BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
NHẬN DIỆN BÍCH KHÊ

  Lê Hồng Khánh 

                                              

          Cho đến cuối năm 1988, Khi Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình phát hành rộng rãi tập thơ Bích Khê (gồm mấy dòng thơ cũ, Tinh huyết, Tinh hoa, và phần phụ lục - với lời giới thiệu kỹ lưỡng và trân trọng của nhà thơ Chế Lan Viên), thì di sản thơ ca của người con miền núi Ấn sông Trà này mới có dịp đến với bạn đọc tương đối đầy đủ. Nói “tương đối”, bởi vì một số không ít thơ Bích Khê đã bị thất lạc bởi nhiều lý do, mà đến nay thật khó lòng tìm lại.

Đời Bích Khê bạc mệnh; văn Bích Khê cũng chìm nổi ba đào. Nhưng thôi, chuyện ấy đã qua rồi, dẫu sao những gì còn lại cũng đủ xác nhận Bích Khê như là một khuôn mặt độc đáo, một con “khổng tước” (chữ của Quách Tấn) trong làng thơ mới, đáng cho chúng ta tìm đến với tấm lòng trân trọng, thông cảm và thương yêu.

          Đọc thơ Bích Khê, ta dễ dàng nhận ra một đặc điểm nổi bật, đó là tính cách tân. Chế Lan Viên đã nói rất đúng: “Bích Khê làm thơ, còn Hàn Mặc Tử bị thơ làm” (giới thiệu “thơ Bích Khê”). Bài Duy Tân được Hoài Thanh tuyển trong “Thi nhân Việt Nam” chính là một “Tuyên ngôn nghệ thuật”.

                                      Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

                                      Của lời thơ lắng đẹp. Hạt châu trong

                                      Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

                                      Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng

                                      ...

                                      Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy

                                      Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương

                                      (Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)

                                      Thơ lõa thể! Giai nhân, tuần trăng mật

                                      Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người

          Đi từ tâm trạng suy tư của chính mình, tìm kiếm, nắm bắt và khi thác tích cực thủ pháp của các bậc thầy phương Tây từ Edgar Poe, Mallarmé đến Rimbaud, Valéry… đồng thời tận dụng nguồn năng lực “Tiềm tàng bí mật” của thi ca và văn hóa Đông phương, Bích Khê đã tìm ra một con đường riêng, một bản sắc riêng, vừa gần gũi, vừa không giống bất cứ một nhà thơ mới nào, kể cả Hàn Mặt Tử và Chế Lan Viên, hai người bạn tri kỷ trong đời và trong thơ. Ở “Tinh Huyết” và đặc biệt là “Tinh Hoa” sau này, nhà thơ đã “duy tân” triệt để, từ cách dùng chữ đến cách ngắt câu, từ cách tạo hình ảnh đến điệu thơ. Bích Khê xô đẩy, biến hóa, tái tạo một cách tài tình tuyệt vời các yếu tố ngôn ngữ để đạt đến những hiệu quả bất ngờ, thú vị. Đọc bài “Hàn Mặc Tử”, hay bài “Ngũ Hành Sơn” (Tiền và Hậu), ta có cảm tưởng được ngược xuôi, lên xuống, ra vào một công trình kiến trúc đầy mỹ lệ và cũng đầy bí mật, chói chang ánh nắng nơi này, trùng trùng bóng tối nơi kia.

                                                - Chàng ơi đêm nín thở

                                                Để hồn biến ra hương

                                                Chập chờn trong nữ yêu

                                                Ra vào trong răng lựu

                                                Chập chờn trong ba tiêu

                                                (Ngũ Hành Sơn - Tiền)

                                                - Ta nay lên ngọc điện

                                                Chỉ nhường phật Như Lai

                                                Lượn theo thế biển rừng

                                                Xếp theo hình lá cỏ

                                                Động hóa mây năm vừng

                                                Đại bàng bay chẳng tới

                                                Ngòi nhược thủy bao quanh

                                                Suối thiên thai chảy dựng

                                                Rắn bảy đầu đến khoanh

                                                                             (Ngũ Hành Sơn - Hậu)

          Đem hai bài “Ngũ Hành Sơn” đặt cao hơn bài “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp như Chế Lan Viên thì chưa chắc chắn đã thỏa đáng. Ở “Ngũ Hành Sơn” có cái “tung hoành, hoành tráng, dọc ngang” (Chế Lan Viên) nhưng không có cái giản dị, cái duyên rất đáng yêu của “Chùa Hương”. Độc đáo của Tiền và Hậu “Ngũ Hành Sơn” là tính đa tuyến của liên tưởng, sự phức tạp của cấu trúc, vừa mở rộng biên độ, vừa xoáy sâu vào các tầng kiến trúc khác nhau của cảm hứng thơ, thể hiện rõ nét ảnh hưởng tư duy phân tích của thơ ca phương Tây; nhưng cũng chính ở đây, thực tại và ảo ảnh, thiên nhiên và nhà thơ đã hoàn toàn biến vào “duy nhất” vào cái mà Đông Phương gọi là “vũ trụ đồng nhất thể”, một “Đại ngã”, một “Đại hồn”.

          Một đặc điểm nữa ở Bích Khê là sự say mê tìm kiếm “nguồn hoan lạc vô viên” nơi xứ sở huyền diệu của âm thanh và hình ảnh bằng một trực giác mạnh mẽ, đầy đủ năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của sự vật. Ở “Tranh lõa thể”, ánh tuyết và làn da, mùi hương và nhan sắc, mái tóc và đêm u huyền, đã hòa nhập, biến chuyển vào nhau, và được biểu hiện trong một trạng thái như mơ, như thực, vừa thanh tao thuần khiết, vừa huyễn hoặc, cám dỗ.

          “Tỳ bà”, “Nhạc”, “Mộng”, “Duy Tân”… là sự đi về, mở rộng, giao hoán của âm thanh và màu sắc trong một hợp thể không gian - thời gian đang đảo lộn nhưng cũng đang sắp xếp; vừa hủy diệt, lại vừa sáng tạo. Với Bích Khê, từ sâu thẳm, câu thơ, bài thơ là cuộc hành trình bất tận, gặp gỡ rồi lìa tan, lìa tan rồi tái hợp, giữa hư và thực, giữa “sắc” và “không”, giữa hiện hữu và dự phóng:

                             Ôi! Đẹp đau thương sáng thiết tha

                             Hồn ơi! Cặp mắt nở muôn hoa

                             Hồn ơi! Cặp mắt say thơ mộng

                             Dần biến ra châu trắng mịn mà

                            

                             Em cũng là châu, ngọc cũng châu

                             Mắt tôi đã khát biết bao sầu

                             Biết bao ánh ngọc rung rinh nổi

                             Giữa bể vàng mơ, giữa cảnh mơ

                                                                   (Châu)

          Đặc điểm thứ ba của thơ Bích Khê là sự say đắm và ngợi ca nhục cảm một cách thuần khiết, mỹ lệ và thanh tao.

          Không phải ngẫu nhiên mà trong vô số người đẹp đến trong mơ, từ Hằng Nga, Bao Tự đến Phi Yến, Ngu Cơ… Bích Khê đã nhận Hồ Xuân Hương là “người vợ trong thơ gần cách mộng” một “người vợ” vừa xẻ chia niềm đớn đau, ray rứt, vừa ỡm ờ, táo bạo rất … Xuân Hương!

                             Ô, nàng Xuân Hương ngực để trần

                             Ngâm bài “vấn nguyệt” tiếng trong ngần

                             Nhìn xuống nhân gian cười như điên

                                                                             (Nghê thường)

          Trong thơ Hồ Xuân Hương, nhục cảm hay nói cụ thể là vẻ đẹp nữ tính và khoái cảm thân xác được diễn tả bằng những hình ảnh nước đôi và với thủ pháp ngôn ngữ phù thủy: cố tình nói đến đó mà như nói đâu đâu, nghe tiếng cười khúc khích mà ngẩng lên nhìn mặt thì cứ “phớt” như không. Với Bích Khê, nhục cảm được cảm nhận như là vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên và cái tươi mát, trong sáng của tâm hồn:

                             Môi ai làm hoa nở

                             Mời mọc khách qua đường

                             Ôi bàn tay rạn vỡ

                             Cả một bầu thanh hương

                             Múi trắng sao như ngọc

                             Múi mát tợ thịt thơm

                             Môi hoa ai mời mọc

                             Ngọt lịm đến linh hồn

                                                          (Quả măng cụt)

          Vẻ đẹp ấy, có khi được thể hiện trực tiếp như ở “Tranh Lõa thể” cũng có khi thông qua cách cảm thụ thiên nhiên như “Xuân tượng trương”, nhưng lúc nào câu thơ cũng mang lại cho người đọc chất sáng trong của cái đẹp mà không hề rơi vào sa đọa, vẩn đục tâm hồn. Thật đúng như lời Hàn Mặc Tử: “Sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết...” (tựa Tinh Huyết).

          Đương thời, và thậm chí cả  một thời gian dài về sau, nhiều người đã lên án gay gắt sự ngợi ca nhục cảm của Bích Khê, coi “Tranh lõa thể” và một số bài thơ khác như là “dâm thi”, “quái thai”, nhưng họ không hiểu hoặc cố tình không hiểu đấy chính là quan niệm độc đáo của nhà thơ về cái Đẹp và cách tiếp nhận nó: phát hiện chất pha lê trong suốt ở nơi mà những cặp mắt “phàm phu tục tử”, những “chính nhân” giả hiệu chỉ thấy ngầu đục và bụi bặm. Đây chính là sự thử thách của hương sen với mùi bùn, sự đối đầu dũng cảm của thành thực, trung thực với ngầu đục và sa đọa chính trong vùng bóng tối của nó. Và quý làm sao: “Sọ người”, “Tranh lõa thể”, “Xuân tượng trưng”… đã tỏa ra ánh sáng “long lanh châu ngọc”.

          Bích Khê đi xa để tìm kiếm khác lạ nhưng cũng để tìm thấy chính mình. Lên Ngũ Hành Sơn, ngất ngưởng phóng tầm mắt vào trời đất, thời gian để rồi trở lại bên bạn bè, xòe đôi bàn tay chân thành trước mặt; theo mộng lên trăng để gặp chị hằng, nhưng rồi lại về bên chiếc gối tâm sự với Xuân Hương, hay đúng hơn là độc thoại với chính mình. Càng về sau, trong thơ Bích Khê, dấu vết kỹ thuật, những tìm tòi hình thức, bút pháp, dường như biến mất, nói cách khác là đã tan vào tình ý, xúc cảm. Hiện rõ dần, rõ dần một Bích Khê ray rứt, đau thương và gần gũi chân thành. Tưởng những lời này của Pascal là chỉ dành cho Bích Khê thôi: “Ngỡ như tìm thấy một nhà văn, nhưng chỉ gặp một con người”.

          Bệnh tật hiểm nghèo cướp mất Bích Khê, như đã cướp hàn Mặc Tử, giữa tuổi hoa niên, khi tài thơ đang độ chín: Nấm mộ ở Thu Xà, Quảng Ngãi đã vĩnh viễn khép lại những buồn vui, trăn trở của một đời người hơn 50 năm về trước. Nhưng oái ăm thay, cho đến tận giờ, những câu thơ vẫn còn lênh đênh chìm nổi, bởi vì con người đầy tài năng, tâm huyết sản sinh ra nó đã từng bị “nếp tư duy cũ kỹ một thời…” (Chế Lan Viên) nhìn nhận vụng về, lầm lạc; và cũng bởi chính nó - những câu thơ – khi chuyên chở linh hồn Bích Khê đã chấp nhận dấn thân vào nẻo đường phiêu lưu đầy nghiệt ngã của cuộc hành trình duy tân, sáng tạo.

          Những ngày cuối đời, trên giường bệnh, Bích Khê đã nguyện cầu:

                             Sau nghìn năm nữa trên trần thế

                             Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi

          Vâng! Bích Khê vẫn đi về với Thu Xà, với sông Trà, núi Ấn, với đất nước, quê hương, và quê hương, đất nước cũng đã mở lòng đón tấm linh hồn chân thật ấy.

                                                                       Quảng Ngãi, tháng 8 năm 1990

 

Các bài khác:
· CHÙM THƠ TRĂM NĂM BÍCH KHÊ
· "THUẦN TÚY" VÀ "TƯỢNG TRƯNG" CỦA BÍCH KHÊ
· TÌNH TANG TÔI NGHE NHƯ TÌNH LANG...
· CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT BÍCH KHÊ VEN VỰC HỒNG
· NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
· CỔ LŨY CÔ THÔN
· RẰM CUỐI NĂM, KỂ CHUYỆN BÍCH KHÊ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU XỨ BÀN THÀNH BÌNH ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ LỚN CỦA VIỆT NAM
· THƠ ĐỀ NHÂN VIẾNG MỘ BÍCH KHÊ
· NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CÒN LẠI
· HƯƠNG THƠ
· TRONG THƠ MỚI CHƯA CÓ BÍCH KHÊ
· THƠ BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ VỀ BÍCH KHÊ CỦA PHAN BÁ TRÌNH
· CHÙM THƠ VIẾT VỀ BÍCH KHÊ CỦA NHIỀU TÁC GIẢ
· CHÙM TỨ TUYỆT DÂNG BÍCH KHÊCỦA MAI VĂN HOAN
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ 'BÍCH KHÊ' CỦA TRẦN NGỌC HƯỞNG
· LÀNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ, TẾ HANH, BÍCH KHÊ
· MỘNG ĐÀI - CUỘC ĐỜI VÀ THƠ CA

 

  
Gia đình Bích Khê