Warning: session_start() [function.session-start]: open(/tmp/sess_lcce1tvfs50nfv8p6nm44u6mi3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/bichkhe/public_html/home.php on line 1
TRANG THƠ BÍCH KHÊ - NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU THƠ BÍCH KHÊ

          ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 
ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI BÍCH KHÊ

Cách đây chừng bốn mươi năm, tại Thu Xà thuộc tỉnh Quảng Nghĩa (Trung nguyên Trung phần), có một cậu bé ngày ngày hì hục lê những tảng đá ong, tập trung những viên ngói bể gạch bể vào trong sân, rồi cặm cụi xây cất nhà cửa lâu dài. Cậu bé thui thủi làm việc một mình, làm việc rất chăm chỉ, rất tỉ mỉ. Cậu xây nhà chính rồi xây nhà phụ, và sau lưng nhà bếp cậu vẫn không quên xây một chuồng heo tí hon. Nhìn vào lối chơi, ai cũng đoán rằng cậu bé sẽ trở nên một tay thầu khoán hoặc một nhà kiến trúc sư. Nhưng mọi người đều lầm. Không phải cậu bé tập xây dựng nhà cửa để ở, mà chính cậu ấy tập xây dựng lâu đài văn chương, và lớn lên đã trở thành một nhà thơ mà Hàn Mặc Tử không tiếc lời ca tụng. Cậu bé ấy đã theo Hàn Mặc Tử về nơi Bất diệt ngót mười lăm năm nay và hiện còn để lại cho chúng ta hai tập thơ: Một tập đã xuất bản rồi và được Hàn Mặc Tử gọi là "Một bông lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lột”, và một tập nữa chưa xuất bản mà huơng sắc có phần hơn tập kia. Trước khi thưởng thức hai đóa hoa lạ ấy, chắc các bạn muốn biết rõ cuộc đời của kẻ trồng hoa? Kẻ trồng hoa ấy - cậu bé tập xây dựng lâu đài văn chương trước kia là: BÍCH KHÊ - Tên Lê Quang Lương, sanh ngày 21 tháng 2 năm Bính Thìn, tức 24 tháng 3 năm 1916 tại xã Phước Lộc, quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhập tịch và trú ngụ tại Thu Xà. Ông thân sinh tên Lê Mai Khê, một bậc túc nho tỉnh Quảng Nghĩa, đã qua đời lúc Khê còn vị thành niên. Bà thân tên Phạm Thị Đoan, con nhà danh tộc đất Nam Trung, đã gần 80 tuổii, sức khỏe còn tốt, hiện ở Thu Xà. Bích Khê có tất cả bốn người chị và ba người anh. Khê là con út. Khi mới vỡ lòng, cùng người chị thứ tám học tại trường cơ bản xã Năm 13 tuổi ra học lớp Nhất trường Pháp - Việt, Đồng Hới và năm 1929, đậu đầu khoa thi bằng Tiểu học Pháp-Việt. Sau đó Khê ra học trường Pellerin Huế. Năm 1932, học xong chương trình Trung học, Khê ra Hà Nội học ban tú tài triết học nơi một trường tư. Ra Hà Nội, Khê kết bạn cùng một người đồng châu và cùng học một lớp, tên là Đ... Đ... mồ côi sớm, nhờ ông cha nuôi cho ăn học. Nhưng lúc bấy giờ ông cha nuôi đã hết khả năng. Nghĩ đến cuộc đời sắp phải dở dang của bạn, Khê quyết định thôi học ở Hà Nội, cùng người bạn trở về nhà, dùng số tiền gia đình cấp hằng tháng để hai người cùng ăn học với nhau. Nghỉ hè, về nhà Khê xin bà cụ cho phép thực hiện ý muốn. Biết tánh khí của Khê hề muốn gì thì quyết làm cho kỳ được, bà cụ phải chìu ý con. Khê bèn cùng người bạn đưa nhau vào Phan Thiết sống với người anh ruột làm việc tại đó. Người chị thứ tám, vâng lệnh bà cụ, theo vào Phan Thiết cùng Khê. Ở Phan Thiết được ông anh đỡ đầu, Bích Khê cùng người bạn ăn học được yên vui. Nhưng Khê vẫn chưa vừa ý. Chàng muốn sống một cách tự do và đầy đủ hơn, mới nảy ra ý kiến mở trường tư và đem bàn cùng chị. Người chị tán thành và lo vận động tài chánh. Nhờ sức ủng hộ của các ông anh, các bà chị của Khê, mà chỉ mấy tháng sau trường mở. Trường mở năm 1934 và lấy tên là Hồng Đức. Bích Khê cùng người chị và người bạn dọn nhà ở riêng. Kinh tế tự túc. Để việc chi phí được thêm rời rộng, người chị phải mở thêm một cửa hàng nhỏ để bán sách vở giấy bút cho học sinh. Trường sống gần hai năm, với lòng tín nhiệm của phụ huynh học sinh, và tinh thần đoàn kết của giáo viên. Bích Khê và người bạn vừa dạy vừa học, vui vẻ và hăng hái. Thình lình người chị bị Mật thám tình nghi về chánh trị bắt giải về Quảng Nghĩa giam. Bích Khê phần thương lo cho chị, phần buồn vì nỗi trường thiếu một tay đảm đương, sanh ra chán nản, bỏ vãi việc trường cho người bạn trông coi. Thừa cơ, người bạn xoay lần lần trường trở thành một tư thục hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của mình! Viêc ấy xảy vào năm 1936. Truớc hành động bội bạc của người bạn chí thân, Bích Khê đau đớn ê chề. Chàng bèn bỏ Phan Thiết, xuống ở chơi. Nhờ sự ủng hộ của người bạn thân của Bích Khê là Lạc Nhân mà truờng được mở sau một thời gian sắp đặt ngắn. Trường mở vào đầu tiên khóa 1938-1939 và lấy tên là Quảng Thuận do Lạc Nhân làm giám đốc. Các giáo viên đều là thân bằng hiểu biết nhau, và phần đông đều là người có tâm huyết lấy việc “khai dân trí" làm tôn chỉ, nên học sinh mỗi ngày một thêm đông. Để thỏa mãn sự đòi hỏi của một số học sinh lớn tuổi, trường phải mở thêm một lớp dạy ban đêm. Nhưng trường được nhân dân địa phương tín nhiệm bao nhiêu thì bị bọn thực dân Pháp và quan cai trị Việt Nam để ý và phá rối bấy nhiêu. Do đó nhà trường bị đóng cửa hai lần. Nhưng nhờ lúc ấy Lạc Nhân có chân dân biểu, tự bênh vực nơi nghị trường, nên trường hai lần bị đóng cửa, hai lần được mở lại. Tuy thế việc quấy rầy của cường quyền gây ảnh hưởng xấu cho trường không phải ít. Lại thêm ông chủ trường Hồng Đức, người bạn quí hóa của Khê ngày trước, thừa cơ nước đục, tìm cách quyến rũ một số giáo viên non gan dạ về dạy trường mình. Bích Khê sanh lòng chán nản. Cho nên gần cuối năm 1939, trường bị đóng cửa lần thứ ba, Khê không cho Lạc Nhân vận động mở cửa trở lại. Trường Quảng Thuận đóng cửa, Khê cùng chị trở về Thu Xà. Năm 1941, sau khi người chị thứ tám đi lấy chồng, Khê buồn ra Huế dạy quốc văn cho trường Phú Xuân. Được 7 tháng bị đau ngự bèn từ chức trở về Thu Xà. Đến năm 1942, bệnh phổi tái phát, Khê phải điều dưỡng tại bệnh viện Pasquier Huế. Nằm được 8 tháng, bệnh vừa bớt, Khê xin về nhà điều trị. Về nhà thuốc thang không ngớt, nhưng bệnh Khê đã không giảm mà cứ tăng. Biết rằng mình mắc chứng nan y, nhưng Khê vẫn nuôi hy vọng có ngày khỏi được, nên ai bày vẽ gì, dù vật khó tìm đến đâu người nhà cũng phải gắng tìm cho kỳ được, món khó ăn khó uống đến đâu Khê cũng cố sức mà nuốt cho trôi. Khê đã từng nuốt thằn lằn sống, ăn cao chó mới sanh, ăn nhau xào với nghệ. Khê lại còn chịu khó theo phương pháp "yên tĩnh tuyệt đối" (reposabolu), ăn uống cũng nằm, tắm rửa cũng nằm, cho đến đi chơi cũng nằm trên giường để người nhà khiêng đi. Chạy chữa đủ phương, mà tất cả đều vô hiệu. Sức Khê ngày mỗi thêm yếu, vóc Khê mỗi ngày mỗi thỏn mỏn dần. Cơn ho luôn luôn dằn vặt và trong lồng ngực dường như thiếu không. Nỗi buồn "nghe đất lạnh" thật thấm tận đáy hồn Khê! Khê thường lặng thinh nhìn cảnh vật chung quanh nhà, nhìn người thân yêu, nhìn bóng dáng bạn phương trời và nhìn sự nghiệp văn chương chưa hoàn bị... Lắm lúc động lòng thương xót, sùi sụt khóc một mình! Bỗng một đêm tiếng vang dội khắp: - Nhật đã bó tay đầu hàng! Khê bồn chồn không hiểu nguyên nhân. Sáng ngày mới hay rằng cuộc khởi nghĩa của toàn dân Việt Nam được thắng lợi. Đó là cuộc khởi nghĩa mùa thu năm 1945. Khê vui mừng quá sức, liền ngồi nhổm dậy, miệng luôn luôn nói cười. Nét mặt của Khê lúc bấy giờ tươi tỉnh khác thường. Khê hối người nhà đi nghe ngóng tin tức và khi đoàn biểu tình mừng thắng lợi đi ngang qua nhà. Khê nằm trên ghế bố, bắt người nhà khiêng ra ngoài ngõ đón mừng. Từ đấy lòng vui sướng luôn luôn hiện trên nét mặt. Người chị thứ tám tuy đã có chồng, nhưng thường về nhà săn sóc Khê. Một hôm Khê nói cùng chị: - Em chắc chết trong mùa xuân sắp đến. Khê nói thế là vi: Kỳ nằm nhà thương Huế lần thứ nhất (1937), Khê mộng thấy một bà tiên hiện giữa không trung, giơ tay rải bông vải bay trắng xóa. Bỗng bay chập chờn rồi từ từ rơi xuống mặt đất, hợp lại thành một bài thơ bốn câu báo cho Khê biết rằng chàng sẽ chết vào mùa xuân. Từ ấy bài thơ ám ảnh Khê, nhất là khi chứng bệnh tái phát. Mỗi năm xuân đến, Khê nói cùng chị: - Em chắc chết trong xuân này. Nhưng những mùa xuân qua êm ấm. Lần lần Khê bót tin điềm mộng chết về xuân. Rồi ngót mấy năm Khê không nhắc đến nữa. Sau ngày khởi nghĩa mùa thu, lúc Khê đương vui sống, điềm mộng chết về mùa xuân lại trở lại trong tâm trí Khê. Tuy thế Khê vẫn không lo buồn và vẫn cứ uống thuốc cùng tẩm bổ. Một hôm, đương ăn cơm, bỗng nghe tin Tạ Thu Thâu bị giết. Khê sửng sốt, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Đoạn bỏ đũa đứng dậy vào phòng, nói cùng chị một cách hằn học: - Sao người ta lại không để người tài đức mà dùng? Một nhân tài có đạo đức như Tạ Thu Thâu, mà người ta nỡ đang tay!! Nói rồi nằm úp mặt vào gối, và buồn bã luôn mấy tuần. Sau một thời gian thương xót, Khê vui vẻ trở lại, nói chuyện nhiều, viết lách cũng nhiều. Buổi mai buổi chiều Khê lại thường tụng kinh Di Đà và thường mời bà cụ lên ngồi bên giuờng nói chuyện để nhắc nhở ơn sanh dưỡng. Đến tháng Chạp âm lịch (tức tháng 1 năm 1949), Khê cho gia đình biết rằng mình sẽ chết trong tháng song chưa biết rõ ngày giờ. Đoạn gọi người chị thứ sáu lên ghi lời di chúc. Khê di chúc 6 điều mà điều thứ nhất là khi Khê chết không ai được khóc và điều chốt là văn nghiệp của Khê giao cho vợ chồng người chị thứ tám trông coi. Người chị ghi xong, chép kỹ lại rồi cho Khê xem. Khê trao tờ chúc thư cho bà cụ và căn dặn phải theo cho đúng. Ngày qua chầm chậm. Những cơn ho xé lòng người thân yêu, nhưng nét mặt Khê vẫn thản nhiên, đôi mắt Khê vẫn tươi sáng. Rồi một hôm, cơm tối xong, Khê gọi mẹ vào, âu yếm kéo tay ngồi bên cạnh, thưa: -Sau ba ngày nữa con sẽ không còn ở với mẹ. Đúng ngày rằm tháng chạp này thì con chết. Truớc đây, nằm nhà thương Huế con có làm quen cùng ông sư chùa Phú Thọ, lúc ấy cũng đau phổi như con. Ông ấy hiện đã trở về chùa. Mẹ cho người xuống rước ông lên tụng cho con ba ngày kinh. Ông sư đến tụng kính bên giường bệnh. Tụng xong một quyển kinh thì hai người trò chuyện với nhau vui vẻ, tương đắc. Đến chiều rằm, Khê bảo nấu nước lá thơm tắm gội và thay quần áo mới. Tối đến báo bà cụ: - Con còn ở với mẹ nửa đêm nay nữa. Ngày trăm tuổi già của mẹ, con sẽ về rước mẹ đi. Đêm ấy cả nhà không ai ngủ. Bích Khê trông rất tỉnh táo nằm lim dim đôi mắt nghe kinh, chốc chôc mở mắt nhìn đồng hồ với một nụ cười hiền lành và tin tuởng. Đến 11 giờ khuya một cơn ho nổi dậy xé ruột người chung quanh. Cơn ho ngớt, Khê đăm đăm nhìn đồng hồ. Đến 11 giờ ruỡi, Khê có vẻ ngạc nhiên, "Ủa, ủa" lên mấy tiếng. Khê ngạc nhiên có lẽ thấy đã nửa đêm rồi mà sao mình chưa chết... Chợt người nuôi ở trong buồng Khê chạy ra, có vẻ sợ hãi, nói: - Một vầng sáng xanh từ nơi giường cậu Chín bay lên mái nhà trông ghê quá! Người nhà lật đật vào xem thì không thấy gì cả. Khê vẫn bình tĩnh. Bà cụ lo sợ hỏi thăm, Khê đáp: - Trong mình con thấy khỏe lắm, con cần ngủ một tí. Mẹ hãy đi nghỉ đi. Nhìn vẻ mặt nghe lời nói, bà cụ yên tâm. Nhưng bà nằm chưa ấm chiếu thì người nuôi liền gọi cho biết rằng Khê đã tắt thở. Lúc ấy gần 12 giờ khuya, ngày Rằm tháng Chạp năm Ất Dậu, tức 17 tháng 1 năm 1946. Tiếng kinh đọc lớn và tiếng nức nở dồn ép vào lồng ngực, vì phải theo đúng lời di chúc của Khê. Nhưng khi đã đậy nắp quan tài thì tiếng than khóc không còn ngăn cấm được nữa! Bích Khê qua đời nhằm lúc quốc gia hữu sự, nấm mồ tạm gởi nơi đất Hội quán Thu Xà. Kế đó khói lửa bùng cháy, bạn bè không thể lui tới được, ngoài Chế Lan Viên đến thăm một bận, ngót mười lăm năm nay: Đầy cỏ xanh xao, mây lớp phủ, Trên mộ con quạ đứng im hơi. (Nấm mộ B.K.) Nhưng cảnh thái bình đã trở lại. Rồi đây gia đình và thân hữu còn sống sót của Khê sẽ dời mộ phần của Khê đến nơi thích hợp, có núi có sông, và thay thế "con quạ đứng im hơi" bằng một tấm bia khắc bốn câu thơ của Khê để lại: Thân bệnh: ngô vàng mùa lá rụng. Bút thần: sông lạnh bóng sao rơi. Sau nghìn thu nữa trên trần thế, Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi. (Đề bia trước mộ) Tháng 2/1960 Quách Tấn
 

Các bài khác:
· THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ
· NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG
· NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
· PHIÊN HỌP THỨ NHẤT HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN TỔNG TẬP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ

 

  
Gia đình Bích Khê   

Warning: Unknown: open(/tmp/sess_lcce1tvfs50nfv8p6nm44u6mi3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in Unknown on line 0

Warning: Unknown: Failed to write session data (files). Please verify that the current setting of session.save_path is correct (/tmp) in Unknown on line 0