BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ

                                                       Trần Hoài Hà                         

 

 

 

Xin được nói ngay rằng, tôi chỉ là một bạn đọc, đã từng nghe, từng đọc thơ Bích Khê trước khi có cuộc hội thơ này. Bằng chứng mới đây nhất là năm 1999, khi được biệt phái đi cùng Đoàn làm phim của Hội Nhà văn Việt Nam thực hiện bộ phim về cuộc đời và sự nghiệp của một nhà thơ lão thành Quảng Ngãi: Cụ Nguyễn Viết Lãm nhân dịp cụ thượng thọ 80 tuổi. Một trong những địa chỉ mà chúng tôi tìm đến trong đề tài ấy là quê hương Thu Xà và mộ của Bích Khê. Tôi đã đứng như “thiền” trước ngôi mộ đầy vẻ siêu thoát ấy và mạo muội “múa rìu qua mắt thơ” cảm tác mấy dòng thơ. Sau đó tôi đã đọc cho cụ Lãm và nhà thơ Trần Nhương nghe. Cụ Lãm bảo: Nghe thơ cậu, nghĩ đến Bích Khê, mình thấy rờn rợn tận xương sống. Riêng tôi, tôi rất tâm đắc về bài thơ “xuất thần” ấy. Bài thơ có tên: Thơ đề nhân viếng mộ Bích Khê:

Như có hồn ai trên ngọn tre

Rả rích khúc buồn trong tiếng ve.

Tình sử trăm năm đầy hơi hám

Thế sự một ngày cũng máu me

Một nắm xương Rồng mù gió cát

Mâý vần tuyệt mệnh lạnh cõi Mê

Màu bỗng chuyển sang màu huyết dụ

Hồn chợt hóa thành hồn Bích Khê

Điều khiến người ta chú ý nhất và cũng là cái cớ để họ dựa vào đó mà bàn luận, mà suy diễn về Bích Khê và thơ Bích Khê có lẽ bắt nguồn từ hai chữ “tinh” trong hai tập thơ “Tinh huyết” và “Tinh hoa” với gần 50 bài thơ dài ngắn khác nhau. Chữ “Tinh” theo cách hiểu thông thường thì đó là “sự nguyên chất”, là sự thuần khiết, là cái tinh túy, hay nói theo lối dân gian là “vàng ròng”. Tôi chưa tìm thấy ở đâu Bích Khê đã tự nhận thơ mình đã là “tinh” mà điều Bích Khê khiến ta cảm nhận rõ hơn là ông đang trên đường đi tìm với một khát vọng cháy bỏng là muốn vươn tới cái “tinh” ấy. Trong cuộc hành trình tìm kiếm để vươn tới đó, Bích Khê đã huy động cả tiềm thức cá nhân, lục lọi cả trong triết học Phương Đông, Phương Tây, cả trong Phật giáo và đặc biệt là trong nền văn học Pháp đã ập vào các trường mà ông đang học ở Huế, ở Hà Nội với những chủ nghĩa, những trường phái rất mới, rất lạ với thi đàn đương thời của Việt Nam.

            Tham vọng của Bích Khê là cho những thứ ấy vào luyện trong cái “Lò bát quái” trong sức nóng ngàn độ của tư tưởng “duy tân” của ông để tìm ra một sản phẩm gì đó mà trong thi đàn Việt Nam không có hoặc chưa có. Sản phẩm ấy Bích Khê định đặt tên là “tinh”. Đó là mong muốn, là khát vọng. Còn việc Bích Khê có tìm ra, có vươn tới được cái “tinh” ấy hay không hoặc chỉ tìm thấy một thứ “Đầu Ngô, mình... Lu-“ thì lại là một việc khác. Điều người ta đọc có thể tìm được tiếng nói chung khi đọc thơ Bích Khê là đây đó trong thơ ông đã điểm xuyết một lối biểu đạt mới và hơn thế là “lạ”. Tuy nhiên, cái “mới”, cái “lạ” không đồng nhất với cái “tốt”, cái “đúng”, cái “hay”.

Cuối thế kỷ 19, một số nhà thơ Pháp vốn trước từng say mê với các trường phái Lãng mạn, Thi Sơn thì bây giờ quay ra chê bai, phỉ báng thậm chí nguyền rủa, công kích nó và đề xướng, tô vẽ và tôn thờ một phương pháp mà họ cho là “mới”, là  “lạ”. Đó chính là chủ nghĩa tượng trưng. Đó là những Bôđơle (Baudelaire), Véclen (Verlaine), Malácmê (Mallarme), Rimbô (Rimbaud)... Mục tiêu của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ ca là hướng vào khai thác thế giới nội tâm. Bôđơle tự đặt yêu cầu cho thơ ông là phải “nghe” được hương thơm, “ngửi” được màu sắc và “thấy” được âm thanh. Thơ tượng trưng triệt để sử dụng phương pháp “gợi mở”. Họ chủ trương: Không cho độc giả đọc đến đâu hiểu ngay đến đó, mà phải vừa đọc, vừa đoán. Họ quan niệm: Thơ là một cái gì đó vừa huyền diệu, vừa cao cả, vừa tinh túy nên thơ phải vượt ra ngoài cái thông thường, cái tầm thường. Malácmê nói: Điều kiêng kị nhất của thơ là diễn tả đúng thực tại. Thơ không cần sự rõ ràng, sự tách bạch. Thơ là mờ ảo, là tinh khiết, là lan tỏa. Điếu thuốc là thực tại - khói thuốc là thơ. Thơ tượng trưng còn coi yếu tố nhạc, yếu tố họa là phương tiện chuyển tải hiệu quả nhất cho các ý tưởng siêu hình.

Trong thơ văn Việt Nam, thật ra phương pháp tượng trưng không phải mới. Nó đã từng xuất hiện từ khá sớm trong ca dao, trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, ví như:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn Hồng đã ai vào hay chưa

(Ca dao)

Hoặc :

Hoa cười, ngọc thốt đoan trang

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

(Kiều)

Tuy nhiên, sau hơn 80 năm đô hộ, cùng với đội quân xâm lược, các trường phái thơ Pháp cũng tràn vào Việt Nam, ít nhiều gây những tác động đến một số trí thức trẻ trong đó có Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng... Tuy nhiên, lâu nay, vì nhiều lý do khác nhau, và trong những bối cảnh khác nhau, giới phê bình văn học hoặc đã quá dễ dãi, hoặc là quá khắt khe với một số tác giả, một số tác phẩm. Cả hai thái cực đó đều dẫn đến những nhìn nhận sai lệch về giá trị thực ở một số tác giả, tác phẩm. Chúng ta rất trân trọng khát vọng tìm kiếm và khám phá của Bích Khê và quả thật trong cuộc tìm kiếm và khám phá ấy, Bích Khê đã có được một số thành quả. Hãy chiêm ngưỡng màu sắc, hãy lắng tai nghe nhạc điệu, hãy tĩnh tâm mà rung động cùng Bích Khê trước một mùa thu tuyệt vời:

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

Quả là Bích Khê cố để “nghe” được tiếng của sự câm lặng, “thấy” được, “vẽ” được đường nét của cái vô hình, “cảm” được cái động trong cái tĩnh:

Nắng lên vú núm đồi

Sữa trăng nhi nhỉ giọt

(Xuân tượng trưng)

“mới” và “lạ” cả trong hình ảnh, âm thanh, cả trong lối cắt câu, ngắt nhịp :

Thoảng tiếng gáy của cu

Cườm. Hiu hắt vàng đượm...

… Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ

Trở về. Nắng sáng cũng mong cây.

Tuy nhiên, cái “mới” và cái “lạ” cũng chỉ mới là những nét điểm xuyến trong toàn bộ bức tranh thơ của Bích Khê. Ngoài nó, ta vẫn thấy ở đây đầy ắp những bài thơ, những câu thơ im đậm dấu vết của phương pháp lãng mạn và phương pháp tả thực, những thứ mà chủ nghĩa tượng trưng không tiếc lời chê bai:

Ngoài li Lý Bạch trời như mộng

Sau khói phù dung mộng cố hương

         (Mộng Hồ Xuân Hương)

Người em rày mệt quá

nay gặp cố tri

Hai tay đây ra rả

Dìu lấy cùng nhau đi

(Hàn Mặc Tử)

Tiếng xe rủng rảng sau bờ trúc

Bóng vợ bồng con lẫn bóng cây...

            Thế nên, một số người đã vội đưa Bích Khê vào danh sách những nhà thơ tượng trưng hàng đầu như một Bôđơle, một Véclen... của Việt Nam là chưa thỏa đáng. Trên thực tế, trường phái thơ tượng trưng của Pháp bằng số lượng tác phẩm đồ sộ, bằng hệ thống lý luận chặt chẽ đã tạo nên những chấn động lớn trên thi đàn nước Pháp, góp phần làm sản sinh chủ nghĩa siêu thực sau này. Xét như vậy, yếu tố tượng trưng trong thi đàn Việt Nam, trong thơ Bích Khê tác dụng vẫn còn khiêm tốn lắm, thậm chí có những ý tưởng còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Có thể coi Bích Khê là một trong những nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã bước đầu phát hiện và đưa yếu tố tượng trưng với tư cách là một phương pháp sáng tác vào thi đàn Việt Nam. Cái được và cái chưa được của Bích Khê đều nằm trên chặng đường ngắn ngủi của cuộc hành trình đầy nhiệt huyết và nhiều trắc trở ấy.

            Có điều lạ là cũng như các nhà thơ tượng trưng bậc thầy, Bích Khê luôn kết tội những “Dặm mòn”, luôn cổ xúy cho “Duy tân” nhưng gần như ta không tìm thấy nơi đâu trong thơ Bích Khê những “cảm” về một “cơn trở dạ” hệ trọng của cả một đất nước, một dân tộc trong suốt một thời kỳ sôi sục cách mạng 1930 - 1945 mà Quảng Ngãi là một trong những nơi nóng nhất. Nếu hiện thực ấy là điếu thuốc thì khói thuốc trong thơ Bích Khê là đâu? Suy cho cùng, cách mạng cũng là sự đổi mới, là sự duy tân, rất hợp gu để thơ tượng trưng thể hiện cơ mà! Thơ Bích Khê chỉ mới nằm gọn trong quỹ đạo của một con tim cụ thể trước tình yêu và những vẻ đẹp gần như bất biến của trời đất. Chính vì vậy, so với những nhà thơ cùng thời, thơ Bích Khê khó đến với đông đảo công chúng mà nhiều hơn là trở thành một món thưởng thức cao cấp của một số trí thức cùng tâm trạng hoặc cùng cảnh ngộ. Thời ấy, ở nước ta, người biết làm thơ, nhất là người biết làm thơ mới theo chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ rất ít. 95% dân ta mù chữ - chữ còn không biết thì nói gì đến đọc thơ, làm thơ. Thế nên, có một người biết làm thơ thời ấy, biết tìm tòi thơ thời ấy như Bích Khê là đáng quí lắm rồi song cũng không vì thế mà ta vội cho đó là khuôn mẫu, là tuyệt đỉnh. Ngày nay, đất nước ta đã xóa xong nạn mù chữ, đang phổ cập cấp 2, tiến đến phổ cập cấp 3, chắc chắn người đọc thơ sẽ nhiều hơn và nhất định sẽ có những đánh giá chuẩn xác hơn về những gì mà thơ Bích Khê đã đem lại cho thơ Việt Nam, cho tâm hồn Việt Nam. Nhà thơ Chế Lan Viên có nói: Trong Hồ lô của Bích Khê đã có những “tinh giống” mới. Chúng ta rất khát khao điều ấy, song cũng mong muốn trong đó không có những loại giống đại loại như ốc bươn vàng, như loài cá ăn thịt hung hãn ở rùng Amazôn. Một số bạn làm thơ trẻ bây giờ cũng có những người hoặc muốn chơi trội, hoặc muốn “có danh gì với... thơ ca” đã “đẻ” ra những bài thơ “Đầu Ngô, mình... Lu-I” không ai hiểu nổi.

Về “Nghi án Bích Khê”

            Khi hỏi những người thuộc thế hệ trước chúng tôi, một số người biết Bích Khê và cho Bích Khê là một phần tử “Tờ-rốt-kít”. (Tờ-rốt-kít là một tổ chức những người đội lốt cộng sản, mang nặng chủ nghĩa dân tộc, chống lại Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích Nga sau CM tháng 10-1917). Khi hỏi bằng chứng thì mọi người đều bảo, ông Bùi Định đã viết trong “Tìm hiểu phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi” rằng: “Từ năm 1935, ở Quảng Ngãi có nhóm Tờ-rốt-kít ở vùng Thu Xà do Lê Quang Lương (Bích Khê) cầm đầu”. Vì có chút duyên nợ với thơ, tôi đã tìm đọc thơ Bích Khê, tìm hiểu về cuộc đời của nhà thơ tiền bối nầy nhất là khi đọc bài “Người em: Bích Khê” của bà Ngọc Sương (chị ruột của tác giả) thì thấy Bích Khê ngoài niềm đam mê thơ, gần như có một cuộc sống hoàn toàn thoát tục,  không quan tâm gì đến những hiện thực trần trụi trong cuộc sống. Việc ông Bùi Định cho Bích Khê hoạt động trong tổ chức phản động Tờ-rốt-kít hình như rất xa lạ với phong cách sống vừa nhút nhát, vừa phớt đời của Bích Khê. Chi tiết thứ hai khiến tôi cũng rất ngạc nhiên là chi tiết bà Ngọc Sương kể lại - Trong những ngày Bích Khê đã linh cảm thấy cái chết thì cách mạng tháng Tám thành công. Bích Khê đòi khiêng giường ra cửa để nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng. Phải chăng, vì muốn minh oan cho em, bà Ngọc Sương đã đưa chi tiết ấy để chứng tỏ Bích Khê không những không phải là phản động mà còn là người yêu cách mạng nữa là đằng khác.

Qua tìm hiểu cuộc đời Bích Khê, qua đọc và tìm hiểu thơ Bích Khê tôi cho rằng, Bích Khê không phải là một phần tử phản động, không phải là một nhà cách mạng vô sản. Đơn giản, Bích Khê chỉ là một nhà thơ - sống cho thơ và chết cũng vì thơ.

Chiếc “vòng kim cô” của ông Bùi Định trong thực tế đã giam hãm Bích Khê và thơ Bích Khê hơn nửa thế kỷ qua. Nếu không tìm ra những căn cứ mới, có sức thuyết phục thì quả đó là một oan khuất và oan khuất nào cũng gây ra bi kịch. Kết thúc bài viết này,  bằng cả tấm lòng của một người có duyên nợ với thơ, một bạn đọc của thơ Bích Khê, tôi thiết tha mong muốn: Đã đến lúc hãy trả cho Bích Khê những gì là của Bích Khê.

 

 

 

 

Các bài khác:
· NHẬN DIỆN BÍCH KHÊ
· CHÙM THƠ TRĂM NĂM BÍCH KHÊ
· "THUẦN TÚY" VÀ "TƯỢNG TRƯNG" CỦA BÍCH KHÊ
· TÌNH TANG TÔI NGHE NHƯ TÌNH LANG...
· CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT BÍCH KHÊ VEN VỰC HỒNG
· NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
· CỔ LŨY CÔ THÔN
· RẰM CUỐI NĂM, KỂ CHUYỆN BÍCH KHÊ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU XỨ BÀN THÀNH BÌNH ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ LỚN CỦA VIỆT NAM
· THƠ ĐỀ NHÂN VIẾNG MỘ BÍCH KHÊ
· NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CÒN LẠI
· HƯƠNG THƠ
· TRONG THƠ MỚI CHƯA CÓ BÍCH KHÊ
· THƠ BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ VỀ BÍCH KHÊ CỦA PHAN BÁ TRÌNH
· CHÙM THƠ VIẾT VỀ BÍCH KHÊ CỦA NHIỀU TÁC GIẢ
· CHÙM TỨ TUYỆT DÂNG BÍCH KHÊCỦA MAI VĂN HOAN
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ 'BÍCH KHÊ' CỦA TRẦN NGỌC HƯỞNG
· LÀNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ, TẾ HANH, BÍCH KHÊ

 

  
Gia đình Bích Khê