BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
Bích Khê: Từ Tinh Huyết thần dị đến Tinh Hoa thần linh

Với Tinh Huyết, “Bích Khê giã từ con sông dù sao cũng vẫn êm ả của thơ cũ, để nhảy vào dòng xoáy của thơ mới”. Bởi trước đó, từ năm 12 tuổi, Bích Khê đã được biết đến với những bài thơ Đường luật khá ấn tượng. Song như đã nói ở trên, cũng như các nhà Thơ Mới khác, vào thời điểm đó, Bích Khê tiếp nhận một cách hào hứng tư duy thơ hiện đại phương Tây. Tuy nhiên, Bích Khê lại mở cho riêng mình một con đường thơ với khát vọng “duy tân” cháy bỏng. Và nếu đọc Tinh Huyết, ta sẽ thấy nhà thơ Chế Lan Viên thật có lý khi nhận xét Bích Khê thực sự là “một đỉnh núi lạ” trong làng Thơ Mới. Và Bích Khê lạ thật.
Chúng ta không bắt gặp trong Tinh Huyết những câu thơ đồng quê “thân thuộc” kiểu Nguyễn Bính như:
Bữa ấy mưa xuân lất phất bay    
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy…
 Hay những câu thơ “điên loạn” kiểu Hàn Mặc Tử:
Tôi muốn hồn thơ trào lên ngòi bút
                        Mỗi câu thơ đều dính não cân tôi
 Hoặc những câu thơ đầy ắp “mối sầu vạn kỷ” như Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
                        Con thuyền xuôi mái nước song song
                        Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng?
 Mà ngạc nhiên bởi những câu thơ xuất thần, lạ lẫm mang màu sắc tượng trưng siêu thực, có vẻ hơi lạnh lùng (nhưng kỳ thực nó hàm chứa nội lực mãnh liệt của người sáng tạo!) của một tư duy nghệ thuật vô cùng mới mẻ:
                        Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
                        Ô vung lên… cắt mạch nguyệt vàng xanh!
                        Xẻ mạch trời, - mây xô sao, răng rắc!
                        Phăng mạch đêm, - hương vỡ, ứa ngầm tinh!
                        Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
                        - Ta điên rồ… múa giữa áng bình minh.
                                                                        ( Mộng cầm ca )
Tinh Huyết chia làm 4 phần: Nhạc và Lệ, Đẹp và Dâm, Cuồng và Ánh sáng, Châu. Mỗi phần đều cho thấy vẻ “thần dị” trong cách cảm nhận của Bích Khê về đối tượng mà ông hướng tới. Trong Nhạc và Lệ, Bích Khê dường như đắm mình trong suối nhạc của lòng ông. Nhạc chảy ra từ “mộng cầm ca” với sự hòa điệu “hơi thở của hoa hồng mơ mộng”, của “buồn đêm rào rạt”, của “không gian tơ gợn sóng”, “của hồn thu đi lạc ở trong mơ”… khi nhớ về nàng Ngọc Kiều trắng trong, đoản mệnh trong Mộng cầm ca; nhạc vang ngân từ những âm thanh tỳ bà vừa nền nã sang trọng, vừa réo rắt buồn thương trong bài thơ Tỳ bà trên nền những thanh ngang, thanh huyền huyền diệu ẩn dấu một mối tình da diết trong cõi sâu xa; và  rồi nhạc chảy tràn từ bóng tiên nương trong bài Nhạc:
                        Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
                        Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
                        Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
                        Ô nàng tiên nương! – hớp nhạc đầy hương.
Và chỉ cần :
Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương:
Ôi sao là khúc Ba sinh lụy
Rào rạt như đầy nỗi cảm thương!
                                          (Hiện hình)
Thế nên, tiếng đàn Bích Khê thật nhiều cung bậc: khi rung, khi nghẹn, khi rụng, khi câm, khi bẻ phím. Và như đã nói, nhạc ấy là nhạc lòng nên có lệ. Lệ ấy là lệ của những tê mê, nhiều thương cảm với cõi trần gian thi vị nhưng cũng lắm đau thương, cũng nhiều hệ lụy:
 
 Ai xây bờ xanh trên xương người?!
 Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?!
      (Hoàng hoa)
Lệ ấy là lệ của những ám ảnh từ một mối duyên tình dang dở khắc sâu trong tâm tưởng thi nhân:
                        Anh không rời nữa ảnh thơ ngây
                        Và trở nên người dễ khóc lây.
                        Anh khóc mắt anh trong mắt ấy
                        Để rằng:
                                         - Em khóc với anh đây!
                                                                  (Ảnh ấy)
Không quá ồn ào hay sướt mướt, Nhạc và Lệ của Bích Khê đem đến cho ta cái cảm giác được bay bổng, được va đập, được chạm khắc…
Còn với Đẹp và Dâm, Bích Khê dẫn ta vào một thế giới khác, thế giới của nhan sắc và dục vọng với những bức Tranh lõa thể hút hồn người:
                        Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ
                        Ô tiên nương! Nàng ngự trị nơi nầy?
                        Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
                        Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Hình ảnh thiếu nữ trong tranh đẹp vô ngần với “nhan sắc lên hương” khiến thi nhân hồn nhiên thốt lên ý nghĩ chiếm đoạt: “Hai vú nàng! hai vú nàng! chao ôi! - Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng. Nhưng đó là ý nghĩ chiếm đoạt trong trẻo bởi thi nhân đã kịp “run run hãm lại cánh hồn si…” trước “lồ lộ một tòa hoa nghiêm động”. Thế mới biết, hồn thi nhân cao khiết biết dường nào. Và phải chăng, đấy cũng là điều thần dị? Còn nữa, nếu Xuân Diệu bộc lộ không giấu giếm thái độ tham lam, vồ vập, thèm khát quá mức trước cái đẹp: “Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời. Kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thì Bích Khê lại có cách nói hiền lành hơn, nhưng độ rung vang của cảm xúc thì thật vô cùng:
 
                        Nàng! hở nàng! hãy cắn vào hồn ta.
                        Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo hức!
                        Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức.
                                                                            (Bàn chân)
Bích Khê có hẳn một bài thơ nói về sắc đẹp với tựa đề Sắc đẹp, trong cách mô tả của ông, sắc đẹp hiện lên ở đủ mọi cung bậc của cuộc sống, những cung bậc đôi khi trái ngược nhau nhưng lại thể hiện một cách lôgic quy luật của cái đẹp và bài thơ kết thúc rất “con người”: “Hồn người mê Sắc đẹp trên giường”.
Trong Cuồng và Ánh sáng thì hầu như bài thơ nào cũng xuất hiện những trạng thái cảm xúc dường như bị dồn đẩy đến tận tận cùng, có thể hiểu, đó là cảm giác cuồng (chứ không cuồng loạn!) mà Bích Khê muốn bộc bạch ở đây. Nhưng, Bích Khê không bao giờ bị rơi vào ngõ cụt mà thường từ điểm tận cùng ấy là hình ảnh của ánh sáng, thứ ánh sáng phủ lấp mọi ưu phiền. Ánh sáng ấy có thể là hồn, có thể là miệng yêu kiều, có thể là trinh tiết… Bích Khê đã viết trong bài thơ Sọ người những ý nghĩ thật khó đoán định. Người đọc chỉ có thể cảm nhận được hình như có cái gì đó quay cuồng, se sắt trong tâm trạng của thi nhân, khi mường tượng về một hình bóng tiên nương đã khuất. Không thấy sọ người, chỉ thấy “trăng lấp loáng”, “ánh sáng chớp say no”, “ánh sáng chớp mau mau” và “chấp chóa ánh lưu ly”… tất cả tỏa ra từ “hoa thần bí vấn vương hồn ngọc nữ”. Trong bài thơ Đồ mi hoa cũng vậy, bóng dáng giai nhân gợi lên qua một đóa đồ mi, thi nhân ngây ngất bể sầu thương, song sắc đẹp đã làm cho “cả không gian là bể sáng tràn lan” nên chỉ còn lại một cõi lòng “uy nghi” vời vợi. Hay những ám ảnh đến cuồng si của “cặp mắt”, của bóng “nàng bước tới…” đều “sáng như gươm và chấp chóa kim cuơng” hoặc như thể “hào quang khiêu vũ với hào quang”.
Châu thì chỉ duy nhất một bài cùng một tựa đề Châu, hiểu là nước mắt, là châu báu đều được cả. Bởi lẽ, Bích Khê đã kể về những giọt nước mắt mà ở đó hàm chứa tất cả những vẻ đẹp mà ông cảm nhận được từ cuộc sống: vẻ đẹp của đau thương, vẻ đẹp của nhan sắc, vẻ đẹp của lòng mê say yêu đắm, vẻ đẹp của khoái lạc, vẻ đẹp của thơ, của mùa, của cái chết… và đến cả khi “Tôi chết rồi! Tiếng nói cũng như châu”. Thật không dễ dàng gì để biến biểu tượng của sự bi lụy – nước mắt thành châu báu, vậy mà Bích Khê đã làm được, bằng cái cách rất khác người nhưng lại rất “người” ấy.
GS. Lê Hoài Nam cho rằng: “Tinh Huyết là cả một bầu máu nóng của tuổi trẻ với những ưu điểm nhược điểm của nó”. Song, Tinh Huyết, đó thực sự là một cuộc thử nghiệm táo bạo đầy bản lĩnh của Bích Khê trong hành trình đi tìm cái mới ngay trong lòng cái mới. Tinh Huyết đúng “là mùa thuhoạch đầu tiên trênmảnh đất mới” của người thi nhân mà “tinh chất ngàn xuân hiệp lại ta”.
                                                         ***
 “Tinh Hoa là một cuộc trở về: trở về với những lối thơ truyền thống cùng những âm hưởng quen thuộc, nhưng cấu trúc không hoàn toàn như cũ; trở về với cách nghĩ, điệu cảm quen thuộc nhưng với một tâm trạng con người thời đại mới”. Đây là một đánh giá xác đáng thi phẩm này của Bích Khê. Tinh Hoa đã khắc phục được những ý tưởng đổi mới, đôi khi còn “sống sượng” trong Tinh Huyết. Tinh Hoa cho thấy độ chín trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê, mọi ý tưởng mà ông khởi đầu trong Tinh Huyết được hoàn thiện trong Tinh Hoa. Không còn là lối nói cường điệu thái quá,  đôi khi làm mất vẻ đẹp tự nhiên của hình tượng thơ và làm cho người đọc có cảm giác bị áp đặt, Bích Khê đã mang đến cho tập thơ này của mình một lối nói đằm thắm, dễ hiểu nhưng vẫn hết sức kiêu sa. Duy tân, Xuân tượng trưng, Ngũ Hành Sơn, Lên kim tinh, Làng em, Nấm mộ… là những biểu hiện tính chất “thần linh” của Tinh Hoa.
Tinh Hoa không chia thành các phần khác nhau theo chủ đề như Tinh Huyết, những bài thơ trong Tinh Hoa biểu hiện sự hoàn thiện của một tư duy nghệ thuật thơ đã được lựa chọn. Nói như Trịnh Hoàng Mai: “Nó như một ánh sao đêm, dồn tất cả tinh lực để cháy lên rồi sau đó tắt lịm… Hình tượng đẹp đẽ hơn, hoành tráng hơn, các biện pháp nghệ thuật vừa mới mẻ, vừa siêu thoát hơn…”. Ngay trong bài mở đầu – bài thơ Duy tân, Bích Khê khẳng định chắc chắn hướng đi mà mình đã thử nghiệm trong Tinh Huyết:
 
                        Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
                        Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong.
                        Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng…
            Và quả thực, ta như bay lên với những vần thơ nhẹ nhõm, tinh hoa trong Xuân tượng trưng khi chứng kiến cảnh tượng:
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt;
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương. Phất phơ lau lách
Khe uốn mình giai nhân;…
            Hay Lên kim tinh để chiêm ngưỡng “Thơ thủy tinh nơi lòng trăng mật – Nhạc thiên nhiên đầy nhạc pha lê” hoặc “lên chơi hòn Non Nước” để thả hồn phiêu linh trên “đường thu mưa nhỏ giọt” giữa tiếng chuông chùa thánh thót, để diện kiến:
                                    Phật Như Lai thoạt hiện
                                    Trên bảy sắc cầu vồng
            Quả thực, đến với Tinh Hoa, ta không còn cảm giác phải đối mặt với những hình ảnh quá lạ lẫm, quá khó hiểu như từng gặp trong Tinh Huyết. Mọi cái được nói đến ở đây, dù rất mới nhưng không lạ mà đều hết sức gần gũi. Ngũ Hành Sơn là một cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, song Bích Khê không nhìn nó dưới góc độ mô tả thông thường mà nhìn từ tâm linh, từ sự ngưỡng vọng và từ cả những khát khao trần thế. Cho nên, đọc Ngũ Hành Sơn (Tiền, Hậu) ta không chỉ lạc vào cõi Phật, vào động Thiên Thai mà còn lạc vào thế giới của ái ân tình tứ. Bích Khê quả đã mang đến cho Ngũ Hành Sơn một gương mặt mới, quyến rũ và hấp dẫn hơn nhiều.
            Ta cũng thấy trong Tinh Hoa xuất hiện nhiềubài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn tứ tuyệt và thể lục bát hơn Tinh Huyết. Đó thực sự là một cuộc trở về hết sức thú vị của Bích Khê trên hành trình thi ca nhiều khát vọng của ông. Những bài thơ tứ tuyệt như: Tóc xõa đàn tơ, Quán khách xuân về, Dưới trăng ngồi gảy đàn, Nhặt hoa, Đề ảnh, Lời tuyệt mệnh… giống như những lời tự sự, hết thảy đều chứa đựng những cảm xúc thâm trầm pha lẫn buồn thương và cả những khát vọng tha thiết nơi ông:
                                    Thân bệnh triền miên sầu quán khách
                                    Đầu đường dương liễu sảy tươi xanh
                                    Gởi tình cái én xuân muôn dặm
                                    Hắt giọt lòng đông cảnh một mình.
                                                                (Quán khách xuân về)
            Ám ảnh bệnh tật và nỗi cô đơn hiện rõ. Nhưng điều đó không làm mất đi tinh thần sáng tạo của người thi sĩ giàu nhiệt huyết này. Nhiều ý thơ đẹp vẫn nảy nở và tỏa sáng. Trong mắt Bích Khê, không gian có lúc mở ra tình tứ, âm thanh và màu sắc quấn quýt lấy nhau :
                                    Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
                                    Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng.
                                                                                                Duy tân)
            Hình ảnh “màu cưới màu bình lặng” là biểu hiện của một tư duy nghệ thuật hiện đại nhưng vẫn đậm chất Á đông. Cái thần tình của ngòi bút Bích Khê chính là ở đó. Và, qua cái nhìn của ông, có lúc không gian như cô lại song vẫn rạng rỡ trong cái dài dặc, buồn bã của thời gian:
                                    Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc
                                    Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.
                                                                               (Làng em)
            Với Tinh Hoa, Bích Khê đã thể hiện một cái nhìn tân kỳ, phóng khoáng về vạn vật, về con người. Và ở tập thơ này, Bích Khê sáng tác theo đúng quan niệm “mới mẻ trên viện cổ Đông phương” mà ông dày công tìm tòi, sáng tạo. Nếu trước kia Tinh Huyết chịu ảnh hưởng mạnh hơn của phương Tây, thì bây giờ Tinh Hoa để yếu tố phương Đông trỗi dậy “tạo ra sự hài hòa trong nội dung cũng như trong hình thức”. Tuy nhiên, Bích Khê “vẫn giữ được một sự nhất quán về những quan niệm nghệ thuật cơ bản của mình” trong quá trình sáng tác.
            Tóm lại, theo GS. Lê Hoài Nam, “có thể khái quát tiến trình thơ Bích Khê trong mạch nguồn Thơ Mới như sau: Tinh Huyết là phủ định của “thơ cũ”, và Tinh Hoa là phủ định của Tinh Huyết vậy”. Tinh Huyết đã thực sự mang đến cho chúng ta một cách nhìn mới về thơ, qua lối tư duy hiện đại của Bích Khê. Cả tập thơ là tiếng nói mạnh mẽ phô bày vẻ kiêu sa một hồn thơ bạo liệt và đầy bản lĩnh. Có bao nhiêu cái mới, Bích Khê dồn cả vào đấy để thỏa mãn khát vọng “đẩy lịch sử thơ ca lên một bước mới”. Còn ở Tinh Hoa, sau khi rút ra những tổng kết về chặng đường đã đi qua trong Duy tânXuân tượng trưng, Bích Khê quay trở về  với những âm điệu gần gũi và quen thuộc, thơ ông hướng đến những cảm xúc trầm lắng và suy ngẫm có chiều sâu về cuộc đời. Tinh HuyếtTinh Hoa chính là kết quả đẹp đẽ của một tư duy nghệ thuật tích hợp nhuần nhuyễn và tinh tế các yếu tố Đông – Tây trong sáng tạo nghệ thuật, của một nhà thơ biết “hy sinh toàn diện cho Thơ. Nhà thơ ấy có tên Bích Khê.
                                                                                                            Tháng 12.2007.

                                                                                                       Thạc sĩ  Trần Thu Hà

 

Các bài khác:
· Thơ không là nguy hiểm, từ bài học đổi mới của Bích Khê
· Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng
· TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ BÍCH KHÊ – NHÌN TỪ CÁC CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG THƠ
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (1)
· 'TINH HUYẾT' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI (2)
· ĐI VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ: 'THUẦN TÚY VÀ TƯỢNG TRƯNG'
· CHÍNH THƠ ĐÃ GIẾT BÍCH KHÊ
· ĐIỀU ĐÁNG NÓI Ở ĐÂY, LÀ CÙNG Ở TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN...
· NHỮNG CÂU THƠ ĐÓ NHƯ LÀ CHÌA KHÓA MỞ VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ...
· MỘT CÕI THƠ GẮN SỐ PHẬN VỚI NHỮNG BƯỚC THĂNG TRẦM CỦA THƠ MỚI
· BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - 'THI SĨ THẦN LINH', THƠ 'LÕA THỂ'

 

  
Gia đình Bích Khê