõi thơ lúc 30 tuổi.

Trước khi đến với Thơ mới, một thời gian dài (1931-1936), Bích Khê đã viết ca trù, thơ Đường luật, đăng trên các báo Tiếng Dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới...
Sau 1937, ông chuyển hẳn sang làm thơ mới do sự tác động của Hàn Mặc Tử và chịu nhiều ảnh hưởng của nhà thơ vắn số này...

Các sáng tác của Bích Khê:
-Tinh Huyết (1939): tác phẩm duy nhất ra đời khi ông còn sống và rất được người yêu thơ chú ý.
Bốn tập thơ & một tập tự truyện chưa xuất bản, gồm:
-Tinh Hoa (sáng tác từ 1938 đến 1944)
- Đẹp (sáng tác năm 1939)
- Ngũ Hành Sơn (chưa có thông tin)
- Mấy dòng thơ cũ (tập hợp khoảng 100 bài thơ đường luật đã đăng trên các báo từ 1931-1936)
- Lột truồng (tự truyện, chưa rõ năm sáng tác).

Người lưu giữ thơ Bích Khê đầy đủ nhất là thi sĩ Quách Tấn. Năm 1971, Quách Tấn viết và cho xuất bản cuốn Đời Bích Khê. Năm 1975, ông cho in Thơ Bích Khê (Nxb Nghĩa Bình, 1988) và Bích khê tuyển tập (Hà Nội, 1988)...
Dù không có tuyên ngôn, nhưng trong tập Tinh huyết, các bài như: "Mộng cầm ca", "Đôi mắt", "Xuân tượng trưng", và đặc biệt là bài "Duy tân" thể hiện khá rõ quan niệm sáng tác thơ của Bích Khê.

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã chọn bài thơ này cùng với bài "Xuân tượng trưng" để in trong phần giới thiệu thơ Bích Khê.

Trích Duy Tân:

…Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp - Hạt châu trong -
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng...
...Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theo Ta
Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa
Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy,
Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy
Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương
Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương!
(Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)
Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật,
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người !


Đánh giá tập thơ Tinh huyết của Bích Khê, trong bài tựa, Hàn Mặc Tử viết:
"Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị... Và đem phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau: Thơ tượng trưng, thơ huyền diệu và thơ trụy lạc...Sự điên cuồng ấy uyên nguyên ở một phần thiên tài, và ở một phần sự "Đau khổ"..."

Theo Hoài Thanh và Hoài Chân thì Bích Khê có những câu thơ hay nhất Việt Nam, như:
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông...

Hay:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương...

Nhưng liền sau đó hai tác giả thú nhận:
"Tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài ''Duy Tân''. Tôi thấy trong đó những câu thơ thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa...Còn các bài khác hoặc chưa xem hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc...: (Nxb Văn học, 1988, tr. 231-232)

Trong Từ điển văn học bộ mới, Nguyễn Huệ Chi nhận xét:
Thơ Bích Khê mang rõ phong cách mang rõ phong cách Trường thơ Loạn. Và tính chất tượng trưng là đặc điểm quán xuyến toàn bộ thơ Bích Khê. Làm tăng tính chất tượng trưng ấy là màu sắc được sử dụng êm dịu, chói chang hay huyền ảo; và âm thanh tạo nên chất nhạc du dương cho khá nhiều bài. Tính tượng trưng đôi khi làm biến dạng hẳn cảm giác thực của người đọc và gây nên những ảo giác, khi tiếp xúc với đối tượng diễn tả của Bích Khê; cái chết rùng rợn thành hương sắc, khoái cảm xác thịt trở thành ghê gợn, và ngay cả màu sắc, âm thanh cũng không còn là màu sắc, âm thanh nữa mà trở nên hư hư, thực thực...Tuy nhiên, bút pháp tượng trưng đặc sắc và luôn tìm tòi cái mới ấy, vẫn không che giấu được hai nguồn cảm hứng thường trộn vào nhau và hằn rõ trong thơ Bích Khê, đó là nhục cảm và cuồng loạn...''

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, thì:
Với Tinh huyết, "Thơ mới" chuyển từ lãng mạn sang tượng trưng và siêu thực.
Ở Tinh huyết phần lớn là bí hiểm, nhưng vẫn có thể nhìn thấy trong đó một hồn thơ đắm đuối, cuồng nhiệt. Nhà thơ có nhiều tìm tòi đổi mới thơ ca theo hướng chủ nghĩa hiện đại, đi sâu vào cõi vô thức. Có một số bài, một số câu ý tứ mới mẻ, nhạc điệu du dương...'' (Nxb Hà Nội, 1995, tr. 215)

Với bạn thơ, Bích Khê rất thân thiết với Hàn Mặc Tử. Hai thi sĩ này có số phận khá tương đồng: cả hai đều từ thơ cũ (thơ Đường luật) chuyển sang thơ mới, đều mắc bệnh nan y, đều tài hoa và chết trẻ.

Năm 1935, Hàn Mặc Tử ra Phan thiết gặp Mộng Cầm, cháu Bích Khê, nên Hàn biết người cậu trẻ này. Buổi gặp gỡ giữa hai thi sĩ diễn ra khá nhạt nhẽo. Mãi đến năm 1937, khi Bích Khê đọc được những sáng tác của Hàn trong tập Đau thương (bản đánh máy), ông mới thực sự cảm phục mà thư từ qua lại.
Gần cuối năm 1938, Bích Khê gửi cho Hàn Mặc Tử nhiều thơ, bị trả lại kèm theo lời ''khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức)''. Ông xé nát tập thơ đó và thề là ''Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng đã bật nẩy thiên tài của chàng ra...chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết được tập thơ bằng máu huyết, tinh tủy và châu lệ, tất cả say sưa đắm đuối của một tâm hồn thi sĩ...'' Cuối năm 1939, tập thơ ra đời với bài tựa do Hàn Mặc Tử viết, đã gây nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ.
Sau, Mộng Cầm có chồng, thấy Hàn Mặc Tử cứ đau khổ mãi, trong một lần ra thăm, Bích Khê tặng cho Hàn bức ảnh của ông chụp với chị Ngọc Sương rồi giới thiệu là chị mình cũng am hiểu văn chương và rất thích thơ Hàn. Đối ảnh sinh tình, Hàn Mặc Tử viết bài ''Người Ngọc''. Trong bài, hai chữ Ngọc Sương được lồng vào thơ một cách kín đáo: ''Ta đề chữ ngọc trên tàu lá - Sương ở cung thiềm giỏ chẳng thôi - Tình ta khuấy mãi không thành khối - Nư giận đòi phen cắn phải môi...''(khi biết chuyện, Ngọc Sương đã yêu cầu em dừng ngay trò mai mối lại).
Ngày 11 tháng 11 năm 1940, Bích Khê như người mất hồn vì sự ra đi của Hàn mặc Tử - người bạn thơ mà ông hết lòng mến yêu.(Những từ nghiêng đều trích từ thư & thơ của Hàn Mặc Tử, dẫn theo ''Hàn Mặc Tử - hôm qua & hôm nay'', Nxb Hội nhà văn, 1966, tr. 127-128)

Và, theo Trần Thị Huyền Trang: Hàn Mặc Tử mất (1940), Trường thơ Loạn bắt đầu tan rã. Mặc dù Yến Lan, Chế Lan Viên và Bích Khê vẫn chơi thân với nhau, song không còn ai tha thiết với việc duy trì hoạt động Trường thơ. Nó còn tồn tại một thời gian nữa, rải rác trong các sáng tác của Bích Khê và kết thúc cùng với sự qua đời của "người công dân trung thành của vương quốc (Trường thơ Loạn)" là Bích Khê vào năm 1946.'' (Hàn Mặc Tử, hương thơm và mật đắng'', Nxb Hội nhà văn, 1990, tr. 56-57).

Thơ Bích Khê:


Làng em
Nơi đây: làng cũ buồn hiu quạnh !
Anh có khi nào trở lại chưa ?
Ngày đi chậm lắm, dòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.

Nơi đây thành phố đời ngưng mạch
Mấy nàng lai khách vẫn buồn mơ
Đường lên hội quán sương khuya xuống
Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hồ?

Anh có khi nào còn trở lại
Chờ lúc hoàng hôn trăng đã lên
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền.

Là lúc về đêm trên mái ngói
Những nhành nhãn muộn cánh dơi lay
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình đậm theo trăng sáng sáng đầy...


Nấm mộ
Mây tuyết thời gian bay tợ nhạc
Hồn tôi đã thoát để tiêu dao
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao
Rồi những mùa thu vô hạn thương
Trở về dưới biếc chập chờn hương
Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ
Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương''
Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn già viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi.


Ngoài ra, Bích Khê còn có nhiều bài thơ tượng trưng, như Duy tân, Tỳ bà, Nhạc, Mộng cầm ca..., nhiều bài thơ vừa tượng trưng vừa nhục cảm, như Tranh lõa thể, Xác thịt, Sắc đẹp...rất được người yêu thơ chú ý...



Long Xuyên, tháng 10 năm 2008.

 

Các bài khác:
· CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM VÀ DIỄN NGÂM THƠ BÍCH KHÊ NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH
· BÍCH KHÊ – MỘT TÀI THƠ ĐỘC ĐÁO
· ĐÊM THƠ - NHẠC KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT BÍCH KHÊ
· CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM THƠ KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY MẤT BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ QUA CẢM NHẬN CỦA PHẠM DUY
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ TRẺ MÃI THEO THỜI GIAN
· ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ PHÁP TRONG THƠ MỚI VÀ THƠ BÍCH KHÊ, HÀN MẶC TỬ
· THƠ TƯỢNG TRƯNG - MẢNG THƠ BỊ BỎ QUÊN
· CÁI BUỒN CỦA MỘT THIÊN TÀI
· CÁC BIỂU TRƯNG, BIỂU TƯỢNG TRONG NGỌN “BÚT THẦN” CỦA BÍCH KHÊ
· MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ
· NHẬN DIỆN BÍCH KHÊ
· CHÙM THƠ TRĂM NĂM BÍCH KHÊ
· "THUẦN TÚY" VÀ "TƯỢNG TRƯNG" CỦA BÍCH KHÊ
· TÌNH TANG TÔI NGHE NHƯ TÌNH LANG...
· CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT BÍCH KHÊ VEN VỰC HỒNG
· NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
· CỔ LŨY CÔ THÔN
· RẰM CUỐI NĂM, KỂ CHUYỆN BÍCH KHÊ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU XỨ BÀN THÀNH BÌNH ĐỊNH

 

  
Gia đình Bích Khê