BÌNH THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ - "ĐỈNH NÚI LẠ" TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

                                                                                Bienlang 

 

Đầu những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, trong nền văn học Việt Nam diễn ra một cuộc vận động đổi mới mạnh mẽ, làm xuất hiện một loạt các nhà thơ mới với cá tính sáng tạo độc đáo, những tác phẩm đặc sắc. Nằm trong dòng mạch vận động đó, Bích Khê được đánh giá là một trong những cây bút có những cách tân mới lạ về ngôn ngữ thơ. Từ "Tinh huyết" đến "Tinh hoa", Bích Khê đã có những sáng tạo không mệt mỏi, một nỗ lực vượt thoát chính mình, tạo nên một phong cách, một "đỉnh núi lạ" trong phong trào Thơ mới. Mặc dù có một vị trí khá đặc biệt như thế nhưng cho đến hôm nay, trong đời sống văn học của nước nhà, Bích Khê vẫn gần như là một "người lạ mặt". Chính cái "lạ" đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về thơ của Bích Khê.

Số mệnh chỉ cho Bích Khê sống một đời người ngắn ngủi, vẻn vẹn có ba mươi năm (1916 - 1946), nhưng đời thơ của Bích Khê còn ngắn ngủi hơn. Kể từ khi ông có tác phẩm xuất hiện trên báo chí cho đến khi ông lìa cõi đời, thời gian tính ra chỉ khoảng hơn 10 năm. Trong 10 năm ấy, Bích Khê đã để lại cho đời những tác phẩm không thể nào quên; góp một tiếng nói mới cho phong trào Thơ mới. Đó là cách quan niệm về cái Đẹp, cách cảm nhận mới về thế giới; sự sáng tạo những vần thơ độc đáo và giàu nhạc tính; sự nỗ lực cách tân hình thức thơ...

Trước hết, phải nói đến cách quan niệm mới về cái "Đẹp". Tình yêu, sự ám ảnh của cái chết, nỗi cô đơn là những đề tài chủ yếu của cả hai tập thơ. Nhưng bao trùm lên tất cả là sự tìm kiếm, lòng khát khao cái Đẹp. Có lẽ vì thế mà thoạt đầu Bích Khê định dành cho tập thơ Tinh hoa cái tên là "Đẹp".
Quan niệm về cái đẹp của Bích Khê rất phức tạp. Đây cũng là nơi bộc lộ rõ ảnh hưởng của Baudelaire đối với ông. Charles Baudelaire quan niệm rằng, cái đẹp có thể đến từ bất cứ nơi nào trên thế giới: từ thiên đường cũng như từ địa ngục, là Thượng đế hay quỷ Sa tăng, thánh thiện hay tội lỗi, niềm vui hay thảm hoạ, ngay trong cả cái xác chết "thối hoăng" cũng toát lên một vẻ đẹp rực rỡ như một bông hoa vừa nở sớm mai, trong tiếng chuông rè kia lại vang lên những "âm thanh kính cẩn", quỷ Sa tăng vẫn có thể là "vị thiên thần hơn tất cả những thiên thần đẹp giỏi". Baudelaire đã xoá nhoà ranh giới giữa cái đẹp với cái ghê tởm, ca ngợi xác thịt với những câu thơ nặng nhục cảm, đưa cái ác vào phạm trù thẩm mĩ. Theo ông, cái xấu cũng như cái đẹp, cái thiện cũng như cái ác, một khi được đưa vào tác phẩm nghệ thuật đều có thể gây nên những rung động thẩm mĩ ngang nhau. Có thể nói, "Tụng ca sắc đẹp" của Baudelaire là bài thơ thể hiện rất rõ quan niệm thẩm mĩ mới lạ này của ông:

"Nàng từ trên trời bay xuống hay từ vực thẳm hiện lên
Ôi! Sắc đẹp! Đôi mắt nàng quỉ quái và thần tiên
Rót thiện ác vào lòng người lẫn lộn
Nên người ta ví nàng như rượu người ta uống"


Cũng như Baudelaire, Bích Khê quan niệm cái đẹp hiện diện ngay trong những cái hỗn độn xô bồ của cuộc sống: "Một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy" (Duy tân). Ông cũng có một bài thơ nhan đề là "Sắc đẹp":

"Những mặt tươi nhan sắc đẹp như trăng
Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu."

Quan niệm mĩ học này chính là nguyên lý chi phối hướng cách tân trong thơ Bích Khê. Cũng như trong thơ Baudelaire, thơ Bích Khê cũng có rất nhiều những hình ảnh kỳ dị như sọ người, xác chết, máu cuồng, hồn điên, tinh huyết... Nhưng những cái mà người đời thường coi là xấu xa, ghê tởm ấy hiện lên trong thơ Bích Khê lại gợi lên những vẻ đẹp bất ngờ. Cái sọ người kia chính là "bình vàng", "chén ngọc", "hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng"... Còn máu cuồng hồn say kia chính là trạng thái thăng hoa của tâm hồn.
Mĩ học của Baudelaire vừa đề cao cái thanh cao của đời sống tinh thần lại vừa dành chỗ cho khoái lạc xác thịt. Bích Khê đã tiếp nhận cái mĩ học ấy với cả hai mặt tích cực và tiêu cực của nó. Trong thơ ông, cái đẹp trong sáng luôn đi liền với cái mà ông gọi là "vẻ đẹp của khiêu dâm". Nhục thể trong thơ Bích Khê, vì thế, vừa gợi lên những gì là thanh nhã, thuần khiết, thánh thiện, đồng thời lại hết sức trần tục, vừa có tính chất lý tưởng lại vừa hết sức thực tế. Cái đẹp đó vừa đưa người ta vào một thế giới huyền ảo, lại vừa khiến người ta phải sởn ốc. Ngay cả nhan sắc của người yêu, ông cũng vừa cảm nhận thấy "vẻ huyền diệu" làm ông ngây ngất nhưng cũng vừa bắt gặp "vẻ yêu tinh" khiến lòng ông giận dữ. Tuy nhiên, trong sự tranh chấp giữa tâm hồn và xác thịt, cuối cùng phần ưu thắng vẫn thuộc về những cái trước, xác thịt chỉ là tạm thời còn tình yêu mới là vĩnh viễn:

"Nàng! Nàng! Nàng! Không có nữa châu thân
Xác là mộng mà tình là tuyệt đích"

(Nàng bước tới)

Hơn nữa, trong sự giao động giữa hai cực đối lập, cái thanh cao và cái thấp kém, thiên đường và địa ngục, Bích Khê cho rằng đi sâu vào cực này là điều kiện để hiểu hết ý nghĩa của cực kia:

"Ôi! Say khướt mới dào muôn ý tứ
Ôi! Điên rồ mới ngớp ánh chiêm bao
Ôi! Dâm cuồng mới biết rõ giá trăng sao."

(Trái tim)

Đối với cái đẹp trong thơ ca, Bích Khê quan niệm rằng, cái đẹp trong thi ca là cao nhất, là sự tổng hợp tất cả những cái đẹp của hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, nhiếp ảnh và nhất là âm nhạc. Cái thế giới mà Bích Khê muốn tạo nên trong các tác phẩm của mình gồm ba tầng: tầng thứ nhất là cái thế giới cảm tính đầy những hương thơm, sắc màu tươi mát, mùi vị ngọt ngào, tiếng nhạc êm ái; tầng thứ hai là địa ngục, là thế giới của dục vọng, và tầng trên cùng là thiên đường, là thế giới của thi ca. Ông muốn tìm cho thơ mình một tiếng nói riêng. Đó sẽ là một thứ thơ sử dụng một ngôn ngữ thật trau chuốt, trong sáng, đầy âm hưởng, tạo ra những hình ảnh mới mẻ đầy sức sống, mang nhiều tầng lớp ý nghĩa. Nhà thơ phải thể hiện cái tinh tuý của sự vật, nhập thân vào tự nhiên để khám phá ra ý nghĩa, ngôn ngữ thầm kín của vạn vật. Trên cơ sở kết hợp giữa cái hiện đại và cái truyền thống, thơ phải đạt đến một cái đẹp chân thật, thuần tuý, làm say lòng người.

Cách cảm nhận mới về thế giới cũng là một đóng góp mới của Bích Khê . Bích Khê luôn mở rộng các giác quan tinh tế để cảm nhận thế giới và chỗ nào các giác quan dừng lại thì ông dùng đến trực giác và trí tưởng tượng mạnh mẽ để khám phá những bí ẩn hàm chứa trong sự vật. Thế giới trong thơ Bích Khê đầy hương thơm, màu sắc và âm nhạc. Các yếu tố hương, sắc, nhạc đó giao hoà với nhau trong một thể thống nhất âm u mà sâu thẳm. Điều này sẽ được chúng tôi chứng minh khi đi vào tìm hiểu lớp từ chuyển đổi cảm giác trong thơ ông.

Trong sự cảm nhận thế giới của Bích Khê, âm nhạc có một vai trò đặc biệt quan trọng. Đối với ông, dường như đâu đâu cũng vang lên tiếng nhạc, dường như tất cả đều vận động theo nhạc điệu: Nhạc trong gió, trong nắng, nhạc trong lời nói, trong hơi thở của con người. Trái tim, lồng ngực, và cả da thịt người con gái đều rung động theo nhịp điệu và cung bậc: "Tôi qua tim nàng vay du dương" (Tỳ bà); "Mùa nhạc gẫm nao nao trong lồng ngực" (Cô gái ngây thơ); "Ôi thớ thịt có đàn lên cung bậc" (Bàn chân). Không chỉ không gian tràn ngập nhạc mà cả thời gian cũng vận động theo nhịp điệu của nó: "Mây, tuyết, thời gian bay tợ nhạc" (Nấm mộ). Thậm chí đi sâu vào thế giới bí ẩn của cái sọ người, ông cũng bắt gặp cả một: "Máy thu thanh hoà âm nhạc thơm tho" (Sọ người).

Trên một phương diện khác, Bích Khê thường không dừng lại chiêm ngưỡng cái thế giới hữu hình trước mắt mà qua đó và từ đó, ông hình dung ra khám phá ra một thế giới huyền ảo khác. Ông tin rằng, đôi mắt con người có thể nhìn thấu suốt trần gian và địa ngục, có thể biết hết "Nhiệm màu muôn thế giới" cũng như những điều thầm kín trong đau khổ và khoái lạc của con người. Quả măng cụt là cả một "Khối tình, khối mộng". Sọ người là "Hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng", là "Máy thu thanh hoà âm nhạc thơm tho" và dẫn hồn người phiêu diêu đến một bến tàu đầy hương sắc. Đằng sau hình ảnh một "đoá đồ mi" là cả thế giới của cái đẹp: những con người đẹp, một xã hội đẹp và bao trùm lên tất cả là cái đẹp tiềm ẩn trong vũ trụ. Đặc biệt, cơn mưa trong bài Tiếng đàn mưa có đến ba lớp hình ảnh: lớp ngoài cùng là cơn mưa của thiên nhiên, một cơn mưa rả rích và dường như bất tận. Tiếp đến là hình ảnh "Mưa hoa xuân rụng" tượng trưng cho sự tàn lụi những năm tháng tuổi trẻ, sự tiêu ma của tài năng và sự tan vỡ của khát vọng sự nghiệp. Lớp tận cùng là trận mưa nước mắt trong lòng người: "Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi".

Chính cách cảm thụ thế giới bằng sự rộng mở tất cả các giác quan, bằng trực giác, tưởng tượng lẫn trí tuệ này đã đưa đến cho thơ Bích Khê những so sánh, ẩn dụ bất ngờ, táo bạo rất thú vị theo kiểu:

"Nàng ơi! tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tơ êm"


Hoặc ta bắt gặp những cách diễn đạt mới mẻ như: "Thuỷ tinh ai để lòng gương hồ"; "Ai giam lỏng một vì sao giữa mắt"... Chính cách cảm thụ đặc biệt đó mà thế giới thể hiện lên trong thơ Bích Khê như một kí hiệu tượng trưng.

Một thành công của Bích Khê là sự sáng tạo những vần thơ độc đáo và giàu nhạc tính. Ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ tượng trưng Pháp, coi "âm nhạc là trước hết mọi điều", Bích Khê đã có những cách tân khá táo bạo về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp để tạo cho thơ mình tính nhạc hết sức phong phú và độc đáo. Đây là một đóng góp đặc sắc của thơ Bích Khê mà nhiều người đã nói tới, đã tán dương: "Cái đáng cho chúng ta yêu Bích Khê, bắt ta phải tìm đến anh, phải lôi anh ra khỏi lãng quên, đó là chất nhạc của thơ anh" (Chế Lan Viên).

Bích Khê có cả một gia tài thể loại, một gia tài nhạc thơ khó tìm thấy ở bất kỳ một nhà thơ Việt Nam nào cho đến thời điểm này: Nhạc thơ bát cú, tứ tuyệt (thất ngôn và ngũ ngôn), hát nói, lục bát, song thất lục bát, thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ hợp thể, thơ tự do v.v... Ta gặp ở đây cái âm điệu thân quen mà mềm mại thiết tha của thể thơ lục bát (Mĩ tửu ca, Huế...), cái trào lắng dặt dìu của khúc ngâm song thất lục bát (Tiếng đàn mưa, Giọt lệ trích tiên...), cái rộng mở du dương, tài tử của thể hát nói (Nghe chuông, Bán sầu, Bán thơ), cái hoành tráng, uy nghi hay dõng dạc của thể thơ tám chữ (Mộng cầm ca, Ăn mày, Tranh loã thể, Sắc đẹp), cái ngập ngừng, đột ngột, hay phóng túng tuôn trào của thơ tự do và thơ hợp thể (Châu), cái trang trọng, bâng khuâng, hài hoà quen thuộc của thơ bảy chữ (Sầu lãng tử...), cái hoài cảm man mác, khoái hoạt và biến ảo của thơ năm chữ (Ngũ Hành Sơn, tiền - hậu), cái trang trọng cổ kính hài hoà của thơ bát cú (Ngũ Hành Sơn, Dặm mòn, Tinh chất ngàn xưa), cái hàm súc thâm trầm của tứ tuyệt ngũ ngôn (Trăng sáng bến đò xưa, Đề ảnh) hay thất ngôn (Quán khách xuân về, Thơ đề trên bia mộ)...

Sự phong phú và độc đáo của tính nhạc trong thơ Bích Khê còn được thể hiện ở cách ngắt câu, ngắt dòng táo bạo, hiện đại, ở cách hoà phối âm thanh hết sức độc đáo, cách đảo, điệp linh hoạt mà thú vị... Là thơ của một nhà Thơ mới, thơ Bích Khê, ở những bài làm theo các thể mới, dĩ nhiên nhạc điệu phải mới, hiện đại. Nhưng ngay cả ở thể Đường luật, nhạc thơ Bích Khê cũng mới, hiện đại, bởi nó không câu nệ niêm, luật, đối... Phần nhiều các bài bát cú không trọng đối (Dặm mòn, Tinh chất ngàn xưa, Mộng trong hương, Gửi Liên Tâm...), không trọng niêm (Trên núi ấn nhìn sông Trà, Đăng lâm, Chùa Ông Thu Xà, Lời tuyệt mệnh, Nhặt hoa, Dưới trăng ngồi gảy đàn, Tóc xoã đàn tơ, Quán khách xuân về) nên chất nhạc vẫn phóng túng, linh hoạt. Hơi thơ cổ đã được làm hiện đại một cách có dụng ý.
Nhạc tính thơ Bích Khê là sự kết hợp hoàn hảo ngôn ngữ thơ Đông- Tây tạo nên. Bích Khê đã dùng quan niệm thơ tượng trưng Pháp và nhạc tính thơ truyền thống để chuyển tải những giai điệu vừa ngọt ngào, vừa réo rắt, du dương với những cung bậc trầm bổng khác nhau. Đọc thơ Bích Khê, nhiều lúc người đọc bị quyến rũ bởi âm nhạc trước khi kịp chú ý đến nội dung ý tứ. Đó cũng là một trong những đặc sắc của phong cách thơ Bích Khê để người đời gọi ông là "nhà thơ của âm nhạc".

Sự nỗ lực cách tân hình thức thơ cũng là một nét nổi bật trong thơ Bích Khê. Bích Khê có một khát vọng cách tân mạnh mẽ và triệt để dành cho thơ. Hiển nhiên là, bất cứ thi sĩ đương thời nào cũng có một phương cách riêng để làm mới thơ, kể cả thơ cổ điển của Quách Tấn. Nhưng ở Bích Khê, ý thức đổi mới này đã được thể hiện thành hành động sáng tạo quyết liệt, triển khai trong mọi tầng, mọi hướng của thi pháp. Từng bài trong hai tập thơ Tinh huyết và Tinh hoa đều mang dấu bứt phá của nhà thơ: Bích Khê duy tân trong dùng chữ, duy tân trong tạo câu, rồi còn duy tân đoạn, mảng, bài, duy tân trong nhạc điệu, duy tân trong tạo hình, biến hình ảnh tĩnh thành động... Tất cả nhằm đem lại cho thơ một "phong vận" hoàn toàn mới lạ, như là một sự tái sinh của tiếng Việt trong ngôn ngữ thơ. Với ý thức cách tân, Bích Khê không thôi tìm tòi và sáng tạo với mong muốn:

"Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp hạt châu trong
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng"

Nguyên lý chi phối đường hướng cách tân trong thơ Bích Khê là đi tìm "cái thống nhất của hỗn độn". Ông đã điều binh khiển tướng những con chữ, đưa ngôn ngữ thơ xáp gần đến những bộ môn nghệ thuật khác. Ngoài kiến trúc là điêu khắc: Chữ điêu khắc tỉa nghệ thuật sầu câm/ Đầy thẩm mĩ như một pho thần tượng, là vũ đạo: Múa song song khiêu vũ dưới đêm hồng, âm nhạc: Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái, nhiếp ảnh: Đường nhiếp ảnh khua sắc màu rực rỡ, mĩ thuật: Hỡi hội hoạ đến muôn đời nức nở...
Bên cạnh đó còn là sự thống nhất giữa cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy:

"Im lặng nhìn bông ý lặng lờ lên
Những dáng hình thanh khí giữa mênh mông..."


Tuy nhiên, dù cổ vũ cho duy tân, cho một thứ thơ theo "điệu mới", trong cơ cấu nghệ thuật của mình, Bích khê vẫn đi theo định hướng:

"Và mới mẻ, trên viện cổ phương Đông
Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật"

Chính nhờ những tiềm lực của Đông phương, nhà thơ đã thức nhận được những bí mật đó ở chính trong ngôn ngữ dân tộc, trong thi ca truyền thống.

Có thể thấy rằng, những nỗ lực cách tân hình thức thơ của Bích Khê đã góp phần đẩy lịch sử thơ ca tiến lên, góp phần khai phá một thế giới mới, mở đường cho thơ Việt Nam phát triển sang một giai đoạn mới. Mượn lời khen của Chế Lan Viên: Bích Khê "vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước", tôi xin khép lại bài viết về những đóng góp của Bích Khê - "đỉnh núi lạ" trong phong trào Thơ mới. Những đóng góp của ông vẫn còn trong chặng khởi hành nhưng đã góp phần làm giàu có và cao sang thêm cho tiếng nói của dân tộc.

Những đóng góp của Bích Khê như đã phân tích trên có ý nghĩa "mở đường" để tôi đi vào tìm hiểu những cách tân khá táo bạo của nhà thơ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp... nhằm tạo cho thơ mình thứ nhạc điệu "như những câu thần chú" dẫn thơ vào cõi quên, cõi mê. Sự cách tân "táo bạo" ấy được biểu hiện cụ thể như thế nào trong thơ Bích Khê, tôi sẽ chia sẻ với các bạn trong những bài tiếp theo./.

Nguồn: bienlang

 

Các bài khác:
· BÍCH KHÊ VỚI NHÓM THƠ BÌNH ĐỊNH
· MỜI DỰ ĐÊM THƠ TƯỞNG NIỆM 95 NĂM SINH VÀ 65 NĂM MẤT NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
· MỘT BÀI THƠ PHÁT KHỞI TỪ 'TỲ BÀ' CỦA BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - RỒI NHỮNG MÙA THU VÔ HẠN THƯƠNG...
· HÀN MẶC TỬ, QUÁCH TẤN VÀ BÍCH KHÊ TRONG KHÔNG GIAN VĂN HOÁ ĐƯỜNG THI
· CÁCH HÒA PHỐI THANH ĐIỆU TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VÀ CÁCH TÂN CÂU THƠ
· XEM TRANH BÁN LOÃ THỂ
· NHÀ THƠ BÍCH KHÊ VỚI CẢNH TỊNH ĐỘ
· CẢM NHẬN TÌNH YÊU QUA HAI ĐOẠN THƠ NHỎ CỦA BÍCH KHÊ VÀ XUÂN DIỆU
· BÍCH KHÊ - CON SUỐI XANH LẶNG LẼ
· NHẠC TÍNH – NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG PHONG CÁCH THƠ BÍCH KHÊ.
· BÍCH KHÊ – MỘT ĐỈNH NÚI LẠ
· Ô! MẮT BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - THI SĨ CỦA 'NHỮNG CÂU THƠ HAY VÀO BỰC NHẤT VIỆT NAM'
· VỀ NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - NHỮNG VẦN THƠ QUÊ HƯƠNG
· THƠ THẨN VỚI MỘT BÀI THƠ CỦA BÍCH KHÊ
· ĐỌC LẠI BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - MỘT CẢM NHẬN

 

  
Gia đình Bích Khê