Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_57chofr4kcog036hv56jj6gdf2, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 
NGƯỜI EM BÍCH KHÊ

   Ngọc Sương

LGT. Cuối năm 2016, nhân Kỷ niêm 100 năm ngày sinh nhà thơ Bích Khê (1916-2016), Hội Nhà văn Việt Nam và Hội VHNT Quảng Ngãi đã cho ra mắt Tổng tập "Bích Khê một trăm năm). Bichkhe.org xin lần lượt giới thiệu các bài viết trong Tổng tập ngày cùng bạn đọc xa gần (TS. Mai Bá Ấn).  

                                                  

Thời gian

Có một ngàn

Lẻ một mùa thu, bao lá thu

Và một Người Em

Và ngày tháng

(Ý một bài thơ Ba Tư)

 

Người viết bài này là Lê Ngọc Sương, chị của Bích Khê, mà chồng là anh Lạc Nhân, Nguyễn Quí Hương, người mà em tôi, trước khi nhắm mắt, trân trọng giao lại tất cả những bài thơ do em tôi làm trong suốt cả một đoạn đời dài làm thơ. Bạn em tôi rất nhiều mà bị cách xa thành chẳng còn có bao nhiêu: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tam Ích, Hoàng Trọng Miên..., kể cả anh Lạc Nhân và tôi: ngàn năm và nhiều thuở tôi chưa hiểu giữa người Em và người Bạn là Bích Khê, đói với tôi, biên giới ở đâu...

Trong lúc tôi viết mấy dòng này về em tôi - nói cho đúng là tôi viết lại sự trưởng thành của tình thân hữu, tình thi hữu, tình chị em giữa Bích Khê và chúng tôi, - tôi nghĩ đến tất cả những người có mặt trong đời Bích Khê hiện còn sống hoặc đã chết, kẻ khuất người còn, kẻ ở xa người ở gần... Tôi tưởng tượng rằng Bích Khê, em tôi, đương ở đâu đây: Gió hiu hiu thổi thì hay chàng về...

Tôi xin thêm: tôi viết: Người Em, mà không viết: Một người Em, là vì đối với riêng tôi, người ta chỉ có thể có một người em như vậy – một mà thôi. Lỡ ra có quá đáng, các bạn sẵn lòng tộng lượng cho một người chị chỉ có một người em đã... một đi từ lâu lắm... và có một tâm hồn thi nhân như Bích Khê. Và tôi mong được hưởng sự cởi mở của những ai sẽ đọc thơ Bích Khê, khoan dung đối với tôi viết về người chết rồi, về người tài hoa bạc mệnh – chữ của anh Tam Ích – một cách trang trọng...

 

I. THỜI NIÊN THIẾU

Bích Khê là người em thứ chín trong số chín anh chị em có sẵn trong huyết quản một dòng máu anh dũng. Ông nội Bích Khê – ông nội chúng tôi – làm quan dưới triều Tự Đức đã tuẫn tử để khỏi phải cộng tác với một vị thần có quyền “tiền trảm hậu tấu” đã từng lãnh trách nhiệm đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhà chí sĩ Phan Đình Phùng. Cha chúng tôi đã từng tham dự vào phong trào Đông Du giữa lúc lòng yêu nước đương hướng tất cả sĩ phu chân chính vào những cuộc vận động dân tộc chống thực dân dành độc lập cho đất nước.

Vì là con út nên Bích Khê được cả gia đình thương, và chiều chuộng. Chàng là người rất có hiếu với cha mẹ, rất thảo thuận với anh chị và đặc biệt mến thương người chị sanh kế chàng vì hai chị em rất gần nhau về tuổi tác, tư tưởng, chí hướng, tính tình – người chị ấy là tôi. Chúng tôi là hai chị em: hơn thế, hai người bạn; hơn thế nữa: hai tâm hồn tri kỷ... Đã có lúc chúng tôi cùng một người nữa làm một cử chỉ như trong truyện kiếm hiệp: cắt huyết ăn thề, nguyện sống và tranh đấu sát cánh nhau trên khắp mọi nẻo đường đời, cho một chí hướng...

Vì hiểu em, tôi đã tìm hết tất cả những trường hợp gia đình và xã hội thuận tiện cho việc sáng tác của em tôi. Thi nhân cũng như tất cả những nghệ sĩ, khi sáng tác họ không chịu ràng buộc trong một khuôn khổ thời gian và không gian nào cả. Có khi suốt một mùa trong năm, học chỉ ăn... chơi; có khi thi hứng đến với họ suốt cả năm mười đêm trắng; có khi lầu son gác tía không gợi gì trong lòng họ, và có khi họ ngồi trên mỏm đá bên một túp lều để cho nguồn cảm hứng tuôn ra dưới ngòi bút thao thao bất tuyệt...

Tôi là người phải đón tình đón ý em, tạo cho em những giây phút, những vị trí thuận cho hứng làm thơ của một người em khó tính và cũng là cái khung cửa sổ để chàng nhìn nhân sinh đương ai oán, cái chuông đồng hồ báo cho chàng biết là chiều thu đã buông rồi...

Thuở bé, Bích Khê có tính chơi hì hục đi khuân từng tảng đá ong vào sân, xếp lên xếp xuống cho thành nhà cửa, thành lâu đài. Đã có lúc tôi ngẫm nghĩ: cái anh chàng là lạ này có lẽ sẽ thành một kiến trúc sư? Và tôi không ngờ lâu đài chàng thường sắp thường xếp lại là một tòa thơ: một lâu đài khiêm tốn về văn nghệ. Cũng như tất cả những nghệ sĩ ngày sau có tài, lúc còn nhỏ, Bích Khê là một chàng thư sinh thông minh nhưng mà lười: Đã có lần vì lười mà bị mẹ bó tròn vào cột như bó một bó chả đánh một trận nên thân, tưởng chừng như hồn thơ cũng theo ngọn roi lên xuống và một đi cho rồi! Ai ngờ từ đó con người lười trở nên một người siêng năng hết mực: chàng đi từ một thái cực đến một thái cực. Chàng ham học đễn đỗi ai cũng lo cho sức khỏe của chàng. Một hôm Bích Khê bị đau ở đầu gối nhức nhối và phải vào bệnh viện. Trong bệnh viện, thầy thuốc phải treo ngược chân chàng lên cho đỡ nhức; ấy vậy mà chàng vừa rên vừa học: quyển sách lúc nào cũng có trên tay. Các thầy giáo tặng cho Bích Khê biệt hiệu là “Tịnh tu học”. Đậu đầu kỳ thi Tiểu học rồi, chàng say mê học hành như một nhà tu say mê kinh kệ; cho đến ngày chàng học hết ban Cao đẳng Tiểu học rồi ra Hà Nội học ban Tú tài (vào năm 1932-1933).

Mười hai tuổi, chàng đã làm thơ Đường luật và đã làm thân sinh chúng tôi hãnh diện trước các bậc thân hữu: ai cũng nói một thiên tài đã bắt đầu phát sinh. Và thiên tài ấy trưởng thành cùng một lúc với lòng nhân đạo, với tính e lệ: bao nhiêu tiền cha mẹ và anh chị cho, người nghèo hưởng gần hết. Những người đói rách, thiếu thốn vào đến cổng nhà là hỏi thăm “Cậu Chín”. Hễ có cậu Chín, họ có áo quần cũ, nên có khi được bà cụ cho nữa.

Một con người như vậy lại còn là một con người hay e lệ, chàng ít ưa tiếp khách dù là bạn đồng trang lứa. Mỗi lần có khách đến là chàng tránh ra vườn hoặc vào phòng khép cửa đọc sách. Chàng chỉ tiếp bạn thân và bạn làm thơ.

Người hiền lành thì thường nóng tính. Và người giản dị và lặng lẽ thường nhiều lòng tự ái. Ai đánh cờ với chàng mà thắng thì phải đánh cho đến lúc mặt trời lặn, nghĩa là cho đến lúc chàng gỡ được và lỡ ra kẻ cùng chơi cờ mà có ý kiến căng thả nước cờ, thì bàn cờ xuống đất và quân cờ lúc đếm lại bao giờ cũng thiếu mấy quân vì... đã trót văng xa quá...

 

II. TÌNH ĐỜI

Cái lòng nhân ái của thi nhân thật cũng chỉ thi nhân mới có. Một hôm từ Hà Nội chàng viết thư về xin với cha mẹ thôi học. Chàng xin thôi học là muốn lấy số tiền cha mẹ cho đi học đem san sẻ với một người bạn nghèo để giúp người này khỏi thất học... Lẽ tự nhiên, gia đình chúng tôi nghĩ đến sự học của Bích Khê, không thể chấp thuận.

Nhưng Bích Khê đã muốn thì không thể cưỡng được và tôi, người mà gia đình cho là có tài thuyết phục nhất đối với em, cũng bất lực trước quyết định của chàng. Không những chàng không bỏ ý định giúp bạn, lại còn cho rằng sự phản đối của tôi là một cử chỉ ích kỷ, là tâm lý hèn mọn. Trong khi giận, chàng thi nhân của tôi còn giơ tay giơ chân nhất định đòi để cho chàng thôi học, giúp bạn.

Phản ứng của tôi là nói với em rằng em thiếu... lễ độ với chị và thiếu sáng suốt đối với tình cảm chung trong gia đình. Ai ngờ phản ứng của tôi đã gây một phản ứng vừa nghiêm trọng vừa ngộ nghĩnh đượm một hương vị hài hước tế nhị trong tâm hồn em tôi: Bích Khê chạy ra cửa lao đầu vào cửa đánh rầm rầm, khóc to, làm cả nhà chạy lên. Té ra chàng đã trút cả cái bực tức và hối hận vào cánh cửa...

Ngay tối hôm ấy, chàng đến bên chị, âu yếm nói: “Em có lỗi với chị... Chị tha thứ cho em...!” Rồi chàng thêm: “Giá chị đánh em một bạt tai, có phải gọn và đỡ đau xót cho em không!”.

Một tháng sau, người chị thứ sáu đưa Bích Khê cùng người bạn nói trên vào Phan Thiết, ở nhà người anh cả chúng tôi học. Người ta thường nói chỉ có tình bạn đẹp trong tiểu thuyết mà thôi. Có lẽ lầm: tình bạn trong văn chương còn kém tình bạn ngoài đời. Đôi bạn của Bích Khê như đôi chim, thắm thiết với nhau đến mức độ chàng vận động cho một trường tư thục ra đời để giúp cho sự tiến thân của bạn được dễ dàng. Nhà trường sống gần hai năm bỗng nhiên tôi bị chánh quyền thực dân bắt giải về sinh quán là Quảng Ngãi. Chàng thương chị nên buồn nản; còn cảnh trường cũng mất thứ tự. Và kết quả trường chuyển hoàn toàn về người bạn và cũng từ ấy Bích Khê sinh chán không còn dính dáng đến trường, đến tiền bạc nữa, người bạn cũng xa dần trong tiềm thức...

Bích Khê rời Phan Thiết. Chàng đi Mũi Né rồi lên ở núi Tà Cú, mang theo không phải một ân hận mà là một... tình yêu!

 

III.  MỐI TÌNH ĐẦU

Chàng yêu Song Châu một cô học trò nhỏ có đôi mắt say sưa, làn da trắng mịn và dáng điệu mảnh khảnh yêu kiều.

Ai ngờ cái con người làm thơ ngang tàng trong văn chương như vậy mà lại e lệ trước người mình đương yêu; đồng thời lại còn có mặc cảm phong kiến rằng yêu... học trò là trái đạo lý. Nhưng rồi tình yêu đã nói tiếng nói của tình yêu; và tình yêu của chàng đã gặp một tình yêu say sưa nhưng cũng e lệ của người con gái. Song Châu càng e lệ, thi nhan càng say mê. Bài “Song Châu” trong tập Tinh Huyết là bức chân dung của một mối tình đầu.

Bích KHê, sau khi sống mấy tháng ở núi Tà Cú, về sống với mẹ ở Thu Xà. Chàng nói với mẹ: “Con sẽ ở gần mẹ”...

Rồi trong gia đình cũng chẳng ai muốn đi sâu vào tâm sự buồn đau của chàng, về bạn bè, trường trại.

“Bình đã nứt rồi, xin đừng động đến!...”

Câu nói ấy của một thi nhân thật rất đúng với trường hợp Bích Khê khi về với mẹ và người chị thân yêu. Sự ấm áp trong gia đình đã đem lại nụ cười cho người thi nhân bị thương nặng.

Rồi ngày ngày Bích Khê vào phòng, làm thơ. Chàng làm thơ nhưng chàng không thích ngâm lấy thơ mình vì chàng không có một giọng trong trẻo, nên mỗi một bài thơ làm xong là chị chàng phải ngâm để chàng thưởng thức. Và những bạn đến chơi cũng phải ngâm thơ chàng, làm cái nhiệm vụ đã không chán lại còn có hứng thú là khác!

Được ít lâu, chàng đau: ngực hơi mệt. Thế là phổi chàng yếu! Tôi phải đưa em tôi ra Huế điều trị ở bệnh viện, và săn sóc chàng ngót một năm. Người nữ y tá là tôi phải làm nhiều việc: săn sóc em, gợi mọi thứ chuyện nói với em, ngâm thơ em, họa thơ em... vẽ cho em tất cả những viễn cảnh có màu sắc của đời sống, kể cả những mầu sắc giả, cần cho một người đương đau ốm và đau thương.

Một năm sau bệnh lành, chàng về Thu Xà với mẹ thêm một lần, rồi lại đòi lên núi ở. Cái đời của thi nhân cũng như cái đời của trẻ thơ: muốn phải được, muốn là được. Mẹ và chị phải làm cho Bích Khê một cái chòi trên núi Thiên Ấn, và gửi đến ở với chàng một “chú tiểu” để phục vụ con người ngày càng càng khó tính như một cậu con cưng con nhà trưởng giả.

Lúc này Bích Khê vui lắm; chàng nói với người bạn đến thăm: “Thật là tuyệt diệu!” rồi chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe... Chàng hăng say đưa cả cánh tay ra vẽ một vòng bao trùm cả những thắng cảnh đương bày ra trước mắt chúng tôi, đã từng làm tâm hồn thi nhân rung cảm. Mà phong cảnh đẹp thật! Dưới chân chúng tôi, từ chỗ “Long Đầu hí thủy”, giải sông Trà bọc lấy chưn hòn Thiên Ấn khăng khít như tình non nước ấp ủ lấy nhau, tức là thắng cảnh “Thiên Ấn niêm hà”. Và xa xa ở phía bên kia hiện ra thắng cảnh “Bút lĩnh phê vân”. Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa:

- Đó là ngọn bút của em đó.

Rồi chàng lại bảo chị:

- Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng...

Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển. Chốn cực lạc thứ hai này hiện ra, bao nhiêu vần thơ khác của thi sĩ lại tuôn ra...

Nhưng rồi cũng chỉ một thời gian mà thôi. Năm tháng sau vì gió biển không hợp với bộ phổi đã yếu của chàng - nhưng nếu không phải tại gió biển thì lại có những lý do khác - Bích Khê lại đòi về nhà để rồi lại xin lên ở tại một ngôi chùa ở Phú Thọ để vừa làm thơ vừa nghiên cứu triết lý đạo Phật. Tại đây, câu kinh tiếng mõ đã làm tâm hồn chàng lắng xuống và sự tín ngưỡng lần lần đi vào tâm hồn tinh vì của chàng như gió chiều bốn hướng mênh mang đi vào cảnh lá cây nơi núi non trùng điệp...

Một hôm, tôi lên chùa Bích Khê và nói với em:

- Ờ nhỉ, đây là cực lạc em nhỉ?

Biết là chị nói mỉa mình, Bích Khê trả lời:

- Đối với em, mỗi chốn đều là chốn cực lạc, tùy từng lúc từng giây phút. Chị nhớ cho rằng mội khi em nói em đều chân thành.

Rồi Bích Khê từ giã cửa thiền về với mẹ và chị. Vẫn chiều theo sở nguyện của con, bà cụ thuê cho chàng một chiếc thuyền để chàng bềnh bồng trên mặt nước, nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Lũy, Sa Kỳ. Trên chiếc “thuyền con bé tẻo teo” mà chàng sống có “hơn gợn tí”, với “gió đưa vèo”, thiên nhiên từ đây lại gây thi hứng cho chàng, một thứ thi hứng triền miên, liên tục...

 

IV. TÌNH YÊU DANG DỞ

Thuyền trôi, thuyền về... thuyền lênh đênh trên sông Trà Khúc, và thuyền ghé bến yêu thương. Một hôm nọ thả thuyền trôi về ngả Sa Kỳ. Bích Khê gặp lại Bích Thủy, một thiếu nữ quen biết khi Bích Khê ở nhà người anh cả ở Mũi Né. Những lúc Bích Thủy cùng mấy người bạn xuống thuyền thăm Bích Khê, là những lúc không khí trên thuyền trở nên sống động. Trong thuyền giọng ngâm thơ càng giòn và Bích Khê cũng lộ vẻ tươi vui. Có lúc Bích Khê ra đứng với chị trước mui thuyền và nói:

- Thuyền Hàn Mặc Tử chở đầy trăng, thuyền em chở trăng và chở cả giai nhân nữa.

Từ ấy, hai người thường gặp nhau và mối tình càng trở nên khăng khít. Đối với Bích Khê, mối tình ấy là một mối tình mới, nhưng với người con gái, lại là mối tình đầu. Nhưng dù là tình mới hay tình đầu, tình đều say mê đắm đuối. Và cũng vì thế Bích Thủy chớm đặt vấn đề trăm năm cùng chàng thi sĩ.

Bích Khê dè dặt: tình đối với thi nhân bao giờ cũng lẫn mộng, cho nên sự ỡm ờ của người làm thơ trước nhan sắc và trước sự chân thành của ngowif đàn bà đương yêu cũng chỉ là kết quả của những ngày đêm dài đầy mộng và đầy thơ. Kết quả của một sự gặp gỡ nên thơ này là cái buồn đượm nỗi đau thương dài dằng dặc của người con gái. Sự đau thương biến thể: Bích Thủy lâm bệnh, đâm ra loạn trí, nàng nằm trên giường bệnh, kêu tên Bích Khê, mộng thấy Bích Khê, tay viết tên Bích Khê... Đoạn đời đau ốm người đàn bà đầy hình dáng thi nhân đã làm cảm động thân mẫu chúng tôi, và bà có ý thúc đẩy Bích Khê kết duyên với nàng. Bích Khê từ chối và nói: “Gần nhau mãi có đẹp gì!”.

Bích Khê ngưng sự yêu thương trong sự đau thương của cả hai người và bỏ “chiếc thuyền con bé tẻo teo” để về sống với mẹ một lần nữa.

Ở nhà với mẹ và chị được ít lâu, Bích Khê lại muốn ra đi. Nhưng bây giờ Bích Khê hết thích núi, hết thích bể, hết thích chùa mà còn chán cả ngao du trên thuyền. Chàng cũng như con chim chán cảnh lồng son muốn bay đến một chân trời xa lạ để tìm nguồn sống mới. Chàng tỏ ý muốn vào Nam. Tôi bàn với em là muốn đi xa đâu cũng được, nhưng dù là thi nhân, con người phải đặt nguyên tắc sống sát với thực tế: đời sống vật chất có thoải mái, đời sống tinh tần và tri thức mới có nơi nương dựa. Hai chị em bàn nhau mở một trường tư tại Phan Thiết. Thực hành kế hoạch đó đã có anh Lạc Nhân, một người bạn (về sau trở thành anh rể chàng) lúc đó đương làm Tổng Thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và là Nghị sĩ của Viện Dâu biểu Trung kỳ.

Trường mở cửa vào năm 1938. Và người ta được chứng kiến một cảnh sum họp ấm áp của một số người mà tình bạn đã tập họp dưới một mái nhà. Trong một công cuộc chung, mỗi người chia nhau lo mỗi việc. Người giữ “mối giềng” của cái gia đình thân mật ấy là tôi, và người điều khiển công cuộc tập thể ấy là anh Lạc Nhân. Cũng xin thêm rằng, trong các bạn cùng chung sống, có anh Trúc Lâm – bây giờ là nhà văn Tam Ích, một người trong số bạn Bích Khê đã được chứng kiến Bích Khê làm thơ...

Trường được tín nhiệm, học trò đông. Và để đáp lại yêu cầu của một số học sinh lớn tuổi, trường mở thêm một lớp dạy tối do Lạc Nhân và Bích Khê đặc biệt phụ trách. Chính lớp dạy tối này đã để lại cho Bích Khê một kỷ niệm êm đẹp mà cũng là một vết đau thương mà chàng giữ mãi cho đến ngày tắt thở.

Trong số những người học lớp tối có nàng Ngọc Kiều có gương mặt hiền lành và đôi mắt buồn mơ như báo trước những điều tan vỡ... Ngọc Kiều và Bích Khê mến phục nhau và từ chỗ mến phục, đôi trai tài gái sắc đã đi đến yêu nhau tha thiết.

Rồi một đêm rằm, trăng sáng như ban ngày, Bích Khê dắt chị ra chơi bãi biển ở sau trường. Sau khi ngồi lên bãi cát trắng, Bích Khê lấy giấy viết, hí hoáy bốn câu thơ:

“Chị ơi trời sáng màu xanh,

Tình trăng sống dậy trên cành hoa tươi.

Nói ra xin chị chớ cười,

Tình nay đẹp lắm hơn mười tình xưa...”

Rồi trao cho chị.

“Xin chị chớ cười” nhưng người chị đã cười, cười thiệt vì sung sướng thấy em vui, vui vì em yêu. Lần này, người làm thơ tính chuyện trăm năm thiệt: chàng nhờ chị viết thư về thưa với mẹ để sắp đặt việc cầu hôn. Và cả nhà ai nấy đều mừng vì quyết định ấy của con người khó tính.

Nhưng gia đình Ngọc Kiều lại từ chối, vì xem là “ván đã đóng thuyền...” vì đã “hứa gả nàng cho một nơi khác” rồi. Nơi ấy là con một nhà phú thương.

Kết quả của sự ngang trái là Ngọc Kiều đau loạn trí (lại một người loạn trí nữa!). Nàng khóc, rồi cười, rồi nàng đòi quyên sinh... Và gia đình Ngọc Kiều muốn bảo vệ một tính mạng, đành bằng lòng và mời chúng tôi đến để ưng thuận.

Nhưng việc đời thật không ai có thể ngờ vì chính Bích Khê bây giờ trở lại từ chối! Trong gia đình, từ thuở lên ba, Bích Khê muốn gì được nấy. Bây giờ cũng vẫn vậy: Bích Khê muốn từ chối thì ai cũng phải từ chối, kể cả bà mẹ đã hết nước mắt, kể cả người chị đã hết lời năn nỉ khuyên lơn. Trong việc từ chối này, điểm chính là lòng tự ái của thi nhân thà chịu đau khổ vì mối tình dang dở chớ không để cho danh dự thằng con trai bị xem thường.

Từ dạo ấy, thơ đau thương của Bích Khê tuôn ra lai láng để than khóc cho thân phận mình, thân phận Ngọc Kiều và cả cho những éo le trong nhân tình thế thái. Nhưng rất tiếc là phần lớn các vần thơ đã bị khói lửa chiến tranh thiêu hủy (nhà người anh cả chúng tôi bị dội bom, cháy rụi). Tôi còn nhớ mấy câu gởi khuyên Ngọc Kiều khi Ngọc Kiều quyết tâm ra đi xây tổ uyên ương nơi một chân trời xa lạ.

“Hạnh phúc ngoài trời nhiều vẻ đẹp

Em đừng bận bịu ái ân xưa

Lòng anh chẳng muốn cho em phải

Lẻ tẻ chân trời bóng nhạn thưa”.

 

V.  TÌNH BẠN

Trường Quảng Thuận của chúng tôi, nơi nương náu những tâm hồn dự bị va chạm với nhân sinh, đã bị hai lần đóng cửa vì những âm mưu đen tối của bọn quan lại và thực dân muốn phá hoại. Nhưng hai lần anh Lạc Nhân đều tranh đấu mở cửa lại.

Đến lần thứ ba, vì mang sẵn một mối u phiền và không muốn sống thêm ở một nơi khêu gợi cho chàng những niềm đau khổ, nên Bích Khê không cho anh Lạc Nhân đấu tranh mở cửa lại và muốn để trường chết luôn.

Rồi Bích Khê ra đi. Chàng ghé Qui Nhơn thăm Hàn Mặc Tử mấy ngày và an ủi Tử trong những ngày đau khổ. Một người đau khổ yên ủi một người đau khổ: tình thương giữa hai người đau khổ thật đã làm vơi sự xót xa của mỗi người. Bích Khê tặng Tử một tấm hình trong đó chị chàng và chàng chụp chung. Ý của Bích Khê muốn hình ảnh chị mình gây cho Tử một vài mảnh mộng. Mộng đối với Tử lúc bấy giờ là những liều thuốc làm dịu sự ai oán của tâm hồn.

Quả nhiên Tử làm thơ gửi cho Bích Khê:

“Ta đề chữ Ngọc trên tàu chuối

Sương ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi

Tình ta khuây mãi không thành khối

Nư giận đòi phen cắn phải môi.”

Bích Khê xem xong, giấu, không cho tôi biết: chàng vui sướng riêng tư trong tâm tư vì chàng đã thành công trong một kế “bá đạo” thuộc tình cảm. Người đau cần thuốc: thuốc gì hàn gắn được vết thương là thuốc hay.

Rồi Bích Khê về Thu Xà ít lâu để rồi vào Nam sáng tác thơ và viết sách. Chuyến đi vào Nam nầy có thêm một người bạn: Nguyễn Hữu Thoại. Ba người sống với nhau và sống bằng tình bạn và nước lạnh nhiều hơn là sống bằng cơm áo: sự nghèo cực đã mỗi ngày qua ngày trong sự vui vẻ của hy sinh và trong sự ấm áp của tình bạn và tình đồng chí.

Tôi đã thu xếp một công cuộc thương mại để nuôi ba miệng ăn. Nói là “công cuộc” cho to chuyện: Sự thực là ba người không nghèo và đói là đủ rồi. Suốt một năm dài, mỗi người đều có sáng tác, dịch thuật các loại sách về văn chương và về xã hội. Thi nhân của chúng tôi cũng dịch cả quyển “Retour de L’ U.R.S.S.” của André Gide.

Chúng tôi có một người bạn mới : Phương Thảo. Người bạn mới này phải nằm đất để ngủ vì thiếu giường, Bích Khê nói với bạn:

“Ở đây chịu khó nằm đây

Đất tôi mát lắm bạn xây mộng vàng”.

Để thấy rõ chỗ tương quan mật thiết của những nỗi  vui buồn của Bích Khê và tôi, tôi xin kể một chuyện đã xảy ra cho tôi cũng như cho Bích Khê ở ngày đám cưới tôi.

Trước khi về dự lễ cưới của tôi, Bích Khê có bảo hỉ tin cho Hàn Mặc Tử gởi mừng chúng tôi một đôi câu đối viết trên lá thiếp trắng như màu tuyết.

Rồi đến khi về chung vui cùng chị, Bích Khê lại gặp một chuyện không vui, gợi cho Bích Khê một niềm ân hận về một việc làm của Bích Khê hồi 5 năm trước.

Trong khi tòng học ở Hà Nội, Bích Khê có kết thân với một người bạn cùng quê, cháu một nhà cách mạng có danh tiếng. Kỳ nghỉ hè đến, Bích Khê đưa bạn về giới thiệu với gia đình và giới thiệu luôn với chị. Bích Khê cương quyết: “Chị không đồng ý người nầy thì quê nhà mình khó có người thứ hai vẹn toàn ấy”. Chẳng mấy lúc gia đình người bạn cũng đến thăm nhà và ngỏ ý cầu hôn. Bích Khê rất tán thành và nhận thấy đó là một cuộc hôn nhân rất “nên” về nhiều phương diện. Riêng người chị thì không chịu cho gia đình nhận lễ và xin khất một thời gian để dò xem tư cách tánh tình...

Về sau người chị vạch rõ cho Bích Khê thấy những chỗ dị đồng không thích hợp, và từ đó Bích Khê cũng không dám ép chị nữa. Người chị muốn giải quyết dứt khoát nhưng trước những giọt nước mắt của một bà mẹ mà quan niệm tất nhiên là khác với con, muốn trông thấy con mình sớm thành gia thất, câu chuyện vẫn giây dưa và kéo dài đến ngót năm năm trời người chị mới tự cởi mở được mối giây vô tình ràng buộc...

Bỗng đến ngày đám cưới của chị, người bạn cũ của Bích Khê lại hiện về mừng với... một bó nhang vàng bạc đặt lên bàn thờ thân phụ chúng tôi. Cử chỉ ấy phải chăng bao hàm một ác ý đem điềm xấu hay chứng tỏ một cái tang lòng? Dù sao, phần thì xót thương cho chị đến ngày vu quy mà niềm vui không được trọn vẹn, phần thì ân hận vì nhận xét hời hợt của mình mấy năm trước đã để cho cảm tình lấn át... Bích Khê cầm lấy tay tôi đôi mắt rưng lệ chàng xin tha lỗi. Niềm vui của Bích Khê trước giờ chị lên xe hoa vẫn pha lẫn ưu phiền. Mỗi lần hễ có việc vui là sự buồn liền đến với Bích Khê. Đời người thi nhân thật không có gì vẹn, mà cũng không bao giờ vẹn.

 

VI. NHỮNG NGUỒN YÊN ỦI

1942. Bích Khê đau phổi lại và phải ra lại Viện Pasquier ở Huế điều trị. Tôi lại phải theo ra nuôi em. Sau tám tháng bệnh thuyên giảm, chàng về Thu Xà điều dưỡng.

Vì chàng bệnh nên cả gia đình chiều chuộng nâng niu và săn sóc: một căn nhà ấm áp hóa thành một phòng bệnh viện và mỗi người trong nhà đều làm phận sự một điều dưỡng viên, đồng thời ngâm thơ, chép thơ cho Bích Khê. Giúp vào công việc này lại còn các cháu nhỏ Lệ Xuân, Hải Đường, Phi Hiền...

Từ xa, các bạn đều có tới thăm chàng: Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Ngọc Vy, Minh Trai, Minh Đức, Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Hữu Thoại, Mai Ảnh, Trương Quốc Oai và người anh ruột Thanh Khê Lê Quang Khâm ở xa cũng có về thăm. Hai anh khác Trùng Khê, Lê Quang Thuần và Tỉnh Nam Lê Quang Hường đều ở bên cạnh Bích Khê. Người chị là tôi tuy có gia đình riêng nhưng cũng về ở bên Bích Khê.

Muốn cho Bích Khê đổi không khí, tôi có đưa Bích Khê ra Quảng Nam ở Hoàng Hoa Trang, nơi quê chồng. Nơi đây rất yên tĩnh và không khí thôn quê rất hợp với Bích Khê.

Một buổi sáng, Chế Lan Viên và Anh Đình hiện đến Hoàng Hoa Trang: Bích Khê mừng quá. Nhưng khi Viên đi về Bích Khê khóc: “Bao giờ lại gặp nhau? Gặp nhau nữa không?” Ở Hoàng Hoa Trang được mấy tháng thì Bích Khê cùng chị trở về Thu Xà.

Một hôm Hoài Thanh từ Huế tìm đến chàng tại Thu Xà nơi chàng tịnh dưỡng để xin những bài thơ và tấm ảnh về đăng vào tập “Thi nhân Việt Nam”, sắp xuất bản. Được đưa thơ mình vào tập Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nghĩ dù ai cũng sẵn sàng chấp thuận. Nhưng trái lại Bích Khê chưa tin tưởng Hoài Thanh, Hoài Chân thêu gấm hoa cho nền văn học mà e rằng thơ chàng sẽ bị phơi giữa chợ đời, Bích Khê từ chối. Cuối cùng sau lời năn nỉ Bích Khê chỉ trao cho Hoài Thanh hia bài “Tỳ bà” và “Tranh lõa thể” nhất thiết không chịu trao ảnh. Vì vậy tập “Thi nhân Việt Nam” chỉ một Bích Khê là không có ảnh.

Độ nầy sức khỏe Bích Khê xuống nhiều lắm. Bích Khê thấy cuộc đời trống trải làm sao. Có ngày Bích Khê ngồi bên cửa sổ đăm đăm nhìn ra xa hàng buổi như đang tìm kiếm bạn thơ trên dặm mòn...

Lúc nầy là lúc Quách Tấn năng thư từ cho chàng, xướng họa với chàng và giới thiệu cho chàng người bạn thơ: chị Liên Tâm. Khi Bích Khê khám phá được Liên Tâm là người yêu của Quách Tấn chàng trêu bạn liền họa một bài thơ của chị Liên Tâm và nhờ Quách Tấn trao lại:

Canh sương tiếng hạc vẳng kia sông,

Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng

Thưa chị đêm nay dường nhớ quá!

Đưa thơ hồng nhạn biết mang không,

Một nhành mai trắng rung rinh Ngọc

Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông

Muốn thấy người xa trong giấc mộng

Khuya lơ còn tựa ở bên song.

Bích Khê đã tìm thấy trong tình bằng hữu và thú làm thơ một niềm khuây khỏa trong những lúc cơn bệnh dày vò. Trong quãng đời này, Bích Khê đã khóc cái chết của một người anh, Tỉnh Nam Lê Quang Hường của một người bạn, Hàn Mặc Tử và của vài người khác... Nghĩ đến sự sống và sự chết của những người có mặt trong đời Bích Khê, Bích Khê buồn lắm, và thường khóc một mình. Nhất là mỗi khi nghĩ đến riêng mình, Bích Khê thường không giấu được sự bi quan đến cực độ. Chàng thường nói với tôi:

- Đời e ngắn ngủi, sự nghiệp văn thơ ắt dở dang; em mong sao sống thêm ba năm nữa để hoàn thành tập thơ thứ ba... rồi sẽ chết.

Tôi cố nói tất cả những lời nói mà một người chị, một người bạn có thể nói được, để yên ủi chàng nhưng chàng biết rằng tôi nói đôi, vì chàng cho rằng bịnh chàng không thể lành.

Thân thể chàng càng ngày càng tiều tụy... và gia đình bắt đầu lo.

Trước kia đã một lần, khi còn ở bệnh viện, chàng nằm mộng thấy một bà Tiên hiện ra trên không và tung ra những nắm bông trắng, bông rơi xuống mặt đất kết thành chữ và Bích Khê đọc được bốn câu thơ ý nói chàng sẽ chết vào một mùa Xuân. Vì vậy, mỗi lần Xuân đến, chàng thấy lòng mình nao nao và lo âu.

Nhưng rồi một mùa Xuân qua, một mùa Xuân nữa đến rồi lại qua. Chàng vẫn sống rồi chàng không tin ở điểm mộng nữa.

Một đêm trăng sáng, Bích Khê bảo đưa ghế ra vườn để chàng nằm ngắm trăng. Ánh sáng dịu huyền của chị Hằng gợi lại cho chàng tâm sự năm trên và hình ảnh giai nhân trở lại trong tâm hồn thi sĩ.

Hôm sau, Bích Khê đưa cho chị bài thơ “Làng em” và nói:

- Em mong một hình bóng trở lại. Nhưng có lẽ chẳng bao giờ...

Nhưng rồi trăng sao mang đi niềm cảm nghĩ ấy “hình bóng” đã trở lại. Sau đó không bao lâu, chàng nhận được thư Ngọc Kiều từ miền Đồng Nai gởi ra hỏi thăm Bích Khê. Trong thư Ngọc Kiều tỏ ý muốn ra thăm Bích Khê nếu chàng trả lời chấp thuận, vì người thiếu phụ hiện sống với con qua bao nhiêu năm cách biệt vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm hình ảnh của ai...

Tiếp thư Ngọc Kiều, Bích Khê mừng mừng tủi tủi, cảm động nhưng ngại ngùng. Cả nhà, nhất là bà cụ, thì rất đỗi vui mừng và hối thúc viết thư trả lời mời ngọc Kiều ra vì biết rằng cuộc thăm viếng của Ngọc Kiều sẽ là một niềm an ủi lớn cho cuộc đời tuyệt vọng của Bích Khê.

Khi Ngọc Kiều bước vào phòng để gặp Bích Khê, bốn mắt nhìn nhau, hai người nghẹn ngào không nói ra lời. Nhất là khi nhìn thấy thân hình tiều tụy của người xưa, Ngọc Kiều không ngăm được giọt lệ... Bích Khê bảo cháu nhắc ghế đặt ra giường mình đang nằm mời Ngọc Kiều ngồi nói: “Chúng ta nhớ em là gái có chồng.”

Sau cơn xúc động, quả thật cuộc viếng thăm của Ngọc Kiều là cả một phương thuốc hồi dương sanh mạch. Căn bệnh của Bích Khê hầu như thuyên giảm thấy được. Sắc mặt chàng trở nên tươi vui khác thường, làm cho cả nhà cũng vui theo chàng.

Sau 5 ngày ở lại với gia đình Bích Khê, Ngọc Kiều lại cất bước đi về một chân trời khác, để lại cho khóm lan bên ngõ một hồn đau một xác gầy...

Ngày tiễn đưa bạn Ngọc ra về, Bích Khê cảm thấy lần nầy xa bạn là lần vĩnh biệt. Ngọc Kiều đi rồi, Bích Khê đóng cửa, nằm trong phòng suốt buổi. Gia đình không ai hỏi han vì kính trọng giây phút thiêng liêng của chàng.

Bích Khê tuy bịnh nhưng vẫn tìm đủ cách để tranh đấu với vi trùng bệnh phổi và dùng hết nhân lực để hy vọng... Chàng dùng cả phương pháp nằm ghì trên giường tuyệt đối không cử động để cơ thể nghỉ ngơi. Nhưng phương pháp ấy kết quả là làm cho gân cốt tê bại, nên một thời gian sau, chàng phải tập đi đứng như trẻ thơ tập đi vậy.

Từ khi làm thơ Đường đến đây Bích Khê có 100 bài chọn lọc định xuất bản. Cũng trong khoảng thời gian này, chàng dự định cho ra tập “Tinh Hoa” hoặc “Ngũ Hành Sơn”. Không may cho chàng, chàng khuất trước ngày những đứa con tinh thần ra đời. Sức khỏe càng ngày càng xuống, cơ thể càng ngày càng mòn, bấy giờ cái buồn nghe đất lạnh mới thấm tận lòng chàng, chàng lặng lẽ khóc cho thân thế, cho sự nghiệp, cho tất cả những mối tình đối với tất cả những người thân yêu trong đời mình.

Chàng có một đứa cháu tên là Thu An mới lên 4 tuổi mà chàng rất thương. Cũng như các cháu khác, chàng không cho bé Thu An lại gần.

Trên đầu giường Bích Khê có đặt một cái chuông, khi nào cần cái gì thì chàng nhận chuông. Bé Thu An không được lại gần cậu, nên mỗi sáng, bé đứng ngoài phòng và nói lớn vọng vào:

- Cậu Bích Khê ơi! Cậu có thương Thu An thì cậu nhận chuông lên...

Chuông reo lên, âm thanh cao lên vun vút... Chàng cảm thấy tình thương yêu tràn ngập xung quanh chàng, đi vào lòng chàng; chàng buột miệng: “Trời ơi, tại sao ta không được sống mãi trong gia đình ấm áp này...!”

Bịnh tình làm chàng thất vọng bao nhiêu thì hy vọng càng làm chàng cố bám lấy sự sống. Chàng hy vọng có một trường hợp mầu nhiệm nào đó sẽ đến thay đổi đời sống của chàng...

 VII.   NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

1945. Một đêm có tiếng reo hò vang lên: quân Nhật đầu hàng. Sáng hôm sau, thiên hạ hay rằng có cuộc khởi nghĩa.

Bích Khê mừng quá, bắt người nhà khiêng cả chàng nằm trên ghế bố ra cửa đón phong trào đương lên. Chàng nói với chị:

- Em chưa muốn chết! Em yêu đời quá!...

Ngay lúc chàng yêu đời, yêu dân tộc đương khởi nghĩa thì chàng không thể sống được nữa... Bài thơ rải bông trong mộng năm trước lại nhắc nhở cho Bích Khê nhớ cái chết trong mùa xuân.

Một mùa Xuân mới lại sắp tới. Chàng nói với chị: “Mùa Xuân này chăng? Em có linh tính...” Tháng sau, chàng đưa cho chị bài thơ “Nấm mộ” và bốn câu “Đề bia trước mộ”.

Bệnh tình Bích Khê càng ngày càng trầm trọng. Tuyệt vọng rồi! Gia đình đã “tận nhân lực” và cũng đã biết chàng không còn sống bao lâu nữa.

Một buổi chiều, chàng nghe người ta vừa giết Tạ Thu Thâu, đâm ra sững sờ rồi chàng khóc!

Những ngày chàng gần cõi chết lại là những ngày chàng sáng tác nhiều nhất. Và hai tháng sau ngày khởi nghĩa và hai tháng trước ngày từ giã cõi đời, Bích Khê niệm kinh Di Lặc và tin tưởng ngày nhắm mắt có Phật đến rước.

Đông chí qua, tiết Lập Xuân đến. Bích Khê sửa soạn cái chết của chính mình. Chàng mời mẹ lên ngồi một bên, chàng nói chuyện để có dịp nhắc nhở ơn sanh thành dưỡng dục, nhất là trong những năm nằm trên giường bệnh.

Tháng 11 vừa hết, tháng Chạp âm lịch bắt đầu: chàng cho gia đình biết chàng thử hơi cuối cùng trong tháng này. Chàng mời người chị thứ sau lên, đọc lời di chúc, nhờ chị chép lại và xin mẹ, căn dặn mẹ làm đúng theo lời tuyệt mệnh:

1. Khi chết không được khóc.

2. Chết xong liệm liền, chôn liền.

3. Liệm rất giản dị, một tấm vải trắng đắp thi hài, một cái hòm thường, và đám tang không có kèn trống.

4. Bà con bạn hữu đến phúng điếu, không nhận tiền

5. Ngày giỗ chỉ đốt hương trầm và cắm hoa; không được đặt đồ ăn trên bàn thờ.

6. Các tập thơ, chị Ngọc Sương và người anh rể là Lạc Nhân mang quyền xuất bản.

Một  buổi tối, sau khi ăn cơm xong, Bích Khê gọi mẹ lại, âu yếm kéo mẹ ngồi một bên, nắm tay mẹ, nói rất bình tĩnh:

- Còn ba ngày nữa, con không ở với mẹ nữa. Đúng ngày Rằm thì con chết.

Rồi chàng xin mẹ mời thầy tụng kinh ba đêm ngày. Trong ba ngày nầy Bích Khê chỉ xin ăn cam và sữa cốt để cho bao tử nhẹ nhàng tinh khiết. Đêm thứ ba Bích Khê nhắm mắt nghe kinh chốc chốc chàng mở mắt dòm chùng kim đồng hồ... khi kim đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút Bích Khê thấy hơi thở mình chưa báo hiệu cho sự chết, vì chàng còn khỏe lắm. Bích Khê tỏ ngạc nhiên bằng tiếng: “Ủa... lạ chưa...”.

Kim đồng hồ ta nặng nề đi qua như muốn kéo dài sự sống của chàng. Bích Khê lấy làm lo ngại nói một mình: “Tôi chết đêm nay mà!”. Khi 11 giờ 45 phút Bích Khê chỉ còn hơi thở đều đều... rất nhẹ rất mong manh... Bích Khê bảo mẹ các chị đi ngủ nói rằng trong mình chàng nghe khỏe lắm, chàng cần ngủ một chút.

Giấc ngủ ngàn thu bắt đầu từ giây phút ấy. Lúc 12 giờ khuya, người nhà ngồi bên Bích Khê trông thấy một vệt sáng xanh từ trong giường Bích Khê vụt lên mái nhà...

Tiếng kinh và tiếng mõ của nhà sư vọng lên cao xung quanh chàng, và tiếng nấc nở của mọi người thân yêu lại dồn vô lồng ngực, vì ai cũng muốn giữ đúng lời di chúc của chàng.

Nhưng sau khi đậy nắp hòm, và khi đất đã khỏa trên cuộc đời của thi sĩ, gia đình cũng như bạn hữu không còn ai làm theo lời di chúc Bích Khê: nấm mộ vẫn được thấm tràn giòng lệ trắng. Và tiếng nức nở của người chị được kết dài thành tiếng thơ:

                   “Khóc em”

Tôi vừa mất một người em yêu quí

Một nàng thơ hồn trắng ý trong xanh

Một chàng trai tinh tiết vẹn nguyên lành

Say xây đắp lâu đài thơ tuyệt mỹ

Tôi vừa mất một người em tri kỷ

Bước giang hồ bàn bạc dưới vầng trăng

Rượu thơ ngày khúc điệp nhạc cung hằng

Tình non nước từng phen say lại tỉnh

Ngắm bể Phan Thành, nhìn mây núi Lĩnh

Đã từng khi khóc mướt giữa tay mềm

Lệ đau sầu nhân nghĩa tợ ban đêm

Nhạc trỗi khúc giữa tình yêu ma quái

Cùng nức nở khóc một thiên tình ái

Đem bạc vàng xây mộ giữa yêu đương

Tôi mất em là mất cả một mùa hương

Cả ánh sáng và cả gì man mác

Tôi mất em, ôi! Cõi lòng tan nát!

Tôi mất em! Trời hỡi! tôi mất em!

Tình lên mi sầu dựng giữa màn đêm

Tôi muốn xé tử thần ra trăm mảnh

Tôi gào thét giữa đêm tàn trăng lạnh

Đòi hồn em và xác thịt em tôi

Người thi nhân trong trắng tợ mặt trời

Sao mi nỡ xây mồ ngay tuổi trẻ?

Em chết đi bỏ lại đời một mẹ.

Bao tình thương khắng khít tợ trăng sao

Em chết đi chưa hái nụ hoa đào

Giòng dông núi tình thương ngời cây lá

Em tôi chết tựa sông nhào núi ngã,

Mắt rưng rưng miệng hé gọi căm hờn

Hồn em thiêng về với chị: cô đơn!

Nghe chị khóc dưới cây sầu Vĩnh biệt.

Bích Khê mất trong thời kỳ khói lửa, nên ngày lâm chung, bạn văn thơ ở xa không ai về được. Sau đó chỉ Chế Lan Viên và Nguyễn Viết Lãm đến viếng một lần và khóc một lần.

Nấm mồ được đặt trên miếng đất Hội quán ở gần Thu Xà và luôn bao năm khói lửa chỉ một con quạ đứng im hơi...

Em tôi đã chết. Nhưng mãi đến bây giờ tôi vẫn không tin là Em tôi đã chết... có những người khác cũng không muốn tin rằng Em tôi đã chết...

 

                                                          Cuối xuân Giáp Thìn

Nguồn :

Văn,  Sài Gòn, s. 64 (15/8/1966), tr. 22-41.

 

 

 

 

Các bài khác:
· BÍCH KHÊ - MỘT VƯỜN THƠ, MỘT ĐỜI NGƯỜI
· HOÀNG DIỆP TÁI HIỆN VỤ KIỆN THƠ HÀN MẶC TỬ
· ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI BÍCH KHÊ
· THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ
· NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG
· NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
· PHIÊN HỌP THỨ NHẤT HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN TỔNG TẬP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_57chofr4kcog036hv56jj6gdf2, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0