ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 
NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG

LTS: Chúng tôi xin cống hiến bạn đọc thêm một tài liêu về thi sĩ Bích Khê. Mong bạn đọc coi bài dưới đây như một phụ đính cho Văn số 64.-- VĂN Bài hồi ký của anh Hồ Hữu Tường đánh thức trong ký ức tôi một mẩu chuyện về một quãng đời về em tôi, Bích Khê. Một mẩu chuyện đượm màu sắc văn chương và cả tinh thần cách mạng mà tôi quên bẵng đi không nhắc nhở gì đến nó. Nếu tôi nhớ không sai thì tôi đã cố quên bẵng nó đi từ lâu lắm để tránh sự thương tiếc trong lòng. Ai nói rằng nhà văn nhà thơ là ích kỷ, chỉ biết làm thỏa mãn cho đời mình, cho tình yêu mình, chỉ biết ca tụng màu áo sặc sỡ, chiếc cài óng ánh, hoặc gió ghẹo rèm, trăng hôn má, chim hót cao thì là sai, hoàn toàn sai đối với em tôi. Em tôi một người làm thơ được duyên may người đời gọi bằng thi sĩ mang nặng trong lòng một tình thương rộng lớn đối với dân tộc và nhân loại. Chẳng biết có phải vì truyền thống của máu huyết yêu giống nòi và non nước như yêu thơ, yêu nhân loại như yêu chính mình? Vì vậy nên Bích Khê đã từng đau với cái đau của dân tộc, từng rơi nước mắt trước cảnh đầu rơi máu chảy do thực dân gây ra. Sở dĩ Bích Khê trước khi tắt thở đã có nhiều lần khóc cho những cái chết trong phong trào khởi nghĩa ở Quảng Ngãi, vừa mừng sáng trưng đôi mắt khi hay tin cuộc khởi nghĩa của toàn dân ở mùa thu tháng Tám dành trong tay Nhật mà người nhà phải bỏ Bích Khê trong một cái chõng tre khênh ra cổng để cho Bích Khê mục kích cuộc biểu tình hoan hô cách mạng thành công của toàn dân, là vì Bích Khê đã từng thương đau trong lòng, cái đau thương phải làm một người dân mất nước. Mùa thu năm đó, nhìn đám biểu tình qua ngõ, Bích Khê sung sướng mỉm cười, nụ cười chào cách mạng thành công cũng là nụ cười trước khi chàng từ giã cõi trần vào tiết lập xuân năm ấy. Để chứng minh tình yêu dân tộc rạt rào trong Bích Khê tôi tiếc rằng tôi không còn nhớ bài thơ "Tháng Tám" của Bích Khê làm sau ngày cách mạng dân tộc thành công - Có thể là anh Quách Tấn nhớ? - Và trên bước giang hồ xây dựng văn thơ và lý tưởng Bích Khê và tôi: "Ngắm bể Phan Thành nhìn mây núi Lĩnh Đã từng khi khóc mướt giữa tay mềm” Và: "Rượu, thơ ngây khúc điệp nhạc cung hằng Tình non nước từng phen say lai tỉnh” Khi nhắc tới bốn cuốn tiểu thuyết của Bích Khê, anh Hồ Hữu Tuờng đã gợi lại trong lòng tôi một niềm thương tiếc vô cùng vô tận. Sau khi từ nhà thuơng Huế về Thu Xà với mẹ, sau khi chán núi, chán bể, chán thuyền Bích Khê cho rằng những cái thích thú về phong cảnh, về tiếng chuông, nhịp sóng, còn nghe như thiếu một thứ gì đó trong lòbg nên Bích Khê rủ tôi đi Phan Thiết, Sài Gòn. Tôi vốn là gái đáng lẽ không chấp nhận đời phong trần với em. Nhưng cái nghiệp chướng thơ văn ít nhiều đã xâm nhập tâm hồn, và lý tưởng người thanh niên sáng ngời trong óc tôi, nên tôi không từ chối cùng em làm một cuộc phiêu lưu... Chúng tôi vào Phan Rang rủ người bạn chí thân là anh Nguyễn Hữu Thoại nhập bọn. Ba chúng tôi đã có lần cắt máu hòa chung vẽ lên mảnh giấy con ba quả tim chung thủy đoạn cắt mỗi một mảnh. Ba chúng tôi lên đường vào Phan Thiết, định ở lại đây một thời gian theo chương trình để hoàn thành mấy tác phẩm, và để liên lạc với một số nhân vật trong Nam, may ra tìm nơi bạn một ít sáng tỏ về cuộc đời, hay ích lợi về sáng tác. Chúng tôi rõ nghèo, nghèo đến nỗi không sắm nổi giường nằm. Chúng tôi thuê một căn nhà ba đồng một tháng bề ngang bốn thuớc bề sâu mười bốn thước. So với Đô thị Sài Gòn thì gọi là bảnh, nhưng so với Phan Thiết hồi đó là thuộc về loại bỏ hoang. Gia tài chúng tôi chỉ sắm nổi hai chiếc chiếu, ban đêm làm giường ngủ ban ngày làm bàn ăn. Nhờ có đất để làm bàn ghế. Tôi chỉ cố gắng mua cho Bích Khê một chõng tre, cũng cố gắng tìm mua cái giuờng bề ngang sáu tấc, bề dài vừa tầm cơ thể của chàng cho đỡ tốn. Nếu không thế nhà thơ nằm đất lạnh sẽ nổi cơn ho và đánh thức cả nhà dậy. Nói cả nhà chứ vỏn vẹn có tôi và anh Thoại làm nạn nhân. Tôi còn mượn được cái bàn viết gần rơi rụng, cũ đến mức tối đa, nó định đi kiện vì chúng tôi đã bóc lột sức già cằn cỗi của nó vì đáng ra nó được an nghỉ ở xó hè rồi! Cái bàn nói là để ba đứa dùng chung mà thật thì hầu hết mình Bích Khê chiếm cứ. Ngày ngày tôi và anh Nguyễn Hữu Thoại đứa lo đii chợ, đứa lo quét dọn, giặt áo quần. Bích Khê chỉ cho lãnh việc sắp trật tự trên bàn, và xếp gọn mấy chiếc chiếu sau khi ngủ dậy mà thôi, nên ít khi chúng tôi đuợc ngồi ghé chiếc bàn ấy. Chúng tôi chỉ chờ tối Bích Khê ngủ sớm là chúng tôi chia phiên nhau ngồi viết để cái ngực khỏi phải tức ngược lên khi nằm dài xuống đất ngó đầu lên cán bút chì… Ngót thời gian sống ở Phan Thiết đầy thú thanh bần trong căn nhà nghèo nàn và bữa cơm đạm bạc. Tuy nghèo song không vì thế mà nhà nầy bị mang danh là chùa "Bà Đanh" liu hiu vài chú tiểu quét lá rụng, lượm củi khô mà vẫn có bạn bè từ miền Trung vào, từ miền Nam ra. “Tới đâ bạn ở lại đây, Đất tôi mát lắm bạn xây mộng vàng" Đó là một nguời bạn trong Nam ra mà hai câu thơ này là Bích Khê đã dành một vị trí khoảnh đất mời bạn xây "giấc mộng" Chúng tôi cố hoàn thành chương trình và ý định sáng tác đã hoạch định. Bích Khê dịch quyển Retour de PURSS và hoàn thành các tập truyện mà các giàn bài Bích Khê làm, khi còn nằm nhà thương. Bích Khê và tôi nghĩ đến anh Hồ Hữu Tường, nguời mà chúng tôi thân kính về tinh thần. Bích Khê quyết định vào tìm anh Hồ. Thế là các bản thảo được Bích Khê săm se và hì hục gói gắm, cột trói. Tánh Bích Khê làm biếng, nên ngoài việc làm thơ, làm việc gì cũng khó khăn như vác đá, thế nên tôi dùng tiếng hì hục không quá đáng cho em tôi chút nào. Bích Khê hẹn với tôi lần này mang bản thảo Bích Khê đi, lần sau Bích Khê lại mang bản thảo tập "Phụ nữ hiện đại" cua tôi nhờ anh Hồ Hữu Tường đề tựa. Còn một tập "Ái tình trong chế độ” tôi cũng vừa viết xong, Bích Khê bàn tôi đem ra cụ Phan Bội Châu đặt hy vọng cụ đề tựa cho tập ấy xuất bản luôn. Bích Khê mang đi rồi mang về, đúng như anh Hồ Hữu Tuờng đã viết trong hồi ký. Nói xuất bản, dự định xuất bản, chừng chúng tôi quên mất phần quan trọng: tiền đâu mà in? Cá không dám ăn đủ bữa cơm, canh không dám húp mạnh mà nói chuyện in sách. Nhưng đã đẻ ra được một vài đứa con gọi là sản nghiệp của một đọan đời Phan Thiết thì chúng tôi hy vọng nuôi dưỡng giữ gìn chúng để một ngày nào đó đưa chúng ra đời. Bích Khê bèn gói ghém chúng và đem gởii cho một anh bạn Minh Đức phòng khỏi bị kẻ cắp tưởng là châu báu mà bợ dị chăng? Và khi chúng tôi nhìn lại hai tay trắng bị trở màu thâm, nghĩa là "túi can", thì bàn nhau rời Phan Thiết về người anh thứ ở Sông Cầu tạm thời ở chơi một lúc, cũng để xin ít tiền làm chuyến đi khác. Gói sự nghiệp ấy lại được Bích Khê đòi lại và mang theo. Đưa vào Sông Cầu Bích Khê gởi cho người anh cất, Bích Khê thận trọng niêm lại rất kỹ. Chúng tôi cho thế đã yên lòng lắm rồi bèn rủ nhau về thăm mẹ. Chẳng ngờ lần tạm biệt anh tôi lại là lần vĩnh biệt những đứa con yêu quý ấy. Một thời gian sau, chúng tôi vào đòi lại để mang đi thì anh tôi đốt hết rồi! Anh tôi đốt nó trong một trường hợp cấp bách khi dân thành phố Sông Cầu bị tình nghi nên bị lục soát. Anh tôi đốt nó cũng vì anh tôi chẳng biết nội dung tinh thần các tác phẩm ấy ra sao! Sợ mà đốt! Cấp bách mà đốt! Anh tôi đã làm cho chúng tôi sững sờ, và tôi mềm yếu hơn Bích Khê bưng mặt khóc sướt mướt thương tiếc cho em, cho mình đã tốn bao nhiêu tủy óc mới đúcc nên đứa con tinh thần. Tôi khóc suốt mấy ngày, bàng hoàng luôn cả một năm. Vì biết rằng không bao giờ em tôi viết lại đuợc nữa, và tôi cũng không viết lại được nữa. Tôi rất cảm ơn anh Hồ Hữu Tường tuy rằng anh đã gợi lại cho lòng tôi một thuơng tiếc; tôi cũng xin người em hãy tha lỗi cho chị vô tình bỏ sót mất của em hết một khoảng đời hoạt động văn chương đáng kể, quên nhắc đến trong bài "Người em" đã đăng trong "Văn" số 64 Ngọc Sương
 

Các bài khác:
· NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
· PHIÊN HỌP THỨ NHẤT HỘI ĐỒNG BIÊN SOẠN TỔNG TẬP BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ

 

  
Gia đình Bích Khê