BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ TRẺ MÃI THEO THỜI GIAN

                                  Lê Sơn Phương Ngọc

Tám mươi năm qua, vào năm 1931, kể từ khi thi sĩ Bích Khê gởi đăng báo bài thơ đầu tiên, liên tục đã có biết bao nhiêu người đọc và bình luận thơ Bích Khê. Một điều rất lạ là người hiện đại đọc thơ Bích Khê vẫn có mối cảm xúc tươi nguyên của ba bốn thế hệ cha ông về trước. Người thời nào cũng xúc động thích thú khi đọc những câu thơ nóng bỏng của tình yêu muôn thuở với lời lẽ như thế này:

Ai giam lỏng một vì sao giữa mắt,

Ánh con ngươi hàm súc biết bao lời

Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời

Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ

Nàng bước tới là tim tôi lay đổ....

...

Ôi cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm

Một bàn chân ve vuốt một bàn chân

Mát làm sao mát rợn cả châu thân

Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực....                    

                   (Bích Khê, Nàng bước tới)                                                                                                         

Nghe như những câu thơ hip hop của một thi sĩ hiện đại. Với cảm xúc vượt thời gian, bài thơ này đã xuất hiện đã hơn nửa thế kỷ về trước.

Bích Khê mang căn bệnh lao phổi, bệnh nan y thời những năm 1930, 1940, nhà thơ nói về những ngày bị bệnh và nỗi hoài vọng về cuộc sống vô cùng kỳ diệu này:                                

Thân bệnh ngô vàng mưa lá rụng

Bút thần sông lạnh bóng sao rơi

Sau nghìn năm nữa trên trần thế

Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi

                                            (Sđd, Đề bia trước mộ).

Bích Khê qua đời nhằm lúc quốc gia hữu sự, năm 1945, Chế Lan Viên đã tìm đến thăm, đọc lời thơ Bích Khê để lại:          

                                 Đầy cỏ xôn xao mây lớp phủ

                                 Trên mồ con quạ đứng im hơi”.         

                                                                              (Sđd, Nấm mộ).

Tám mươi năm qua, thơ Bích Khê đã được người ta tán thưởng ngâm nga, phổ nhạc, biểu diễn trong những sinh hoạt văn hóa tao nhã. Người ta nghiên cứu thơ Bích Khê, và càng về sau càng phát hiện nơi thơ Bích Khê nhiều điều mới lạ lý thú. Tám mươi năm qua, nhiều lớp người đã tỏ ra yêu mến thơ Bích Khê và ngưỡng mộ con người Bích Khê, họ trân trọng xem Bích Khê là một tài năng hiếm hoi trong làng thơ Việt Nam. 

Trong số những người say mê thơ Bích Khê, có nhiều người viết bài đăng báo, in sách. Họ đưa ra nhiều nhận xét thâm thúy, thú vị.

 

o0o

 

Thời Tiền chiến, từ cuối những năm 1930, thi sĩ tài danh Hàn Mặc Tử đã phát hiện tính thần dị ở thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử viết:

Chàng đã viết được tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ, và tất cả say sưa đắm đuối của một hồn thi sĩ.... Một bông lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể sánh thơ Bích Khê như một đóa hoa thần dị ấy... Bích Khê là người có tài, có sẵn cái tài đã lâu, chỉ gặp cơ hội phát triển, là bao nhiêu anh hoa đều tiết lộ ra cả....Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, hai hàng nước mắt như hai chiếc đũa ngọc...Ở địa hạt huyền diệu ta thấy thi nhân chú trọng đến âm thanh và màu sắc, thi nhân đã sáng tạo được nhiều bản ca thần tình diễm ảo, và nhạc lúc bấy giờ đã không còn là nhạc nữa...

                                       (Sđd, các tr. 100, 101, 103, 104).

Đầu những năm 1940, Hoài Thanh, nhà nghiên cứu kiệt xuất về phong trào Thơ Mới, đã xếp thơ Bích Khê vào chiếu đầu trên thi đàn, nhà nghiên cứu tài năng ấy đã viết:

Tôi đã đọc trong tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

...

Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm

Nàng là hương hay nhan sắc lên hương

                                        ...                               

“Thi sĩ Bích Khê nhìn vào thực tế thì sự thật sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu...Nhưng tôi chưa thể nói nhiều về thơ Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài ‘Duy tân’. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp...Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó...Mà thơ Bích Khê đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc...”

                                                           (Sđd, các tr. 110, 111).

Mãi đến thời đại chúng ta, nhận định của Hoài Thanh vẫn còn nguyên gía trị. Bài “Duy tân” vẫn còn có nỗi niềm của riêng nó:

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới,

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng của chiều thu sóng nắng

Trong vòm xanh. Mu cưới màu, bình lặng

Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ

Vì hình dung những sắc mát, non, tơ

Như mặt trời lọt qua khóm liễu, một

Hoàng hôn. Ôi! Đàn môi chim báu tớt:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm

Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sầu câm

Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng

 

Lúc trong ngâm, giữa kho vàng mộng tưởng

....

 

o0o

 

Sau thời Tiền chiến, là thời Kháng chiến “Ba mươi năm gian khổ” của Dân tộc Việt Nam. Người ta phải xếp những nỗi niềm riêng tư vào tận đáy tâm hồn để sẵn sàng cho sự nghiệp chiến đấu trường kỳ và nhiều người đã ôm trọn niềm riêng tư ấy vào cõi vĩnh hằng một cách cao cả. Nhưng cũng có những phút giây ngơi nghỉ trên chặng đường quá dài ấy, có người lại nhớ đến Bích Khê.

Năm 1950, nhà thơ Quách Tấn hồi tưởng về tuổi thơ của Bích Khê với biểu hiện khác thường mà hết sức gần gũi chân thật:

Tại Thu Xà, Quảng Ngãi cách đây chừng bốn mươi năm có một cậu bé ngày ngày hì hục lê những tảng đá ong, tập trung những viên ngói bể, gạch bể vào trong sân rồi cặm cụi cất nhà cửa lâu đài. Cậu bé thui thủi làm việc một mình, làm việc rất chăm chỉ, rất tỉ mỉ. Cậu bé ấy tập xây dựng lâu đài văn chương, và khi trưởng thành cậu bé ấy đã trở thành một nhà thơ được nhiều người ca tụng hết lời...Kẻ trồng hoa ấy, cậu bé tập xây dựng lâu đài văn chương qua đời ở tuổi 29 và hiện còn để lại cho chúng ta hai tập thơ: Tinh Huyết và Tinh Hoa”

                                (Tạp chí Văn, số tưởng niệm Bích Khê, Saigon, 1966)

Từ những năm 1960, nhà nghiên cứu Tam Ích lại làm cuộc xếp hạng rất lạ, ông đã làm nổi bật tính độc đáo của hai nhà thơ Hàn Mặc Tử và Bích Khê, mà ông cho là có tầm cỡ hơn những cây đại thụ Xuân Diệu, Huy Cận, Đông Hồ, Quách Tấn. Thơ Bích Khê còn đáng tầm của những “thuở thơ” Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Tản Đà, Thôi Hiệu:

 Tôi thường nói Xuân Diệu và Huy Cận tiền chiến là thi nhân tượng trưng, thuộc thi phái Tượng trưng vì họ vay mượn Malharmé, Verlaire...Đã vay mượn thì nhà thơ dù có tài cũng chỉ có quyền hãnh diện một cách tương đối...Có mấy người không hề vay mượn mà vẫn là những thi nhân có vị trí riêng biệt trong thi giới: Những người làm thơ mới theo hình thức cổ như chạm trổ đồ trang sức của những đời vương giả đã khuất: Quách Tấn, Đông Hồ...Chúng ta thêm vào đó hai người có kích thước: Hàn Mặc Tử và Bích Khê, hai người làm thơ Tượng trưng mà gần như không vay mượn của chân trời Âu Tây một mẩu âm thanh nào. Đất Á Đông vốn là đất phong phú về nhạc tính, nhạc tính là vốn liếng Á Đông có từ ngàn năm, từ muôn thuở, người làm thơ chỉ cần nuôi dưỡng tình ý và nuôi dưỡng tài làm thơ, nhạc tính từ đó vang lên, vang lên...

Và là thơ Bích Khê- trong bao nhiêu bài thơ của con người tài hoa bạc mệnh: thơ là sự phối hợp của âm thanh, thơ là sự tràn trề của tình ái, nhiều nhịp nhiều khúc nhiều hướng, một ngàn lẻ một đêm nhiều trăng sao, thiếu trăng sao buồn như nước mắt, buồn như những nỗi, những mối, những ngổn ngang, buồn như tha ma mà không buồn rầu như tang, buồn như rượu nồng, buồn hề, buồn đĩa ngọc mâm vàng...buồn như một bài nhạc buồn đầy nhạc tính...buồn không ủy mị... Ngàn năm mới có một thuở... thơ như thế.Cũng như một ngàn năm mới có một Nguyễn Du trong ‘Truyện Kiều’, một thuở ‘Tình quê’ của Hàn Mặc Tử, một thuở ‘Tống biệt’, ‘Cảm thu’ của Tản Đà, cũng như một ngàn sau về ngàn xưa có ‘Hoàng Hạc lâu’ của Thôi Hiệu.

                         (Bích Khê, Nàng bước tới ).

Năm 1988, nhà thơ Chế Lan Viên trở lại Thu Xà thăm mộ Bích Khê, nhà thơ lớn ấy đưa ra hình ảnh so sánh hai nhà thơ lớn Nguyễn Bính và Bích Khê:

“Nếu Nguyễn Bính là một đồng bằng thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực, lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống trên tay. Bích Khê thuộc vào loại thứ ha.i

Khê duy tân trong ‘nhạc’. Xưa nay ta hay dùng bằng trắc. Nay cùng Xuân Diệu ở ‘Nhị hồ’, cùng Xuân Sanh trong bài thơ ‘Tay sưong lam mờ...’, Bích Khê cũng dùng vần bằng làm chủ lực. Nhưng Xuân Sanh, Xuân Diệu chỉ làm một bài. Bích Khê không chỉ để thể nghiệm mà sản xuất đại trà, chủ trương tạo hẳn một thể loại. Khê duy tân trong lối tạo hình. Hình ảnh cũ vốn tĩnh. Khê làm cho nó động, hoạt động. Trăng như sữa thì xưa, Khê làm cho trăng ấy thành sữa, sữa khi nhỏ giọt, nhỏ từ vú hẳn hoi là các núm đồi:

Nâng lên núm vú đồi

Sữa trăng nhi nhỉ giọt.

Hình ảnh động theo bề dọc thời gian và bề ngang không gian... Khê đánh động bộ não của trí tuệ, nó đẻ ra những từ khô khốc, gồ ghề cũng rất cần trong việc kiến trúc lâu đài thơ chớ sao?

                              Đường kinh tuyến hút nhiễm chất vô hình

                              ...

                              Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời

                              Chữ bí mật chứa ngầm hơn chất nổ,

Nhà thơ Hoàng Trung Thông viết cho tôiLàm tuyển Hàn Mặc Tử rồi, chờ gì mà không làm tuyển Bích Khê đi? Mình rất thích thơ cậu ấy.’ Anh Vũ Quần Phương, một cây bút phê bình thơ tầm cỡ, cũng vừa viết thơ cho tôi nhắc chuyện Bích Khê. Tôi tin không lâu nữa, Khê sẽ có mặt trong các tuyển toàn quốc.”.

                                                                        (Bích Khê, Tựa)

Đó là các khẳng định của những nhà thơ, nhà nghiên cứu có tiếng thời trước kháng chiến mà trong và sau kháng chiến phần lớn họ là cây đa cây đề trên diễn đàn văn học Việt Nam. Sự nghiệp kháng chiến của toàn dân tộc kéo dài suốt ba mươi năm, người ta phải vùi đầu vào trăm công ngàn việc của cuộc chiến đấu. Đó là lẽ tất nhiên, nhưng khi hòa bình được lập lại, người ta lại có điều kiện nghiên cứu về Bích Khê. Chúng ta hãy xem thế hệ những người trẻ hơn, lớp người những năm 1970, 1980, 1990 họ nói gì. Họ khảo sát thơ Bích Khê theo cảm nhận mang tính thời đại. Họ đưa những nhận xét hết sức mới mẻ.

Những vị đã sống thời Tiền chiến và Kháng chiến, nhưng sau này mới viết về Thơ Bích Khê như Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ, nhà nghiên cứu Hoàng Thiệu Khang.

 GS Lê Đình Kỵ cho rằng:

Nhưng Xuân Diệu cũng như Bích Khê trước hết là những nhà thơ của Việt Nam, của Đông phương. Dù mới mẻ, “man dại” thì cũng không bật khỏi gốc rễ dân tộc. Có lẽ trong thơ ca, hồn dân tộc dễ nhận ra hơn cả là ở nhạc điệu của thơ. Điều may mắn đối với Bích Khê cũng như đối với thơ ca Việt Nam nói chung là dù có hướng tới hiện đại đến đâu cũng không coi thướng tính nhạc của thơ...Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời”.

                                      (Báo Thanh niên, Thứ ba 21-1-1997).                                                  

Nhà nghiên cứu Hoàng Thiệu Khang thì nhận xét:

Thơ mới chưa mới được như thơ Bích Khê về cả hai phương diện nội dung cảm hứng và cấu trúc ngôn ngữ thơ. Bích Khê đã thực thi một đoạn tuyệt cao hơn thời đại mình với thơ cũ và một thách đố đáng sợ hơn với thơ đương đại... Họa không phải là bản thể của ngôn ngữ thơ, cho nên thơ thường phải mượn đến họa. “Thi trung hữu họa” là một lời dặn dò của kinh nghiệm làm thơ. uốn vào trong thơ như là cái bản thể của thơ thì họa phải tự hủy cái chất tạo hình vật lý cụ thể của mình, nghĩa là phải hủy cái cái hình thái tự nhiên vốn dĩ của mình để hóa thân thành họa siêu hình – cái họa lung linh trong cảm xúc của một người, khúc xạ trong một chất chủ quan cá thể. Thơ Mới chưa ai làm điều ấy, chỉ trừ một Bích Khê”... Thơ đích thực lại là ngôn ngữ biểu hiện mà thơ Bích Khê chỉ là ngôn ngữ biểu hiện....”.

                                      (Tạp chí Xưa và Nay, các tr. 34, 37).

Lớp trẻ hơn, thế hệ sinh viên thời đấu tranh chống Mỹ như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì nhất quyết:

Nếu người ta tổ chức bình chọn trong công chúng bạn đọc về một danh sách ‘top ten’ của Thơ Mới, tôi tin rằng đa số ý kiến sẽ thống nhất khá dễ dàng với mười tên tuổi thi nhân dẫn đầu phong trào thơ Tiền chiến. Đó là bình về thơ nói chung. Còn nếu nhấn mạnh trên chữ MỚI, theo tôi chủ yếu chỉ có hai: Xuân Diệu và Bích Khê.... Bich Khê đã ghé lại cõi đời này trong chốc lát, chỉ để làm xong một việc, là ĐỔI MỚI THƠ, và làm cho giàu có sang trọng thêm tiếng nói của dân tộc mình”.

                                                   (Tuổi trẻ chủ nhật, 1997)

Nhà nghiên cứu Huy Khanh cảm giác được mùi hương:

Thơ Bích Khê tràn ngập mùi hương, có thể nói đó là một thế giới toàn hương từ cảnh vật chung quanh lan tỏa ra, hòa nhập vào tất cả, đồng hóa với tất cả sự vật, Tranh cũng là hương. Tất cả các loại hương ấy được nhà thơ tiếp nhận, tinh lọc, thăng hoa qua một khiếu thẩm mỹ cực kỳ nhạy bén, tinh tế... Khó ai quên được mùi hương hoàng lan kỳ diệu khó tả của Thạch Lam. Khó ai không bồi hồi khi đọc những những lời trăn trối đẫm mùi hương của Bích Khê”

                        (Bích Khê, Nàng bước tới)

 Nhà thơ Thanh Thảo thì đi sâu vào nội tâm mang tính Phân tâm học:

Không phải đỉnh núi hay đáy vực làm nên thơ hay mà chính là lúc đang rơi, lúc lơ lửng giữa đỉnh và vực là lúc mà nhà thơ có được những thi phẩm xuất thần....bây giờ đọc lại vẫn thích, vẫn gây được cảm xúc mới, vì trong đó phần cảm giác đã được đẩy lên thành tiên cảm, những vết thương phơi trần ra, phần ý thức chìm lặng, ngôn ngữ thơ trở thành mờ đặc như những viên gạch xây giản dị nhưng che khuất cái khoảng trống bên trong...”

                                                  (Tuổi trẻ chủ nhật 26-7-1997)

Họa sĩ  Đinh Cường thì thấy màu sắc, âm thanh:

 Thơ Bích Khê là cái hợp đề của muôn vàn sự thắc mắc, xao xuyến trong lòng, trong hồn, trong da thịt, với màu sắc đậm đà, với âm thanh huyền diệu, đã đem lại cho người đọc một cảm giác hứng thú mà trong đó có hồn thơ. điệu thơ, ý thơ đã gây nên...”.

            (Tạp chí Văn, số tưởng niệm Bích Khê, Saigon, 1966)

Năm 2003, nhà thơ hiện đại Trúc Thông có cái nhìn rất mới về thơ Bích Khê, có thể đây là một tổng kết sơ bộ thơ Bích Khê thật tài tình:

Con người sống có ba mươi mốt năm ấy đã cống hiến toàn bộ tinh anh cho thi ca. Bích Khê tàn tạ chính vì cường lực ông đã dành toàn bộ cho thơ. Thơ hiện đại Việt Nam rất biết ơn người ‘liệt sĩ’ ấy. Cùng với Hàn Mặc Tử, và còn gấp gáp hơn, gay gắt hơn người bạn lớn kia, Bích Khê muốn tách một dòng riêng trong Thơ Mới, một dòng mới hơn, khác hơn, lạ lùng hơn, ‘thuần túy’ thơ ca hơn. Chính tài năng của Bích Khê đã hàm chứa đầy đủ những ‘phẩm tiết’ của thi pháp Thơ Mới. Nhưng ông vừa ở trong đó lại vừa vẫy thoát, vừa hòa nhập lại vừa đòi ly khai. Bản chất sáng tạo trẻ trung của ông, những nhu cầu bức bối bên trong đòi hỏi cách xử lý mới những vật liệu đã cũ. Bích Khê là người muốn đập vỡ khối kính vạn hoa để tìm ra những vạn hoa nữa. Người muốn phát giác một thứ âm nhạc khác của ngôn từ, Người mang thiên năng nghệ sĩ, hứng cảm luôn đòi hỏi ‘vượt thoát’. Trong đôi mắt đắm đuối của nhà thơ, như một định mệnh, bao giờ cũng cháy lên ánh không yên của năng lượng nghệ thuật. Trong di sản không cao về số lượng của thơ Bích Khê, lại có nhiều câu thơ rất ám ảnh. Những câu thơ cực hay về chất nhạc, chất tạo hình, chất mộng mị, chất trí tuệ, chất man dại (hiểu theo nghĩa nguyên thủy, hoang sơ), chất lõa thể (hiểu theo nghĩa thuần túy, tượng trưng). Trong thơ Bích Khê, có khi ta thấy nghiêng về chất này, có khi nặng về chất kia, nhưng rất thường tổng hợp, nhuyễn vào nhau, không thể dùng lo-gic giản đơn thô thiển mà soi rọi được... Rõ ràng đây là một người sinh tử vì thơ, một đời khao khát đạt tới thơ chính phẩm.

                                       (Văn nghệ, Phụ bản Thơ quý II, 2003).

Còn có nhiều người nữa viết về Bích Khê và Thơ Bích Khê với những phát hiện luôn luôn mới lạ. Có người viết nhiều bài trong những thời kỳ khác nhau, càng về sau càng mới mẻ, súc tích. Hoài Thanh, Hoài Chân chẳng đã từng đưa ra nhận định: “mà thơ Bích Khê đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc” đó sao? (Thi nhân Việt Nam).

Suốt tám mươi năm qua, con người Bích Khê, thi tài Bích Khê ngày càng tỏa sáng trong lòng người đọc qua nhiều thế hệ liên tiếp. Tôi tin rằng Bích Khê, nhà thơ trẻ mãi theo thời gian. Tôi tin rằng tài năng Bích Khê chắc chắn sẽ có vị trí xứng đáng trong xã hội và trên văn đàn.

 

                                                                        Ngày 06-9-2009

                                                                 

 

Các bài khác:
· ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ PHÁP TRONG THƠ MỚI VÀ THƠ BÍCH KHÊ, HÀN MẶC TỬ
· THƠ TƯỢNG TRƯNG - MẢNG THƠ BỊ BỎ QUÊN
· CÁI BUỒN CỦA MỘT THIÊN TÀI
· CÁC BIỂU TRƯNG, BIỂU TƯỢNG TRONG NGỌN “BÚT THẦN” CỦA BÍCH KHÊ
· MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ
· NHẬN DIỆN BÍCH KHÊ
· CHÙM THƠ TRĂM NĂM BÍCH KHÊ
· "THUẦN TÚY" VÀ "TƯỢNG TRƯNG" CỦA BÍCH KHÊ
· TÌNH TANG TÔI NGHE NHƯ TÌNH LANG...
· CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT BÍCH KHÊ VEN VỰC HỒNG
· NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
· CỔ LŨY CÔ THÔN
· RẰM CUỐI NĂM, KỂ CHUYỆN BÍCH KHÊ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU XỨ BÀN THÀNH BÌNH ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ LỚN CỦA VIỆT NAM
· THƠ ĐỀ NHÂN VIẾNG MỘ BÍCH KHÊ
· NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CÒN LẠI
· HƯƠNG THƠ
· TRONG THƠ MỚI CHƯA CÓ BÍCH KHÊ
· THƠ BÍCH KHÊ

 

  
Gia đình Bích Khê