BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
TINH HUYẾT MỘT THẾ GIỚI THƠ KỲ DỊ

Lê Hồng Hải

 

Tôi với anh không biết nhau bằng mắt/ Nhưng hai tim đều lắng tiếng âm ty/ Với lệ máu cùng mờ xa muôn sắc. Hai tim thôi yêu lỉm trong si”.(Thời gian). Đấy là một đoạn thơ trong bài Thời gian, một trong chùm ba bài thơ gồm: Thời gian, Ảnh ấy và Thi tứ mà Bích Khê gửi cho Hàn Mặc Tử, đã khiến Hàn Mặc Tử sửng sốt vì một thiên tài đương sắp sửa…và sau nó một Tinh huyết ra đời, sẽ được đông đảo người yêu thơ thừa nhận, Hàn Mặc Tử, người anh lớn, người bạn thơ không tiếc lời vinh danh trong phần Tựa cho tập thơ ấy. Một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể so sánh thơ Bích Khê như đóa hoa giản dị ấy(1). Một lời vinh danh, ca ngợi không quá lời, đối với một tuyệt phẩm, như Tinh huyết và xứng đáng cho nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà thơ Thu Xà và chính nỗ lực không ngừng nghỉ và khát vọng duy tân “lời truyền sóng chứa ngầm hơi thuốc nổ” đồng thời là sự kiến tạo. “Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới/ của lời thơ lóng đẹp hạt châu trong/ hạt châu trong ngời nhỏ hạt vô lòng/  tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng” đã tạo cho tinh huyết nhiều điểm khác lạ, làm cho nó trở thành một thách thức lớn đối với nhà thơ đương thời và mai hậu; một trong nhiều sự khác lạ mà độc giả và nhà nghiên cứu có thể thức nhận  được khi tiếp cận với tinh huyết ấy là: Thế giới của Tinh huyết là một thế giới kỳ lạ, bí ẩn, rợn ngợp… làm cho cảm xúc của người đọc rung rinh theo từng con chữ.“Đây bát ngát và thơm như sữa lúa./ Nhữa đương lên sức mạnh của lòng thương./ Mùi tô hợp quyện trong tô trăng lụa/ Đây dạ lan hương đây đỉnh trầm hương/ Đây bát ngát và hương như sữa lúa/ Hồn xa hương phơ phất ở trong sương”. (Mộng cầm ca).

Thế giới kỳ lạ, huyền diệu ấy là một phức hợp của vô vàn những thế giới khác: thế giới thần tiên, thế giới trần tục và thế giới ma quái với những đặc trưng riêng biệt của nó. Những thế giới này có khi hiện hiện một cách riêng lẻ.“Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh/ Về chốn thôn già viếng mả tôi/ Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ/ Trên mồ con quạ đứng im hơi”. (Nấm mồ).

Nhưng sự xuất hiện này hết sức hiếm hoi, độc giả may mắn mới có thể tìm thấy trong một khổ thơ… sự xuất hiện đồng hiện của các thế giới, các chiều kích không gian, thời gian và các rừng biểu tượng dường như là một quy luật của thơ Thơ Bích Khê. Vì vậy cùng một lúc người đọc  lại chiêm ngưỡng nhiều cảnh huống khác nhau, trải qua nhiều cảm xúc khác nhau: chưa kịp rùng rợn vì đối diện với xương khô, sọ người thì đã choáng ngợp ngây ngất trước vẻ lóng lánh của châu ngọc, vàng bạc…chưa kịp rợn lên trong lòng sắc màu phàm trần đầy khoái cảm nhục dục đã phải đi đến chốn thanh cao, tinh khiết với cái uyên nguyên của sự vật. Người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác vì không tài nào nhận ra được chân diện đích thực của sự vật.“... Một bàn chân ve vuốt một bàn chân! / Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân./ Máu ứ lại máu dồn lên giữa ngực./Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực. (Bàn chân).

Hoặc như, cái sọ người trong thơ thi nhân, nó không tạo cho người đọc cảm giác rờn rợn như chiếc sọ người”. “Đem mau đây chiếc sọ người ứ huyết/ chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh” của Chế Lan Viên. Mà nó là một biểu tượng đa phân, là nơi hội tụ đầy muôn vẻ: của hồn thơ, buồn xuân, bình vàng, chén ngọc, hồ nguyệt, trăng… phủ đầy hương, mỗi biểu tượng thơ tự phân thân ra thành nhiều biểu tượng thơ khác, cứ như thế biến ảo khôn cùng, các biểu tượng này là phức thể các ấn tượng, những cảm giác hồi tưởng, chiêm bao, huyền tưởng, tiềm thức và vô thức trùm lên không gian và thời gian, có chức năng gợi nghĩa chứ không phải để miêu tả (2).

Thêm một ví dụ về sự biến hóa, xin độc giả hãy đến với bài thơ Đồ mi hoa để thấy được đặc trưng nghệ thuật này trong thơ Bích Khê; mới đầu thi nhân đem đến cho độc giả một đóa đồ mi: “đây một đóa đồ mi,- ta đón lấy,/  áp hồn hoa… đem đặt giữa bài thơ.”, là suối nguồn của trinh tiết, của tinh khiết; thế rồi, đóa đồ mi đột ngột biến thành giai nhân, thành tiên nương cao giá phẩm tiết”, “một tiên nương mừa tựa một giai nhân,/ ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết”, thoắt một cái đã trở thành “ anh hồn hoa vũ trụ”, với đủ đầy “tinh chất khí âm dương”, để rớt ngọc, nhả sâm… sau đó biến ra nhạc, ra hương, ra vàng, ra ánh sáng, ra ngọc ngà sa gấm.“Đêm này đây ngời ngọc ngà sa gấm/ Sắc đẹp vừa hiện giữa đóa đồ mi”.

Sự biến hóa ra tính siêu nghĩa “các vật nào đó có ý nghĩa rộng lón hơn chính nó”. Độc giả sẽ “nhìn vào sự thực thì thấy chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang Địa hạt huyền diệu”(3) là vì vậy:“Lầu ai ánh gì như lưu ly?/ Nụ cười ai trắng như hoa lê?/ Thủy tinh ai để lòng gương hồ?/ Không gian xà cừ hay san hô?”.

Thế giới thơ kỳ dị, huyền ảo đó được đan kết với các yếu tố thi ca, nhạc, hương, màu sắc, ánh sáng, ngọc, châu và các hình tượng trung tâm: hồn, máu, giai nhân, trăng… và luôn đặt trong các mối tương quan, tương hợp, kỳ lạ.“Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ/ Sắc trong màu màu trong sắc hân hoan/ Ta như muốn mùa đông nhường lại chỗ/ Nhạc gầy hương hương gầy nhạc lan man”. Tuy nhiên, trong mối quan hệ của sự tương quan đó Bích Khê có ý thức rõ ràng trong việc tạo ra hai thái cực trái ngược nhau, như chúng tôi có dịp đề cập khi nói về cái sọ người trong thơ ông ở trên.

Bích Khê đã chứng tỏ biệt tài của mình trong việc “làm sáng tỏ đối tượng bằng màu sắc hoặc trừu tượng hoặc cụ thể khi thì huyền mơ diễm ảo khi thì âm u chói chang”(4).

Tạo ra một thế giới hư/thực chập chờn như vậy Bích Khê đã vận dụng một cách tài tình phương thức kỳ ảo, huyền thoại để định lượng đối tượng thẩm mỹ của mình, với một lòng tin đầy đủ về thế giới huyền diệu mà mình tạo ra, do sự chiếu sáng của những quan niệm nghệ thuật hằn sâu nơi tâm thức; nghệ thuật vị nghệ thuật, như Bauderlaire tuyên bố: Thơ ca là một cái gì đó hiện thực hơn, cái gì đó chỉ hoàn toàn thật trong một thế giới khác, cái thế giới đó hiện diện cái nhìn đầy cảm xúc của người nghệ sĩ là người Mơ, người Say, người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa. Tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý”(6). Do vậy, khi tiếp cận với thế giới những biểu tượng bí ẩn tượng trưng của Bích Khê, người đọc một mặt vừa thấy có sự trùng khít ý nghĩa với những biểu tượng nguyên thủy, một mặt lại thấy sự khác biệt lớn. Một điều vốn chú ý ở đây là, một thế giới nghệ thuật thơ đầy huyễn tưởng như vậy lại không làm người đọc thức nhận những giá trị văn hóa dùng trong việc phân chia ranh giới giữa thiện/ác, tốt/xấu, cao cả/thấp hèn… không giúp người đọc đưa ra kết luận về sự phải thắng thế của lẽ phải, phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức do môi trường văn hóa quy định, mà lại đưa người đọc đến một sự tham chiếu, quán tưởng về một sự hòa đồng các thế giới để chiêm nghiệm những trải nghiệm của mình trong quá trình sinh tồn trong cuộc sống xã hội. “Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh…/ Choáng thời gian vây nuôn đầu thục nữ./ Hồn đê mê, trong khi lòng giận dữ,/  và tạo ra một thứ sáng hào quang:/ Những mặt tươi, nhan sắc đẹp như trăng/ và lẻm sắc như thanh gươm vấy máu;/ Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu,/  có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu; (Sắc đẹp). Người đọc đã thấy khao khát  hoài vọng cái mới, cái đẹp, cái gì rung động chàng đến tê liệt dại khờ, dù cái đẹp có cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay dơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên những đê mê khoái lạc(7). Để làm được điều này Bích Khê không chỉ “húc dầu vào nhiều cánh cửa, vái đủ tứ phương, áp dụng các thuyết của Valery, Rimbaud, Mallarme, Poe, Bauderlare và của vị “ thiên sứ công giáo” là Henry Bremond”(8); mà còn đi về với cội nguồn văn hóa phương Đông và Việt Nam và tạo ra thứ tư duy tích hợp. Thế giới hư ảo, huyền hoặc kỳ bí của Tinh huyết là một sự giải tỏa, là tiếng lòng đi tìm sự tri ân, là một kiểu bù đắp những thiếu thốn trong cuộc sống cho đồng loại của mình và còn những gì hơn thế nữa… Bởi vậy ở mức độ này hay mức độ khác, ít hay nhiều, hậu thế vẫn cần đến Bích Khê, nên đâu đó trên đường đời ta vẫn thấy Bích Khê đi đi về về trong bóng nguyệt nơi làn ranh giữa thực và hư.“Sau nghìn thu nữa trên trần thế/ Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi”.

 

Chú thích:  

1.     Hàn Mặc Tử, tựa Tinh huyết, trong Bích Khê, Tinh huyết, NXB Hội Nhà văn Hà Nội, trang 9-10.

2.     Đỗ Lai Thúy 2002, Con mắt thơ, NXB Giáo dục, Trang 200.

3.     Hàn Mặc Tử, Tựa Tinh Huyết

4.     Văn 64, 1966, trang 70

5.     Hoàng Nhân, 1998, Phác thảo quan hệ văn học Pháp với văn học Pháp với văn học Việt Nam, NXB Mũi Cà Mau, trang 105.

6.     Chế Lan Viên, Tựa Điêu Tàn, trong Thơ Mới 1932 – 1945, Hội nhà văn, trang 719.

7.     Phan Cư Đệ, 2000, Thế giới nghệ thuật đáo của Hàn Mặc Tử trong Hàn Mạc Tử, tác phẩm và dư luận, tr.208-238.

8.     Chế Lan Viên 1988, thơ Bích Khê, Sở Văn hóa thông tin nghĩa Bình, trang 17.

 

            (Nguồn: tạp chí Sông Trà – 10.2009)

 

Các bài khác:
· NGÔN NGỮ THÂN THỂ - MỘT PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA (TRƯỜNG HỢP BÍCH KHÊ)
· GIỚI THIỆU BẢN DỊCH TIẾNG ANH "TRANH LÕA THỂ" CỦA BÍCH KHÊ
· TẢN MẠN VỚI THINH QUANG VỀ BÍCH KHÊ
· ÐỌC THƠ BÍCH KHÊ NGHĨ ÐẾN MỘNG ÐÀI
· BÍCH KHÊ-NHÀ THƠ TƯỢNG TRƯNG TÀI HOA RẤT MỰC
· THI PHÁP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ TRONG MÙA TRĂNG TƯỢNG TRƯNG
· NHÌN LẠI BÍCH KHÊ
· THƠ BỆNH BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - CON CHIM YẾN CỦA THỜI GIAN
· MƯỜI NĂM TRƯỚC ĐÃ CÓ CHUYỆN “ ĐƯỜNG BÍCH KHÊ”…
· Nhạc và họa trong thơ Bích Khê
· Bích Khê - nhà thơ của đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ
· Bích Khê: Từ Tinh Huyết thần dị đến Tinh Hoa thần linh
· Thơ không là nguy hiểm, từ bài học đổi mới của Bích Khê
· Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng
· TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ BÍCH KHÊ – NHÌN TỪ CÁC CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG THƠ
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (1)
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (2)
· ĐI VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ

 

  
Gia đình Bích Khê