BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
"THUẦN TÚY" VÀ "TƯỢNG TRƯNG" CỦA BÍCH KHÊ

·        Võ Chân Cửu

 

Trước 1975, Võ Chân Cửu đã công bố 2 tập thơ Tinh Sương, 1972, và Đại Mộng, 1973, tại Sài Gòn. Sau ngày đất nước thống nhất, Võ Chân Cửu là phóng viên báo Nghĩa Bình đến năm 1982. Sau đó Võ Chân Cửu vào lại Sài Gòn làm việc tại báo Nông nghiệp Việt Nam rồi Thời báo Kinh tế Việt Nam. Ông đã có 2 tập tản văn về đề tài Văn học Miền Nam 1954-1975 dưới tựa đề: 22 Tản Mạn (2013), Theo Dấu Nhà Thơ  (2015), đều do Nxb Hội Nhà Văn Việt Nam xuất bản.

 

Năm 2016 vừa tròn 100 năm ngày sinh (24-3), và 70 năm ngày mất (17-1) của thi sĩ Bích Khê. Vào năm 1939, Hàn Mặc Tử từng “sánh văn thơ Bích khê như một đóa hoa thần dị”. Nhiều nhà nghiên cứu văn học hôm nay nhận định: “Bích Khê đã xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời(1).

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, ban đầu ký bút danh Lê Mộng Thu, có bài thơ đăng báo đầu tiên vào năm 1931, khi mới 15 tuổi. “Tinh huyết” là tập thơ duy nhất được xuất bản khi thi sĩ còn sống. Di cảo để lại có “Những vần thơ cũ”, “Tinh hoa”, “Đẹp”. Bài của Hàn Mặc Tử có tựa đề “Bích Khê, Thi sĩ thần linh”, đầu tiên đăng ở Tạp chí Trong Khuê Phòng số 98 ngày 10-6-1939, sau đó được in làm bài tựa cho tập thơ “Tinh huyết”(2).

Với người sáng tác, “thần linh” hàm ý tài năng sử dụng và điều khiển ngôn từ. Trong các di cảo Bích Khê để lại, đáng lưu ý là tập thơ “Tinh hoa”. Theo Chế Lan Viên, trong Tinh Hoa có 6 bài vốn có trong tập “Tinh huyết”, được chính Bích Khê sửa chữa lại. Theo nhà nghiên cứu Lê Hoài Nam (đồng thời là người trong gia đình): “Tinh huyết là thời Bích Khê thí nghiệm táo bạo dưới ảnh hưởng của các trường thơ tượng trưng, siêu thực phương Tây; còn thời viết Tinh hoa, từ 1940 trở đi, Bích Khê muốn tìm cách kết hợp tinh thần phương Tây với cốt cách phương Đông.” (3). Một bạn thân khác của Bích Khê là Thi sĩ Quách Tấn, khi viết “Đôi nét về cuộc đời Bích Khê”(Tháng 2-1960) đã cho rằng với Bích Khê, tập chưa xuất bản (Tinh hoa) hương sắc có phần hơn tập kia!

“Tuy hai mà một”

Trong thi tập “Tinh hoa”, ở 4 câu mở đầu của bài thơ “Xuân tượng trưng”, Bích Khê gần như đưa ra một “tuyên ngôn” về ngôn ngữ thơ của mình:

Hỡi lời ca man dại

                                   Điệu nhạc thở hơi rừng

                                   -Đêm nay xuân đã lại

                                   Thuần túy và tượng trưng-

 

“Thuần túy” “Tượng trưng” là hai đặc điểm đáng lưu ý nhất trong thi pháp của Bích Khê.  Do vậy, chúng tôi muốn làm rõ thêm hai tính chất này, bởi hiện tại, nhiều nhà lý luận phê bình văn học cũng như nhiều nghiên cứu sinh, rất chú trọng (hàm ý hãnh diện) xem Bích Khê như là đại biểu xuất sắc trong du nhập trào lưu “chủ nghĩa tượng trưng” vào thi ca Việt Nam!

Chủ nghĩa tượng trưng trong nghệ thuật thi ca thế giới, xuất hiện và trở thành trào lưu ở Pháp và Châu Âu từ cuối thế kỷ thứ XIX. Tại Việt Nam, từ cuối thế kỷ thứ XIX, ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp ngày mới lan rộng. Qua thế kỷ XX, phong trào “Thơ mới” bắt đầu manh nha, và trở nên cực thịnh vào giai đoạn 1930-1945. Tập thơ “Tinh huyết” được Bích khê dồn sức sáng tạo trong một thời gian ngắn (theo Hàn Mặc Tử chỉ trong khoảng 6 tháng), và được in ra vào cuối năm 1939. Việt Nam vốn là một đất nước của thi ca. Với lớp thi sĩ thời Bích Khê, sự ảnh hưởng chủ nghĩa này, như vậy là khá muộn so với thế giới. Đã vậy, nếu là “bê luôn” trào lưu ấy vào, thì cũng không đáng là điều để hãnh diện hay tự hào!

          “Thi nhân Việt Nam” là công trình có giá trị về các tác giả của dòng Thơ mới Việt Nam. Hai tác giả bộ sách là Hoài Thanh-Hoài Chân đã cho rằng: “Thơ Bích Khê mà chỉ đọc đôi ba lần, thì cũng như chưa đọc”. Sách đã trích dẫn và nhận xét trong Tinh Huyết có “những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Như trong bài “Tỳ bà” :

 

                                      Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

                                      Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

 

            Và trong bài “Tranh lõa thể”:

 

Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,
Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi nầy ?

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Ðến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm ?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương ?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Ðêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! hai vú nàng! chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.

……………

          Còn trong tập Tinh hoa, bài thơ Duy tân được mở đầu với những câu như:

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới,

Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng của chiều thu sóng nắng

                          Trong vòm xanh. Màu cưới màu, bình lặng

Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ

Vì hình dung những sắc mát, non,

Như mặt trời lọt qua khóm liễu, một

Hoàng hôn. Ôi! Đàn môi chim báu tới:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm

Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sầu câm

Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng

…….

 

           Ngôn ngữ thơ như hòa điệu với âm nhạc và hội họa. Như vậy thì không thể nhận định gượng ép rằng sau “Tinh huyết”, Bích Khê cố ý quay về với lối thơ truyền thống! Bởi lẽ, hai tính chất “thuần túy”“tượng trưng” đã manh nha trong cách sử dụng thi ngữ trong bút pháp Bích Khê kể từ khi ông viết những bài thơ đầu tiên (với bút danh Lê Mộng Thu) được báo Tiếng Dân đăng tải.

           Hãy nghe lại các câu mở đầu cho phần “Nói” của bài Nghe Chuông (viết theo điệu ca trù) trong di cảo “Những vần thơ cũ”:

 

                                    Chuông đâu thánh thót

                                    Giữa đêm trường như rót vào tai!

                                    Giọng càng ngân, tiếng càng dội, hơi càng dài

                                    Mường tượng khúc bồng lai thiên nhạc phách…

                                    …………….

                                    Bóng yêu hoa, màu khiêu vũ, mây phú quý, bả phù vân…

                                    Tiếng linh động trong ngần thiên vạn cổ.

  

           Khi tạo các từ ghép như “Bóng yêu hoa”, “màu khiêu vũ”, “mây phú quý” , “bả phù vân”, từ bút pháp đông phương vốn ngấm sâu trong trí não, Bích Khê gần như đã tạo nên những hình ảnh khá tượng trưng. Các hình dung từ “ngân”, “dội”, “dài”, đi với  trạng từ “càng”, đã làm nên những âm và từ thuần Nôm (Việt)…Hai chữ “trong ngần”  đi với cụm từ  có gốc Hán Việt là “thiên vạn cổ”, cho thấy cách diễn đạt nhằm tôn nét đẹp trắng ngần của thi sĩ rất mới và độc đáo. Như vậy từ thuở mới bắt đầu làm thơ, mặc dù sử dụng các thể thơ truyền thống, nhưng chàng trai Lê Mộng Thu đã rất sáng tạo trong diễn đạt. Ông đã biết  dùng ngôn ngữ thơ để đem màu sắc phủ lên những sự vật vô hình, như âm thanh, thời gian…

 

            Và những bài thơ mà Bích Khê viết lúc gần cuối đời, như trong bài “Nấm mộ”, thì hai tính chất “thuần túy” và “tượng trưng” lại càng thêm hòa quyện với nhau:

                                     

Mây, tuyết, thời gian bay tợ nhạc
Hồn tôi đã thoát để tiêu dao
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao

Rồi những mùa thu vô hạn thương
Trở về dưới nguyệt chập chờn hương
Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ
Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương

Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn gia viếng mả tôi
Đây cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi.

 

Vóc dáng riêng từ “Ngôn ngữ thơ”

 

           Trong trích dẫn các lời thơ của Bích Khê, người viết bài này chủ động gạch dưới nhiều chữ, nhằm nhấn mạnh về cách dùng từ và cách tạo ra ngôn ngữ thơ độc đáo của người thi sĩ tài năng. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, nhưng nó có ưu thế là có đến 6 thanh âm, gồm 4 thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng), và 2 thanh bằng (huyền và không dấu), trong khi tiếng Hán chỉ có 4 thanh âm!. Ở các bài thơ dùng toàn thanh bằng, như trong “Tỳ bà” hay “Hoàng hoa”, việc gieo vần vẫn không bị hạn chế do tác giả biết chọn và dùng những từ điệp âm để lôi cuốn, dẫn dắt người đọc vào cảm xúc và thế giới của cái đẹp mà tác giả tạo dựng:

 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu

Sao tôi không màng kêu: em yêu

Trăng nay không nàng như trăng thiu

Đêm nay không nàng như đêm hiu

                                    (Tỳ bà-Tinh huyết)

 

Hay trong đoạn:

 

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời

Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi

Vàng phai nằm im trên non gầy

Chim uyên eo mình nương xương cây

Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa,

Đông nam mây đùn nơi thành xa…   

                                                                        (Hoàng Hoa-Tinh huyết)

 

Ở tập “Tinh hoa”, dù không có những bài toàn thanh bằng, nhưng có nhiều câu với âm bằng liên tiếp nối nhau, như nhằm diễn tả sự rung động miên man trong lòng người. Như trong bài “Hàn Mặc Tử”:

 

Chiêm bao ngày liền ngày

Ngoài mình, ai mà hay?

………

Anh ơi sao ra hai

Huyền hồ trong phôi thai?

……….

Giờ phương phi! Phương phi

Là hình thơ tinh vi

Là hình thơ quy y

……….

          Những phân tích trên đủ chứng minh về vốn liếng ngôn từ giàu có của Bích Khê. Dù sử dụng những từ Hán Việt hay các từ thuần Việt, Bích Khê đều tạo ra câu thơ theo cú pháp Việt Nam, rất quen với cách nói của người đời, và “dễ hiểu”. Ví dụ như: “Mây nhung pha màu thu trên trời/ Sương lam phơi màu thu nơi nơi”(Tỳ bà). Kết cấu chữ rất Việt Nam chứ không theo cách hành văn của chữ Hán. Ví dụ : “điểm tuyết” chứ không phải “tuyết điểm”; hay trong câu Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường (Tranh lõa thể)…Hai chữ “nghê thường” vốn là một danh từ, đã trở thành bổ túc từ cho động từ “rung”.

            Bích Khê chủ động dùng rất nhiều từ Nôm, tức từ Việt thuần túy với cách phát âm của người “Xứ Đàng Trong” , lấy đó làm “điểm nhãn” ( làm bật ra cái hay của cả câu, cả bài). Như: “Mùi tô hợp (thay vì tô hạp) quyện trong tơ trăng lụa”; “Im lặng tợ (thay vì tựa)…” trong bài Mộng cầm ca-Tinh huyết; hay “Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết”; Ngửng (thay vì ngẩng) đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết trong bài Đồ mi hoa-Tinh hoa; “Sóng mặt nổi vân nu (thay vì nâu)” trong bài Quả măng cụt-Tinh hoa. Nhờ các âm từ Việt nên những diễn tả về âm thanh, màu sắc của thi sĩ lại rất sát sao; nguồn vốn từ ngữ rất  phong phú mà lại gần gũi với công chúng. Như: “Của mặt hồ im lặng tợ (thay vì tựa) bài thơ”; hay “Xẻ mạch trời…mây xô sao răng rắc” (bài Mộng cầm ca-Tinh huyết)…

            Có những từ Nôm mà Bích Khê đưa vào thơ cách nay đã hơn 70 năm, nay gần như biến mất, hay trở nên khó hiểu. Vú dụ: chữ “lóng”, trong câu “Của lời thơ lóng đẹp hạt châu trong (Bài Duy tân-Tinh hoa)”, hoặc “nút” trong “Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng (Tranh lõa thể-Tinh huyết); hay “Một tiên nương mừa tựa một giai nhân (Đồ Mi hoa-Tinh huyết)…. Hàn Mặc Tử đã dùng từ “lóng” trong câu “Dù ai không lóng nghe”(bài Tình quê-thi tập Gái Quê), nhưng gần đây, nhiều sách, kể cả trên các mạng internet, do không hiểu, vẫn in lộn thành “lắng. Từ “nút” mà Bích Khê dùng, được nhiều sách giải nghĩa là tương tự với “mút”. Có lý giải cho rằng các từ trên chỉ là những phương ngữ, nên phổ biến hẹp và dễ bị mất đi. (Có người giải thích rõ: lóng là  “nghe từ xa”, hoặc “nghe vô tình”;“Nút”diễn tả được sự thưởng thức trọn vẹn vừa cả bằng miệng và bằng mũi!)…

             Thi sĩ Bích Khê dùng rất nhiều từ tượng thanh và tượng hình. Chúng tôi thấy là: ngoài cách dùng chữ theo cách phát âm của người Xứ Đàng Trong (như nu thay cho “nâu”, ngửng thay cho “ngẩng”, tợ thay cho “tựa”...), thì các từ mà thi sĩ dùng, vốn rất phổ biến ở Xứ Đàng Trong, chứ không phải là phương ngữ. Mặc dù việc giải nghĩa có thể chưa sát sao và đầy đủ, nhưng sách Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học Xã hội-1977) đều có các từ “ít phổ biến” này, (như các từ lóng, nút, hay trong “Tôi sú tình trong đôi mắt ướt” (bài “Tôi chết rồi tiếng nói như Châu”-Tinh huyết); ngớp trong “Này muôn ngọc nữ ngớp y thường” (bài “Nghê thường-Tinh huyết). Có những từ ghép hoặc điệp âm mà Bích Khê dùng, như “lướt mướt” trong “Mùa thu lướt mướt trong làn sóng” “xốn xang”  trong “Đây bàn đàn thơ rất xốn xang”- (Đây bản đàn thơ-Tinh huyết), “nhi nhỉ”trong “Sữa trăng nhi nhỉ giọt-(Lên Kim tinh-Tinh hoa); hay các từ  như, “lớt đớt”, “mừa tựa”…, thì cho dù các từ điển không ghi, nhưng người đọc dựa vào âm chữ, đều mường tượng hiểu được. Như vậy phải càng cảm phục về cách dùng từ, chọn từ của Bích Khê! Người đời nay nên coi lại mình về việc ngày càng ít dùng vốn từ ngữ của cha ông!

 

          70 năm sau ngày mất của Bích Khê, đọc lại thơ ông, chúng ta như được nhắc nhớ về sự giàu có về từ vựng  và cách hành văn độc đáo của ngôn ngữ Việt. Riêng về mặt từ vựng và cách tạo câu, nhà thi sĩ đầy tài năng Bích Khê, dù mất sớm khi mới tròn 30 tuổi, đã để lại cho người sau nhiều bài học và kiến thức về nổ lực sáng tạo trong nghệ thuật.

                                                                           *

 

            Đã có nhiều bài viết của bạn hữu cũng như người trong thân tộc về cuộc đời riêng của Bích Khê. Thời gian tuy tuy ngắn ngủi nhưng được dồn hết cho nghệ thuật thơ! Chúng tôi thấy thêm là, ngoài yếu tố huyết thống và sự vun xới của gia đình và bạn hữu, thì chính linh khí giải đất miền Trung và quê hương Quảng Ngãi đã hun đúc thêm cho tài năng thi ca thiên bẩm của chàng trai Lê Quang Lương.

        

         Linh khí quê hương 

 

         “Hỡi lời ca man dại/ Điệu nhạc thở hơi rừng”… Bài thơ Xuân tượng trưng  mở đầu bằng sự miêu tả bối cảnh thần khí thiên nhiên giao hòa thấm đượm trong cảnh vật và con người miền Trung. Thi sĩ đã mượn hình hài người con gái để diễn tả cái đẹp của núi sông-đất trời: “Nâng lên vú núm đồi/ Sữa trăng nhi nhỉ giọt/ Bay qua cụm liễu phơi/ Những cườm tay điểm hột/ Sương phất phơ lau lách/ Khe uốn mình giai nhân”…

 

            Bích Khê vốn chào đời ở xã Phước Lộc (nơi về sau có địa danh Ba Gia nổi tiếng), một vùng bán sơn địa thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó, gia đình mới dọn về sinh sống ở quê cha, thuộc xã Nghĩa Hòa huyện Tư Nghĩa. Gần khu vườn nhà có 2 dòng sông Trà và sông Vệ về giao lưu ra cửa biển, hình thành nên thị tứ Thu Xà. Nới đây vốn là một cảng thị (như Hội An, Phố Hiến, Nước Mặn…), một thời nhộn nhịp ghe thuyền bên những khu phố cổ

                                                Ngày đi chậm lắm dòng sông biếc

                                                Cùng sáng trong trời sợi sợi mưa

 

                                                 Nơi đây thành phố đời ngưng mạch

                                                 Mấy nàng lai khách vẫn buồn mơ…

                                                                               (Làng em- Tinh Hoa)

 

          Tuổi thanh xuân Bích Khê cảm nhận hết vẻ đẹp của dòng sông Trà Khúc: “Nàng bước tới như sông trăng chảy ngược/ Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương”…(Nàng bước tới- Tinh huyết). Nơi đây, ánh chiếu núi đồi, bờ bãi tạo nên một “Không gian xà cừa hay san hô”…Tất cả được Bích khê và diễn tả qua nét kiều diễm của một nàng con gái! Quảng Ngãi cũng như Xứ Đàng Trong còn lưu nhiều vết tích của văn hóa Champa. Tình yêu và tình dục được diễn tả với nhiều nét khỏa than tràn đầy sinh lực. Nhưng rồi có những lúc Bích Khê lại thấy“Giòng sông như đờ không muốn chảy/ Có phải hôm nay chở nặng hồn”…(Dặm mòn-Tinh hoa).

 

          Miền Trung với những giải đất mơ màng bên những dòng song ngắn, núi kề sát biển, vực cao hào sâu… Khí thiêng của sông núi như nhuốm màu thần linh, hun đúc nên tính cách của con người: khám phá mạo hiểm, xông pha tìm cái mới, cái đẹp bí mật của đất trời. Bích Khê đã đưa tất cả tính khí đó vào văn chương! Theo bài viết của người chị là nữ sĩ Ngọc Sương, vào thời thanh xuân, chàng trai Lê Quang Lương được đi học ở Huế và Quảng Bình; có thời gian về an dưỡng ở Hoàng Hoa trang Quảng Nam (quê hương người anh rể Lạc Nhân (Thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân) là chồng chị Ngọc Sương. Khi từ giã việc học nửa chừng ở Hà Nội, vào năm 1934, Bích Khê đi lập nghiệp, vào mở trường ở Phan Thiết (Bình Thuận). Tại đây, Bích Khê đã gặp và kết giao với Hàn Mặc Tử. Sau khi rời Phan Thiết về lại Quảng Ngãi, Bích Khê thường ra vào Quy Nhơn, nơi Hàn Mặc Tử về sinh sống và chữa bệnh, từ đó thân tình với nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” (gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan). Bích Khê đã cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên hình thành nên “Trường thơ loạn”. Năm 1938 thi sĩ lại trở vào Phan Thiết lập một trường dạy học lần thứ hai.

 

           Đáng lưu ý ở ngôi trường dạy chữ đầu tiên do Bích Khê cùng một người bạn lập ra, được mang tên Hồng Đức-một văn đoàn khuyến khích việc làm thơ bằng quốc âm do vua Tự Đức sáng lập. Ý thức làm giàu tiếng Việt luôn nằm sẵn trong đầu người thi sĩ. Đất nước Việt nam lúc bấy giờ đang bị thực dân Pháp chia làm 3 “Kỳ”. Người miền Trung trước đó vào thời Nam tiến đa phần có gốc gác từ vùng Bắc Trung bộ (từ Đèo Ngang trở ra). Đây là vùng hiểm trở, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng, xa xưa là lãnh địa của cư dân Việt thời cổ đại (với truyền thuyết 50 con lên núi, 50 con xuống biển). Cư dân cùng đồi núi Thanh Hóa-Nghệ Tĩnh, cũng như số dân Việt lập nghiệp ngoài khơi vịnh Bắc bộ và 1900 hòn đảo của vịnh Hạ Long đều còn giữ lại những âm giọng, tên gọi thuần Việt (chữ Nôm), như các đảo Đầu Gà, Lưỡi Hổ, núi Sửng Sốt…, hay chữ Hàm Rồng ở vùng núi Thanh Hóa.

           

            Bích Khê Lê Quang Lương bấy giờ là một chàng trai đã học đến tú tài, tinh thông chữ Việt (quốc ngữ) và chữ Pháp (đã dịch xong cuốn Trở về từ nước Nga của André Gide). Có lẽ truyền thống yêu nước của gia đình và hào khí của quê hương thấm sâu trong trí não là động lực rất mạnh ngấm ngầm để người thi sĩ khai thác, sử dụng mọi tinh hoa từ tiếng mẹ đẻ. Những năm đang sung sức, khi quay cuồng trong hương sắc “tượng trưng”, thi sĩ từng diễn tả rất khéo cái chất tinh hoa ấy:

           “Đây bát ngát và thơm như sữa lúa/ Nhưa đương lên, sức mạnh của lòng thương/ Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa/ Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương/ Đây bát ngát và thơm như sữa lúa/ Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương…(Mộng cầm ca-Tinh huyết).

 

            Có năng khiếu văn chương, đáng mừng là khi bắt đầu sáng tác, Bích Khê đã tự rèn luyện mình qua các thể thơ truyền thống. Từ các thể thơ Đường, tứ tuyệt, thơ 5 chữ, 7 chữ, lục bát đến ca trù, hát nói, kể các các bài văn theo thể “từ”. Rành rõi các quy tắc, niêm luật là cơ sở để người làm thơ tìm tòi các hình thức mới cho thơ. Ngoài các bài thơ dùng toàn thanh bằng, hay gieo toàn vần bằng, thi sĩ cũng đã thử nghiệm một số thể thơ mới như : câu thơ ba/bốn (bài Thi vị-Tinh huyết); hoặc cải biên thể song thất lục bát thành lục bát/song thất (như bài Giọt lệ trích tiên/Tinh hoa). Xin được nói thêm một điều không vui hôm nay: các nhà thơ “đương đại” ở Việt Nam trong thế kỷ 21, sau khi phủ nhận toàn bộ giá trị các sáng tác thời trước (từ thơ mới hồi tiền chiến đến trước và sau 1975), họ đã tự cho hiện đại và “hậu hiện đại”, khi đưa ra một cách kết cấu câu mới”: tùy nghi vắt dòng câu thơ.

 

             Đâu ngờ là chính Bích Khê đã thử nghiệm cách tạo câu thơ kiểu này từ 75 năm về trước. Như trong bài Duy tân (Tinh hoa):

                                              Buồn và xanh trời (Tôi trôi với bờ

                                              Êm biếc-khóc với thu: lời úa ngô

                                              Vàng…Khi cách biệt – giữa hồn xây mộ -

                                               ………..

Thuần túy” của Bích Khê mang ý nghĩa rất “tinh khiết”; trọn vẹn một lòng vì cái đẹp của ngôn ngữ thi ca. Đó chỉ là một cách nói…“Tượng trưng”.

 

Nói thêm:

         

             Điều một số nhà nghiên cứu, cũng như chúng tôi muốn được nói thêm là do bối cảnh lịch sử, về mặt văn bản, nhiều câu thơ Bích Khê đã bị in ra sai lệch. Tập thơ đầu tay Tinh huyết ra đời năm 1939, thì thế giới diễn ra cuộc đại chiến lần thứ 2, tại Việt Nam tiếp đó là cuộc trường kỳ kháng chiến. Sách Di cảo Bích Khê có phần bị thất thoát. Do Bích khê đứng ra dịch sách “Trở về từ nước Nga” của Andre Gide nên sau 1945 Bích Khê bị quy vào hàng ngũ Đệ Tứ quốc tế, thơ ông không được nhắc đến. Sau 1975 một thời gian, nhờ sự vận động của Chế Lan Viên và các vị trong tộc họ Lê, tập Tuyển thơ Bích Khê đầu tiên đã được Sở VHTT tỉnh Nghĩa Bình cho in vào năm 1988. Vì là “sách của địa phương” nên số lượng in không nhiều lắm. 

          Là một thi sĩ rất tinh thông về ngữ pháp, nên bên cạnh các từ thuần Nôm, Bích Khê còn dùng rất nhiều các dấu chấm than (!), gạch ngang (-), ba chấm (…), và mở-đóng ngoặc, lẫn vắt dòng khi tạo câu. Mà, với các dấu trên, nếu thiếu hoặc đặt sai chỗ sẽ làm sai nghĩa! Sách “Bích Khê-Thơ chọn lọc” in song ngữ Việt-Pháp do NXB Văn học liên kết với Công ty Cadasa xuất bản năm 2009 đã hiểu nhầm 2 chữ đầu của câu “Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng “Ô hay!...” nên dịch là “O chose étrange!”

 

 

(1)Gs Lê Đình Kỵ, bài viết năm 1997, in lại trong sách “70 năm đọc thơ Bích Khê, NXB Thanh Niên 2003 (Sách chỉ giao lưu, không bán).

(2) Theo Họa sĩ Đinh Cường, Mùa Thu nhớ thi sĩ Bích Khê (Tạp chí Văn hóa Á Châu số 92, Sài Gòn tháng 1-1960), tải lại trên  http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21256

(3) bài dẫn của Lê Hoài Nam trong tập Tinh hoa, thơ Bích Khê, Nxb Hội Nhà Văn, 1997- Theo http://lainguyenan.free.fr/MMCC/CongViec.html)

            * Về tác giả bài viết: Võ Chân Cửu là nhà thơ, có 2 tập thơ Tinh Sương, và Đại Mộng, xuất bản ở Sài Gòn năm 1972, 1973; từ năm 1976-1982, là phóng viên báo tỉnh Nghĩa Bình. Võ Chân Cửu là tác giả 2 tập tản văn về đề tài Văn học Miền Nam 1954-1975 được NXB Hội Nhà Văn liên kết cùng Công ty sách Phương Nam xuất bản dưới tựa đề: 22 Tản Mạn (2013), Theo Dấu Nhà Thơ  (2015).

                                                              

 

Các bài khác:
· TÌNH TANG TÔI NGHE NHƯ TÌNH LANG...
· CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT BÍCH KHÊ VEN VỰC HỒNG
· NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
· CỔ LŨY CÔ THÔN
· RẰM CUỐI NĂM, KỂ CHUYỆN BÍCH KHÊ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU XỨ BÀN THÀNH BÌNH ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - NHÀ THƠ LỚN CỦA VIỆT NAM
· THƠ ĐỀ NHÂN VIẾNG MỘ BÍCH KHÊ
· NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CÒN LẠI
· HƯƠNG THƠ
· TRONG THƠ MỚI CHƯA CÓ BÍCH KHÊ
· THƠ BÍCH KHÊ
· HAI BÀI THƠ VỀ BÍCH KHÊ CỦA PHAN BÁ TRÌNH
· CHÙM THƠ VIẾT VỀ BÍCH KHÊ CỦA NHIỀU TÁC GIẢ
· CHÙM TỨ TUYỆT DÂNG BÍCH KHÊCỦA MAI VĂN HOAN
· GIỚI THIỆU BÀI THƠ 'BÍCH KHÊ' CỦA TRẦN NGỌC HƯỞNG
· LÀNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ, TẾ HANH, BÍCH KHÊ
· MỘNG ĐÀI - CUỘC ĐỜI VÀ THƠ CA
· THƠ BÍCH KHÊ - MỘT THỂ NGHIỆM THƠ TƯỢNG TRƯNG
· MÙA THU XỨ HUẾ VÀ BUỒN VƯƠNG CÂY NGÔ ĐỒNG

 

  
Gia đình Bích Khê