BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
NHÌN LẠI BÍCH KHÊ

                                                                                                                                   Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nếu người ta tổ chức cuộc bình chọn trong công chúng bạn đọc về một danh sách "top- ten" của Thơ Mới, tôi tin rằng đa số ý kiến sẽ thống nhất khá dễ dàng với 10 tên tuổi thi nhân dẫn đầu phong trào thơ Tiền Chiến. Đó là bình về Thơ nói chung. Còn nếu nhấn mạnh trên chữ Mới, theo tôi có hai nhà, là Xuân Diệu và Bích Khê.


Xuân Diệu- như- chính ông, điều ấy đã được mọi người hiểu biết một cách đầy đủ. Còn Bích Khê? Trong bài tựa cho tập Thơ Bích Khê (do Sở VH- TT Nghĩa Bình xuất bản năm 1988), nhà thơ Chế Lan Viên viết rằng: "Sau thơ Hàn Mặc Tử, giờ đến lượt thơ Bích Khê đang nhập vào lưới điện quốc gia". Thế đủ thấy sự vắng mặt quá lâu của tên tuổi Bích Khê trong đời sống văn học của đất nước.

Theo hồi ức của bà Ngọc Sương về em trai của mình, thuở nhỏ Bích Khê thích khuân những tảng đá ong vào sân và xếp thành lâu đài, xếp xong lại giỡ, giỡ ra xếp lại thành kiểu khác. Có lẽ trò chơi say mê thời thơ bé ấy có mang một thông điệp linh ứng về sứ mệnh mà chàng sẽ thực hiện bằng cả đời mình, là kiến trúc cho Thơ một lâu đài tráng lệ và mới lạ, mà tôi e rằng trước và cả sau chàng, chưa từng có. Khi tập Tinh Huyết ra đời vào cuối năm 1939, Hàn Mặc Tử đã phải kinh ngạc kêu lên là "một đóa hoa thần dị", và theo Quách Tấn, Tinh Huyết đã gây nên trong làng Thơ đông đảo anh tài thời bấy giờ một làn sóng dư luận xôn xao có thể nói là "đến cực độ". Còn Chế Lan Viên, mà chúng ta biết là một nhà thơ đã tiếp tục sự nghiệp Đổi Mới chính cả Thơ Mới trong văn học thời đại chúng ta, vâng, chính Chế Lan Viên đã nhận định về Thơ Bích Khê 50 năm sau khi Tinh Huyết ra đời, rằng: "Anh có nhiều câu và nhiều bài mà... mà các thầy có khi không có. Hàn Mặc Tử không có, thơ Việt Nam trước đó không có".

Ở Bích Khê, truớc hết là một khát vọng cách tân mạnh mẽ và triệt để dành cho Thơ. Hiển nhiên là bất cứ thi sĩ đương thời nào cũng có một phương cách riêng để làm mới thơ, kể cả thơ cổ điển của Quách Tấn. Nhưng ở Bích Khê, ý thức Đổi Mới này đã thể hiện thành hành động sáng tạo quyết liệt, triển khai trong mọi tầng, mọi hướng của thi pháp, hoặc theo cách nói của Chế Lan Viên, là "vừa làm thơ, vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước". Từng bài trong hai tập thơ Tinh Huyết và Tinh Hoa đều mang dấu bứt phá của nhà thơ, từ chữ nghĩa, tiết điệu, nhạc tính, hình tượng và cấu trúc... Tất cả nhằm đem lại cho thơ một phong vận hoàn toàn mới lạ, hầu như là một sự tái sinh của tiếng Việt trong ngôn ngữ thơ. Bứt phá cho tới cùng, thì trong thơ Bích Khê hiện ra những câu như thế này:

- Ô hay buồn vương cây ngô đồng.
Vàng rơi! vàng rơi! Thu mênh mông!


Hoài Thanh bảo rằng đó là "Những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam". Quả là hay, ở chỗ vẫn bằng ấy chất liệu ấy đã quá cổ điển để nói về mùa thu, nhưng hiệu quả thơ lại hoàn toàn mới: ở đây, tiếng Việt như chỉ cần hai thanh để tạo nên một nhạc điệu muôn vàn, chỉ một chút vàng để tạo ra một tác phẩm hoàn mỹ của hội họa ấn tượng, và sau cùng là một mùa thu của đất trời mà tuồng như lần đầu tiên ta nhìn thấy.

***

Sự Đổi Mới trong sáng tạo không thể khoanh vùng riêng cho thơ, mà rút sợi dây thơ là động tới cả khu rừng nghệ thuật. Nói khát vọng đổi mới tất phải hiểu như vậy. Chính vì thế, trong bài thơ Duy Tân, mà có lúc là bài thơ thích nhất của tác giả, Bích Khê đã nói tới cả kiến trúc, nhiếp ảnh, hội họa, âm nhạc, điêu khắc... Đừng nghĩ rằng thi sĩ đã ôm đồm, ở đây Bích Khê khẳng định một yêu cầu thuộc về bản chất của khát vọng Đổi Mới:

- Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm
Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sâu câm
Lúc trong ngâm, giữa kho vàng mộng tưởng
Múa song song khiêu vũ dưới đêm hồng.


Có thể kết luận rằng bài thơ Duy Tân là một Tuyên ngôn của ý thức sáng tạo, và Bích Khê mang dòng màu của một con người đi khai phá- khai phá một thế giới mới. Sau lưng những người đi khai phá, thế giới bao giờ cũng khác đi một chút gì so với chính nó. Trường hợp Bích Khê và Thơ Việt Nam cũng vậy. Thời ấy, Hoài Thanh gọi Xuân Diệu là nhà thơ "mới nhất" của Thơ Mới. Nay có đủ cả Tinh Huyết, Tinh Hoa và những bản thảo đã được công bố, tôi nghĩ rằng "mới nhất" của Thơ Mới chính là Bích Khê, dù điều này cũng không ảnh hưởng chút gì đến vị trí xứng đáng đã được khẳng định của Xuân Diệu trong Thơ Tiền Chiến. Không ai có thể nói khác đi rằng trong thơ Xuân Diệu, cái Mới và cái Hay tan hòa vào nhau thành một khối ngọc toàn bích.

Tôi xin phép nghĩ thêm về tâm thức văn hóa của một nghệ sĩ sáng tạo, với Bích Khê. Hơn bất cứ ngành nghệ thuật nào. Thơ sinh thành, sống và chết trong Tiếng Mẹ, sinh mệnh của Thơ tồn tại trong ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Bích Khê ý thức rất rõ điều này, nên dù mạo hiểm tới đâu trong cuộc tìm kiếm cái mới, tới mãi tận những bến bờ xa xôi của thơ Pháp, khát vọng Đổi Mới của Bích Khê vẫn giữ lấy nguồn cội để quay về chính trong bài thơ- tuyên ngôn nói trên, sau cùng Bích Khê đã nhắc lại:

- Bằng cảm tình, bằng hình ảnh, yêu thương
Và mới mẻ- trên viện cổ đông phương


Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật...

Chúng ta có thể thấy khắp mọi nơi, rằng bên trong cái hình hài mới tinh khôi của thơ Tượng Trưng, thơ Bích Khê được tạo nên bằng chất liệu văn học, văn hóa và tình tự sâu thẳm của dân tộc. Thí dụ bài Hoàng Hoa, với những câu như thế này:

- Oanh già theo quyên; quên tin chàng
Đào theo phù dung: thư không sang
Ngàn khơi, ngàn khơi, ta ngàn khơi
Làm trăng theo chàng qua muôn nơi


Chúng ta dễ dàng nhận ra đấy chính là Chinh Phụ Ngâm. Một Chinh Phụ Ngâm thu gọn lại trong 18 câu, toàn là thanh bằng. Thế có lạ không?

Hành trình Thơ của Bích Khê là cuộc chinh phục của trí tuệ tự do, qua khắp mọi miền của Nhạc và Lệ, Đẹp và Dâm, Cuồng và ánh sáng, qua hết một phong trào Thơ Mới và một thế kỷ thơ Pháp, để cuối cùng đạt tới Chính Mình với lòng rỗng không của hang động Ngũ Hành Sơn thanh thản, thoát xác và ngộ đạo trong ánh sáng trí tuệ của Thiền:

Bảy lần đài Vọng Hải
Ta sẽ ngồi nhập định
Bốn mươi chín ngày đêm
Mặt nguyệt rót êm đềm

Mặt trời tuôn sáng tạo
Thần trí mở kho tàng
Tượng trưng vầy cao đạo
Chỗ chính phẩm văn chương


Bài thơ Ngũ Hành Sơn là một đỉnh cao tâm linh của thi sĩ, ở đó chỉ nói riêng về thơ, là một khối ngọc kết tinh những giá trị mỹ học truyền thống và hiện đại; hoặc nói cách khác, là một hình thái phát triển nội sinh của văn học, đưa thơ đi rất xa trên con đường cách tân bằng nội lực văn hóa của dân tộc.

Bích Khê đã sống cuộc đời ngắn ngủi và bất hạnh của một thiên tài. Những gì chàng đã nói ra và làm giữa cõi đời này đều mang hội chứng của thiên tài: một người đã quyết định bỏ ra sáu tháng để tạo nên sự nghiệp quán thế của cả một đời thi sĩ (như lời chứng của Hàn Mặc Tử), cũng là người biết trước cái chết của mình, đợi đúng giờ hẹn và thanh thản ra đi. Thảo nào mà khi đọc thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử đã gọi bạn mình là "thi sĩ thần linh".

 

Các bài khác:
· THƠ BỆNH BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - CON CHIM YẾN CỦA THỜI GIAN
· MƯỜI NĂM TRƯỚC ĐÃ CÓ CHUYỆN “ ĐƯỜNG BÍCH KHÊ”…
· Nhạc và họa trong thơ Bích Khê
· Bích Khê - nhà thơ của đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ
· Bích Khê: Từ Tinh Huyết thần dị đến Tinh Hoa thần linh
· Thơ không là nguy hiểm, từ bài học đổi mới của Bích Khê
· Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng
· TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ BÍCH KHÊ – NHÌN TỪ CÁC CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG THƠ
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (1)
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (2)
· ĐI VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ: 'THUẦN TÚY VÀ TƯỢNG TRƯNG'
· CHÍNH THƠ ĐÃ GIẾT BÍCH KHÊ
· ĐIỀU ĐÁNG NÓI Ở ĐÂY, LÀ CÙNG Ở TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN...
· NHỮNG CÂU THƠ ĐÓ NHƯ LÀ CHÌA KHÓA MỞ VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ...
· MỘT CÕI THƠ GẮN SỐ PHẬN VỚI NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA THƠ MỚI
· BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - 'THI SĨ THẦN LINH', THƠ 'LÕA THỂ'

 

  
Gia đình Bích Khê