ĐÔI NÉT VỀ NHÀ THƠ BÍCH KHÊ
 
BÍCH KHÊ VÀ NHỮNG NGHI ÁN TẠI QUÊ HƯƠNG NÚI ẤN SÔNG TRÀ

                                                                                          NGUYỄN CAO CAN


Bây giờ là mùa Ðông. Trời Cali se lạnh, thỉnh thoảng mới có những cơn mưa nhẹ hạt. Nhưng cũng mùa này, đường về Thu Xà, quê hương Bích Khê mưa phùn gió bấc, trời rét căm căm. Tôi nhớ mãi thuở học trò, cũng con đường nầy, lầy lội. Chỉ một đoạn đường ngắn từ bờ xe nước đôi đến Trung học Trần Quốc Tuấn, nhiều khi tôi không thể đạp xe nổi, phải dẫn xe đi bộ vì gió bấc và bùn lầy.

Cũng tháng Chạp 60 năm về trước, gần Tết Bính Tuất (1946), chiếc xe ngựa từ Thị xã Quảng Ngãi chở Bích Khê về Vạn Thu Xà, cách tỉnh lỵ 10 Km, nằm về phía Ðông. Ðây là lần cuối cùng Bích Khê đi trên con đường này trở về quê với căn bệnh nan y, lao phổi. Ðường sá ổ gà, bùn đất, trơn trợt. Tết ấy, Bích Khê ra đi vĩnh viễn. Bích Khê trẻ mãi với tuổi 30 thanh xuân đời mình. Một cuộc đời thật ngắn ngủi. Ba mươi năm! Nhưng những gì mà Bích Khê để lại cho đời thì không hề ngắn ngủi. Sáu mươi năm qua, kể từ khi Bích Khê tạ thế, người đời sau luôn nhắc nhở đến ông, ca tụng cũng nhiều nhưng cũng có lúc thật dè dặt, kiệm lời vì sợ hệ lụy.

Kể từ sau năm 1975, nỗi sợ đã bao trùm cả Miền Nam, nhất là trên quê hương Núi Ấn Sông Trà của nhà thơ Bích Khê. Nỗi sợ như một cơn dịch bệnh lan tràn. Riêng Bích Khê vì có những “nghi án” mà ông phải gánh chịu nên thơ ông cũng cùng chung số phận. Bạn bè ông, anh em ông, bà con ông cũng không thoát khỏi những kinh hoàng ám ảnh ấy nên cũng kiệm lời.

Tôi đã đọc và chép trọn quyển Tinh Huyết xuất bản năm 1939 từ thuở còn là học trò. Ðến cuối năm nay, 2006, gần 50 năm sau, tôi được gia đình nhà thơ Bích Khê gửi tặng Tuyển Tập thơ Bích Khê gồm cả Tinh Huyết và Tinh Hoa, do Hội Nhà Văn Việt Nam-Hội Văn Học-Nghệ Thuật Quảng Ngãi xuất bản năm 2006. Ðọc cả Tuyển Tập và 70 Năm Ðọc Thơ Bích Khê cùng một số tài liệu riêng về Bích Khê, tôi thấy cần viết đôi điều về nhà thơ của quê hương Núi Ấn Sông Trà và những “nghi án” cuả ông. Viết về Bích Khê người viết chỉ muốn chiếu lại một đoạn phim đời của nhà thơ tài hoa nhưng mệnh bạc đã bị lãng quên vì bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử trên quê hương 31 năm qua.


Vài Nét Về Cuộc Đời Nhà Thơ Bích Khê

Nhà thơ lãng mạn Bích Khê, tác giả của hai tập thơ: Tinh Huyết xuất bản năm1939 và bản thảo Tinh Hoa được in trong Tuyển Tập thơ Bích Khê 2006. (Kết hợp từ những tài liệu riêng của gia đình Bích Khê qua bà Lê thị Xuân Ðài là cháu ruột của Bích Khê, bạn học cũ cuả người viết)

Bích Khê đã đăng nhiều thơ trên các báo thời bấy giờ: Tiếng Dân (Huế) của cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu thuyết thứ năm, Người mới, Phụ nữ Tân văn (Sài Gòn)

Bích Khê có bút hiệu khác là Lê Mộng Bảo, tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 21 tháng 2 năm Bính Thìn, tức ngày 24-3-1916 tại xã Phước Lộc, một vùng đất trù phú ven sông Trà Khúc thuộc quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Ðây là quê ngoại của Bích Khê, nhưng nơi này chỉ gắn liền với ông thật ngắn ngủi lúc tuổi còn thơ ấu, vì toàn bộ cuộc đời Bích Khê gắn liền với Xóm Vạn Thu Xà, một tiểu nhựơng địa thời Pháp thuộc. Thu Xà là một thương cảng khá sầm uất của người Minh Hương vào thế kỷ XVIII-XIX, nơi con sông Vực Hồng đổ ra sông Phú Thọ để vào biển Ðông. Vạn Thu Xà là nơi tập trung Lai Khách (Người Hoa), là nơi giao lưu buôn bán với Hải Nam, Ma cao, Thượng Hải, Hồng Kông…bằng ghe bầu lớn.

Ông thân sinh tên là Lê Quang Dục, hiệu Mai Khê là bậc túc nho của Quảng Ngãi. Ông qua đời từ lúc Bích Khê còn nhỏ. Bà thân sinh tên Phạm thị Ðoan, con nhà danh tộc đất Sơn Tịnh, Quảng Ngãi. Bích Khê là con út trong gia đình có 9 người con. Gia đình Bích Khê vốn có truyền thống ngâm vịnh nên từ ông nội đến cha của Bích Khê có bút hiệu Mai Khê cho đến các anh chị đều có bút hiệu như Thanh Khê Lê Quang Khâm, Tùng Khê Lê Quang Thuần, Tỉnh Nam Lê Quang Hường…. Riêng Bích Khê, từ nhỏ đã nổi tiếng như một thần đồng về thơ. Mới 12 tuổi Bích Khê đã làm thơ đường luật. Năm 15 tuổi(1931), Bích Khê đã có thơ đăng ở mục Văn Uyển bên cạnh các bậc túc nho nổi tiếng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu trên báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn.

Năm 13 tuổi, 1929 ông đậu đầu kỳ thi Tiểu học Pháp-Việt, theo học trường Pellerin ở Huế. Năm 1932 học xong chương trình Trung học, ông ra Hà Nội học ban Tú Tài triết, nhưng nửa chừng thì xin phép gia đình nghỉ học để giúp người bạn đồng liêu.

Năm 1934 cùng người chị là Ngọc Sương và một người bạn đồng liêu vào Phan Thiết mở trường tư dạy học (Tư thục Hồng Ðức). Năm 1936 Ngọc Sương bị Pháp bắt di lý về Quảng Ngãi, Bích Khê buồn không chú ý đến trường lớp nên trường bị người bạn đồng liêu soán đoạt. Ông bỏ dạy về Thu Xà đóng cửa làm thơ. Trong thời gian dạy học ở Phan Thiết, Bích Khê đã yêu cô nữ sinh Song Châu bé nhỏ của mình. Bài thơ Song Châu trong tập Tinh Huyết là bức chân dung của mối tình đầu.

Năm 1937 ông bị bệnh phổi, ra Huế điều trị hơn một năm. Khi trở về, theo lời yêu cầu của Bích Khê, gia đình che cho ông một túp nhà tranh trên núi Thiên Ấn, một thắng cảnh của Quảng Ngãi. Sau một thời gian, Bích Khê lại thích xuống biển. Gia đình cũng chiều ông bèn cất lều ở ven biển. Năm tháng sau, chán biển, nhà thơ lại muốn về chùa Phú Thọ để vừa làm thơ lại vừa nghiên cứu kinh điển nhà Phật. Gia đình cũng chiều theo. Tại đây, câu kinh tiếng kệ cũng làm tâm hồn chàng lắng xuống. Nhưng cảnh u tịch không khơi được nguồn cảm hứng, chàng lại thích tiêu dao cảnh sông hồ. Ðể làm vui lòng con, bà cụ thuê cho Bích Khê một chiếc sõng lớn (thuyền), đầy đủ tiện nghi thả bềnh bồng trên sông Trà Khúc, nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Lũy, Sa Kỳ…Trên “chiếc thuyền con bé tẻo teo” xuôi ngược sông Trà lại tạo thêm thi hứng cho nhà thơ. Trong giai đoạn thuyền lênh đênh về ngả Sa Kỳ, Bích Khê lại gặp Bích Thủy, người con gái từ Muĩ Né ra thăm. Tình yêu lại bắt đầu….

Sau đó, lại chán cảnh sông hồ, Bích Khê cùng chị Ngọc Sương vào Phan thiết, một lần nữa lại mở trường tư lấy tên là Quảng Thuận (1938-1939), anh rể là Lạc Nhân làm Giám đốc. Cùng chung sống với Bích Khê lúc này là Trúc Lâm tức nhà văn Tam Ích, bạn của Bích Khê, đã từng chúng kiến Bích Khê làm thơ. Giai đoạn này, Bích Khê lại yêu Ngọc Kiều, một nữ sinh lớp tối. Nhưng gia đình Ngọc Kiều đã hứa gả cho người khác. Ván đã đóng thuyền! Bích Khê lại thêm đau khổ. Cuối năm 1939, tư thục Quảng Thuận bị đóng cửa, Bích Khê lại về Thu Xà với mẹ, đóng cửa làm thơ.

Năm 1941, Bích Khê ra Huế dạy Quốc văn cho trường Phú Xuân và sau đó thì bệnh lao phổi tái phát (1942). Bích Khê phải điều dưỡng tại bệnh viện Pasquier Huế 8 tháng. Sau đó Bích Khê về tiếp tục điều dưỡng ở Hoàng Hoa Trang, dinh thự của vợ chồng Nữ sĩ Ngọc Sương ở Quảng Nam. Năm 1943 bệnh trở nặng.

Ðến mùa Thu năm 1945 khi Việt Minh khởi nghĩa, nghe tin Tạ Thu Thâu bị giết ở xã Nghĩa Kỳ, một xã ở phía Tây Thị xã Quảng Ngãi, Bích Khê nói cùng chi Ngọc Sương một cách hằn học:

- Sao người ta lại không để người tài đức mà dùng. Một nhân tài như Tạ Thu Thâu mà người ta nỡ đang tay! Cái chết của Tạ Thu Thâu làm Bích Khê khóc và buồn bã suốt nhiều tuần.

Như linh tính báo trước, Bích Khê đưa cho người chị kế Ngọc Sương bài thơ Nấm Mộ và bốn câu Ðề Bia Trước Mộ. Bệnh tình Bích Khê ngày một trầm trọng. Gia đình đã “tận nhân lực” nhưng tuyệt vọng. Những ngày gần cõi chết lại là những ngày Bích Khê sáng tác nhiều nhất…

Ðể kết thúc đôi dòng về cuộc đời bạc mệnh của nhà thơ, xin trích lời của Nữ sĩ Ngọc Sương trong hồi ký “Trong bóng nguyệt soi”, để chứng tỏ rằng Bích Khê đã chuẩn bị cho cái chết của mình một cách chu đáo, đầy tự tin và nhất là tự biết mình sẽ về đâu, an nhiên tự tại ra đi như một người đạt đạo trước ngày lâm chung “… Hai tháng sau ngày khởi nghĩa và hai tháng trước ngày từ giã cõi đời, Bích Khê niệm kinh Di Ðà và tin tưởng ngày nhắm mắt có Phật đến rước…. Tháng 11 vừa hết, tháng Chạp âm lịch bắt đầu (tháng 01-1946): chàng cho gia đình biết chàng thở hơi thở cuối cùng trong tháng này. Chàng mời người chị thứ sáu lên, đọc lời di chúc, nhờ chị chép lại và xin mẹ, căn dặn mẹ làm đúng theo lời tuyệt mệnh: 1/ Khi chết không được khóc.2/ Chết xong liệm liền, chôn liền. 3/ Liệm rất giản dị, một tấm vải trắng đắp thi hài, một cái hòm thường, và đám tang không có kèn trống. 4/ Bà con, bạn hữu đến phúng điếu, không nhận tiền bạc. 5/ Ngày giỗ chỉ đốt hương, trầm và cắm hoa; không được đặt đồ ăn trên bàn thờ. 6/ Các tập thơ, chị Ngọc Sương và người anh rể là Lạc Nhân mang quyền xuất bản.

Một buổi tối, sau khi ăn cơm xong, Bích Khê gọi mẹ lại, âu yếm kéo mẹ ngồi một bên, nắm tay mẹ nói rất bình tĩnh:

- Còn ba ngày nữa, con không còn ở với mẹ nữa. Ðúng ngày rằm thì con chết.

Rồi chàng xin mẹ mời thầy tụng kinh 3 đêm ngày. Trong 3 ngày này, Bích Khê chỉ xin ăn cam và sữa cốt để cho bao tử nhẹ nhàng tinh khiết. Ðêm thứ ba, Bích Khê nhắm mắt nghe kinh, chốc chốc chàng mở mắt dòm chừng kim đồng hồ… Khi 11 giờ 45 phút, Bích Khê chỉ còn hơi thở đều đều, rất nhẹ, rất mong manh… Bích Khê bảo mẹ và các chị đi ngủ, nói rằng trong mình chàng nghe khoẻ lắm, chàng cần ngủ một chút. Giấc ngủ ngàn thu bắt đầu từ giây phút ấy…” (1) Bích Khê từ giã cõi đời khoảng 12 giờ khuya ngày rằm tháng Chạp, tức ngày 17-01-1946, hưởng dương 30 tuổi.

Dù sinh ra trong một gia đình khá giả trước kháng chiến, nhưng về sau, cũng có lúc Bích Khê lang thang trong đói nghèo để sống và làm thơ ở Phan Thiết như Nữ sĩ Ngọc Sương đã ghi lại trong: Nhân đọc bài hồi ký của Hồ Hữu Tường: “ Chúng tôi sống rõ nghèo, nghèo đến nỗi không sắm nổi giường phản để nằm… Gia tài chúng tôi chỉ sắm nổi 2 chiếc chiếu, ban đêm làm giường ngủ, ban ngày làm bàn ăn, nhờ có đất để làm ghế…”(2)

Bích Khê qua đời nhằm lúc quốc gia hữu sự, nấm mồ tạm gửi nơi đất Hội quán Thu xà. Sau đó, khói lửa chiến tranh, bạn bè cách trở, không thể lui tới được đúng như lời của nhà thơ trong bài Nấm Mộ:

Ðầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi!

Sau đó chỉ có Chế Lan Viên và Nguyễn Viết Lãm đến viếng một lần và khóc một lần.




Thơ Bích Khê Với Những Nét Quê Hương

Ngày hết Tết đến, đọc Tinh Huyết và Tinh Hoa không những thấy “thơm đủ mọi mùi phước lộc” như nhà thơ lớn Hàn Mặc Tử đã ca tụng mà còn thấy những dòng thơ Bích Khê như bừng sáng bởi cái mùi vị “gốc rạ”, cái mùi vị của quê hương Núi Ấn Sông Trà. Từ xóm Vạn Thu Xà, Bích Khê đã cúi xuống và cúi sâu xuống hồn mình, trái tim thơ trẻ của tuổi đôi mươi đã giao hòa cùng đất trời nơi quê hương xứ sở:

Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa?
Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc
Cừng sáng trong trời sợi sợi mưa.
(Làng em) (3)


Quê hương Bích Khê mang dáng vẻ Làng Em. Tiếng nói Bích Khê như còn vang vọng đâu đây, như đang hỏi những người con xa xứ? Anh có khi nào trở lại chưa? Làng thì cũ. Thu thì buồn, hiu quạnh. Ngày thì chậm. Trời thì mưa… Nhưng dòng sông biếc lại cừng (hừng) sáng lên bất chấp cảnh buồn bã, nghèo khổ, tăm tối đang vây hãm chung quanh. Những lúc buồn, đọc những dòng thơ trên như muốn khóc, nhưng không bao giờ bị ngã qụy, mà đứng bật dậy ngay, vươn tới trước. Một nhà thơ mà không gan ruột với quê hương mình sẽ không thể có những dòng thơ ám ảnh nhiều thế hệ đến như thế.

Tuy Bích Khê có rất ít bài thơ viết về quê hương của mình, nhưng một khi làng quê hiện hữu trong thơ ông, lập tức nó trở nên kỳ ảo, long lanh. Những câu thơ ông viết về Làng Em, về Chùa Ông Thu Xà hay về Thiên Ấn đều gây cho ta những suy tưởng, những ám ảnh về quê hương

Nơi đây: thành phố đời ngưng mạch,
Mấy nàng lai khách vẫn buồn mơ.
Ðường lên Hội quán sương khuya xuống
Ðâu những chàng trai rõi nhớ hờ?
(Làng Em)

Cùng nơi đây, nhưng trên là làng cũ buồn thu quạnh, dưới là thành phố đời ngưng mạch. Ðã một thời, Thu xà là nơi người Hoa Kiều -lai khách- buôn bán tấp nập nhất trong tỉnh, có cả Hội quán, nhưng dần dần “ngưng mạch” thành khu phố cổ, nên lai khách buồn mơ. Trong thơ chỉ có Bích Khê mới dùng những từ để nhắc đến những nàng Lai khách hay Hội quán. Và trong những chàng trai rõi nhớ hờ này làm gì cũng có tác giả Làng Em?

Lớn lên bên dòng sông Vực Hồng thơ mộng của xóm Vạn Thu Xà, Bích Khê đã hấp thụ vào lòng mình cái Hồn Thiêng Sông Núi, cái hồn thơ của thời đại Thơ Mới, hay nói một cách khác, như nhà thơ đã được xứ sở trao cho một thanh gươm báu:

Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
Ta điên rồ… múa giữa áng bình minh.
(Mộng cầm ca)

Và từ đó, nhà thơ như một kiếm sĩ đã luyện được tuyệt chiêu, vung gươm táo bạo, ngông cuồng với những luồng sinh khí khác thường, kỳ diệu, như khai mở nhiều đường gươm sáng tạo:

Vung lên cắt… mạch nguyệt vành xanh!
Xé mạch trời, – mây xô sao, răng rắc!
Phăng mạch đêm – hương vỡ, ứa ngầm tinh!.

Trong bài thơ mang tựa đề thật êm đềm như Mộng Cầm Ca mà Bích Khê đã loạn kiếm điên cuồng. Thật mới mẻ và cũng thât khác thường! Bích Khê đang muốn phá vỡ và xáo trộn đúng như tuyên ngôn của trường thơ loạn mà Chế Lan Viên đã tuyên bố trong bài Tựa của tập Ðiêu Tàn: “Hàn mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Ðiên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, làYêu. Nó thoát Hiện Tại, nó xáo trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai” (4)

Trong những năm 32-45 của thế kỷ trước, trường thơ loạn ra đời. Lịch sử văn chương Việt Nam đã có một thời sững lên vì tên tuổi của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê … Nhưng đặc biệt, với Bích Khê, hầu như không hề có một tuyên ngôn hay tuyên bố gì, mà cách lập ngôn đầy đủ nhất, mạnh mẽ nhất của ông là thông qua thực tiễn sáng tạo.

Bích Khê thường nói đến:

Những vú nõn: đồi cong thon nho nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh

Với ông, đôi vú của nàng thơ là nguồn thi hứng. Ông làm thơ tức là ông “nút” vú, “nút” tinh chất của nàng thơ, là “Tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc.”

Ðộng từ “nút” cuả quê hương ẤnTrà, Bích Khê thường dùng đến vì nó liên quan đến những cảm xúc của nhà thơ. Hay những trạng từ như “nư ”, nút cho nư hay cho đã nư, nghĩa là nút cho no nê, cho say sưa:

- Vơí một cô đào hát bộ:

Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí đả nư thèm

- Với cô gái trong bức tranh loã thể:

Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.

- Với “Người em lãng mạn” trong một bức ảnh:

Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi, lấy má… lấy ngây thơ
Ðể anh nút ớn mùi hương ấm
Cả một tình yêu giận hững hờ

Ngay cả những cảnh vật mùa xuân, Bích Khê cũng “vú hoá” theo cảm hứng riêng của mình. Cảnh xuân đựơc mô tả như vẻ đẹp của một thiếu nữ thanh cao, quyến rũ.

Nâng lên núm vú đồi,
Sữa trăng, nhi nhỉ giọt

Và Bích Khê còn dùng nhiều từ địa phương khác nữa như trong một lần Mơ Tiên, ông đã những muốn: “Ði cướp mây trời, vén ra cho thấy một vài nường tiên. Ðể xem: hồn đương say nghiền, đả nư, khoái lạc trong miền chiêm bao”.

Ngoài ra, Bích Khê còn thể hiện khoái cảm nhục thể một cách mạnh mẽ, tàn bạo. Ông muốn thể hiện thật rõ nét Ðẹp và Dâm nên không ngần ngại đặt hẳn tên cho một bài thơ có nhan đề là Xác Thịt:

Tôi vồ nàng như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa, lườm qua làn sóng sắc…
Tôi giật lấy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông.

Trong đề tựa cho Tinh Huyết, Hàn Mặc Tử đã cho rằng khi đọc những vần thơ ấy “giây thần kinh và gân huyết ta rung đông, say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng, thơm, ran ran lên cả người”.

Bích Khê đã đặt xác thịt lên ngôi thần và đăt những đề tựa rất mới, rất sống động, trần truồng: Nàng bước tới, Thơ Lõa Thể… và trắng

trợn hơn nữa: Xác Thịt, nghĩa là Bích Khê đã tự hiến mình cho loại thơ này:

Thơ lõa thể, giai nhân tuần trăng mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người

Dù mang tính chất là thơ Tượng Trưng, thơ Huyền Diệu hay thơ Trụy Lạc như Hàn Mạc Tử đã phân tích đi nữa, song những dòng thơ Bích Khê vẫn đặc sệt mùi vị của một trời quê hương, mang nặng âm chất Quảng Ngãi của riêng mình.

… Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương
Hỡi trần gian! Hãy chết ngộp trong sao
(Nàng Bước Tới)
… Gío thiệt đa tình hôn mặt hoa
Thơm tho mùi thịt bắt say ngà
(Hiện hình)
… Buồn thôi như rượu thấm dồn,
Lên men nồng khước, xoay tròn trên không
(Cuối Thu)
… Nhưng mây ê ngời sao kim cương
Dạ lan ê ngời say men hương
Này! Muôn ngọc nữ ngớp y hường
(Nghê Thường)


… Tôi sú tình trong đôi mắt ướt
Mơ màng phối hiệp ở chiêm bao
(Châu)

Bích Khê là một nhà thơ tài hoa. Thọat đầu, mới nhận được 3 bài thơ: Thi Tứ, Ảnh Ấy, và Thời Gian, Hàn Mặc Tử đã phải sửng sốt và đã ca tụng: “Mồng tám Tết năm ngoái (1938) tôi nhận được 3 bài thơ của Bích Khê ở Phan Thiết gửi tặng tôi. Ba bài ấy đã làm cho tôi sửng sốt với cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa…” (5)

Trong cát bụi như là trong xanh thẳm
Của cỏ hoa chen rác rắm
Của thời gian tàn tạ lẫn muôn đời
Của mến yêu cay đắng đọng thơm tươi
Là thi tứ, là đúc chung một án
(Thi Tứ)

Hàn Mạc Tử, nhà thơ lớn, mới đọc vài bài thơ cuả Bích Khê đã trân trọng ca ngợi, thật không ngoa. Mới ngoài 20 tưổi, Bích Khê đã có cái nhìn sâu thẳm về cuộc đời: “Của cỏ hoa đang đẹp đẽ đấy nhưng đã chen rác rắm”. “Của tình yêu cay đắng đấy nhưng cũng thât thơm tươi”. Và “Của thời gian thì tàn tạ từng khoảnh khắc đấy, và muôn đời vẫn thế”… Tất cả những đổi thay, biến dịch của vạn vật, của cuộc đời đã tạo nguồn cảm hứng cho nhà thơ, Bích Khê cho đó “Là thi tứ, là đúc chung một án”, là cùng chung một gốc rễ, một cội nguồn: Vô thường! Hết che trại ở bên chùa Thiên Ấn nghe chuông lại vào chùa Phú Thọ tụng kinh niệm Phật nên về đến Chùa Ông Thu Xà, những dòng thơ lại nhuốm màu siêu thoát của thiền môn: “Ngồi trên gò mà nghe chuông vọng, sắc cỏ thơm mùi kinh sách xưa”. Vì lẽ đó,với những cảnh trí tầm thường, tội lỗi, xấu xa, rùng rợn, Bích khê thấy là cao siêu, là nhơn đức, là thơm tho, là phước lộc, là khoái lạc. Ðến năm 1939, Tinh Huyết được trình làng ở Hà Nội, trong lời đề tựa, Hàn Mặc Tử đã hết lời ca tụng: “Bích Khê, Thi sĩ thần linh… Một bông lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể sánh thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy….” (6)

Ở Sọ Người cũng như ở Tranh Lõa Thể, sự thối tha, nhơ nhớp cũng như sự trần truồng dâm đãng lại có ý vị nên thơ của hương, của sắc, của trăng sao và âm nhạc. Tất cả đều ngọt ngào và thanh cao quá:

… Nàng là tuyết, hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương, hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Ðêm u huyền ngủ say trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làng môi…

Từ năm 1941, trong Thi Nhân Việt Nam, dè dặt như Hoài Thanh cũng phải khẳng định: “Tôi đã đọc trong Tinh Huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông.

 

 

 

Từ 1954-1975 Dưới Thể Chế Cộng Hòa

Việc nghiên cứu và giảng dạy văn học lãng mạn trong đó có văn thơ tiền chiến (thơ mới) luôn được chú trọng và được phát triển tự do. Trong các văn thi sĩ tiền chiến, Bích Khê là một trong không nhiều nhà thơ được biết đến như một thiên tài về thơ ca mà sự đóng góp của ông trong nền văn học nước nhà là không thể phủ nhận. Rất nhiều cây viết thời bấy giờ đã viết về Bích Khê như: Quách Tấn, Tam Ích, Phạm kim Thịnh, Lê Thi Ngọc Sương, Trần tuấn Kiệt, Hoạ sĩ Ðinh Cường… Vì thế trên tờ báo Văn, một tập san

Văn học Nghệ thuật có uy tín đã dành nguyên

số 64 ngày 15-8-1966 để tưởng niệm Bích Khê! Trong lời mở đầu cho số tưởng niệm ở trang 1 đã viết: “Mặc dù mệnh yểu, từ trần khi sự nghiệp còn dang dở, nhưng thi sĩ Bích Khê đã là nhà thơ lỗi lạc, có một vị trí rõ rệt trong lịch sử thi ca Việt Nam”


Sau Năm 1975: Những “Nghi Án” Của Nhà Thơ Bích Khê

Năm 1992, trong những ngày đang lo thủ tục phỏng vấn để đưa gia đình sang Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn, tôi gặp bà Lê Thị Xuân Ðài ở Sài gòn. Bà Ðài kể rằng bà Lê Thị Ngọc Sương vừa về Thu Xà, dự tính di dời mộ Bích Khê từ khu Hội Quán hoang dã đến gần khu nhà thờ họ Lê. Nhưng chính quyền Quảng Ngãi không cho dời vì tình nghi nhà thơ Bích Khê là Trotskist- Cọng sản Ðệ tứ Quốc tế. Bà Ngọc Sương đành rơi lệ quay lại Sài goon….

Trong dự tính, sau khi phỏng vấn xong, tôi sẽ đưa gia đình về Quảng Ngãi thăm quê hương, từ giã ông bà Nội các cháu và từ giã bà con trước khi xuất cảnh. Khi nghe câu chuyện ấy, thật sự tôi không còn đầu óc để nghĩ đến nhà thơ Bích Khê như một tinh hoa của Quảng Ngãi mà thuở nhỏ tôi đã từng say mê. Qua câu chuyện tuy ngắn ngủi: “Chính quyền không cho dời mộ Bích Khê”cũng đủ làm cho tôi lo âu, suy nghĩ đến thân phận mình. Liệu có gì bất trắc khi tôi về lại Quảng Ngãi hay không vì đáng lẽ sau gần 9 năm từ trại “tù cải tạo” về, tôi phải trình diện địa phương để hoặc đi kinh tế mới hoặc bị “chỉ định cư trú” ở một nơi nào mà chính quyền muốn thì tôi lại đưa gia đình về Sài Gòn để lo sinh kế. Tôi âu lo vì ngay cả người chết đã 60 năm rồi mà vẫn không yên, vẫn còn bị phân biệt đối xử, bị trả thù chỉ vì tình nghi là Trotskist. Trông người lại gẫm đến ta! Một nắm xương tàn cũng không được di dời huống hồ là thành phần như gia đình chúng tôi, những người bị “tù cải tạo” lâu năm trở về?

Thật bất hạnh cho Bích Khê, một nhà thơ tài hoa!

Bất hạnh vì bị lao phổi, một trong “tứ chứng nan y” thời bấy giờ, đã gây nhiều trở ngại trong việc sáng tác… Bất hạnh vì luôn thất bại trong sinh kế: đã hai lần cùng gia đình mở trường tư dạy học ở Phan Thiết đều thất bại. Bất hạnh vì trước sau cả ba cuộc tình, ba cuộc yêu đương đều bị đổ vỡ, thương đau. Ðời Bích Khê bất hạnh! Thơ Bích Khê lại chìm nổi ba đào vì có những “nghi án”.

Theo nhà văn Thanh Thảo: “Cách đây 10 ngót năm, tôi có dịp gặp và hầu chuyện bà Lê Thị Ngọc Sương, chị ruột nhà thơ Bích Khê, trong dịp bà về quê với ý định cùng gia tộc xây lại nhà thờ họ và di dời mộ Bích Khê về gần nhà thờ họ hơn, đông vui hơn. Nhưng rồi ý định tốt đẹp này của bà Ngọc Sương không thực hiện được bởi nhiều lý do, trong đó có lý do những người lãnh đạo ở tỉnh và ở xã hồi ấy tỏ ra tất ngần ngại, thậm chí nghi ngờ về nhân thân Bích Khê. Cớ sự cũng chỉ vì một câu chú thích trong một quyển sách dày 400 trang cuả ông Bùi Ðịnh, quyển Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Quảng Ngãi (1885-1985). Năm1986 khi quyển sách dày được sở Văn hoá thông tin Nghĩa Bình xuất bản…Có dòng chú thích mà tôi còn nhớ đại ý: “Khoảng năm 1936, có một vài nhóm Trotskist hoạt động ở Quảng Ngãi, như nhóm Lê Quang Lương (Bích Khê) ở Thu xà….” Chỉ ngắn gọn vậy thôi không thông tin hay giải thích gì thêm… Lúc bấy giờ tôi cũng chỉ nghĩ có lẽ ông Bùi Ðịnh dựa vào việc hồi đó Bích Khê có dịch (không xuất bản, có lẽ chỉ dịch một số đoạn) quyển Hồi ký của nhà văn Pháp André Gide: “Trở về từ Liên Xô.” (7)

Nhà văn Nguyễn Trung Hiếu viết về ông Bùi Ðịnh, người đã gây ra nghi án và tác phẩm của ông: “…Tháng 5 năm 1984, ông Buì Ðịnh mang tập bản thảo cuả ông đến gặp nhà báo Trương Quang Lộc nhờ góp ý. Ðoạn nói về nhà thơ Bích Khê, nhà báo Trương Quang Lộc giật mình, hỏi:

- Anh căn cứ tài liệu nào đấy?

Ông Bùi Ðịnh trả lời chắc chắn:

- Cơ sở báo cáo.

Nhà báo Trương Quang Lộc nhắc nhẹ:

- Anh xem lại cẩn thận, chứ theo chỗ tôi biết là không phải vậy.

Ông Bùi Ðịnh chỉ gật, không nói gì và cũng không lâu sau đó, sách của ông được tỉnh Nghiã Bình cũ ấn hành.

Sau khi đọc tập sách Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Quảng Ngãi (1885-1985) cuả ông Bùi Ðịnh, tôi mạo muội hỏi ông:

- Thưa cụ, Bích Khê cầm đầu nhóm Trotskist tất phải có tổ chức, có người trong tổ chức đó. Vậy những người đó mình xử lý ra sao, hành động và phương hại cụ thể lúc đó?

Như không cần suy nghĩ, ông Bùi Ðịnh nói ngay:

- Các cậu lúc đó còn nhỏ, làm sao hiểu được tình hình….(8)

Ở thời điểm 1986, thời điểm cuả “đổi mới tư duy”, những “đỉnh cao trí tuệ” còn nhìn một nhà trí thức trẻ như Bích Khê trong phong trào Thơ Mới, đã dịch quyển Retour de l’URSS mà bị đánh giá là Ðệ tứ Quốc tế -Trotskist. Còn bằng chứng thì được tác giả trả lời: “Cơ sở báo cáo”! Thật là mơ hồ! Và cho đến thời điểm 1992 chính quyền tỉnh Quảng Ngãi còn không cho gia đình di dời mộ Bích Khê làm chúng ta có thể liên tưởng đến những hình phạt dã man từ thời vua chúa thuở xưa.

Bích Khê, một nhà thơ Tây học, chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, hâm mộ nhà văn lỗi lạc André Gide cũng là chuyện rất bình thường. Và dịch quyển hồi ký của Gide viết về chuyến thăm Liên Xô trở về cũng là một chuyện bình thường như bao chuyện bình thường khác. Nếu chỉ căn cứ từng đó mà cho rằng Bích Khê là Troskist hay tham gia hoạt động ở nhóm Trotskist là võ đoán, nói theo ngôn ngữ thời thượng là chụp mũ!

Nhà văn Thanh Thảo nhận định: “Tôi dám nói chắc, nếu không phải sinh ra ở Quảng Ngãi mà ở một tỉnh khác, có lẽ Bích Khê đã được tôn vinh hơn rất nhiều, ưu ái hơn rất nhiều. Ông xứng đáng được như vậy, không chỉ vì thơ ông, dĩ nhiên, thơ ông là yếu tố quyết định cho sự tôn vinh ấy, mà còn bởi nhân cách của ông.”(9)

Nhà văn nguyễn Trung Hiếu thì nói: “Cái số của nhà thơ Bích Khê thật là đen đủi đến nỗi có một cơ quan Văn hoá ở TP Hồ chí minh trân trọng nhà thơ, đã tạc bức tượng đồng với nhã ý tặng gia đình làm kỷ niệm, nhưng không được đưa về Quảng Ngãi với lý do : Ðịa phương của nhà thơ không đồng ý !” (10)

Về con đường Bích Khê ở Quảng Ngãi, Nguyễn Trung Hiếu cũng tiết lộ: “Ngay con đường Cửa Ðông, thành Quảng ngãi cũ có một đoạn ngắn non 200 thước dân tự đặt tên là đường Bích Khê, đã tồn tại nhiều năm. Nhưng do ý kiến một vài cụ, chính quyền phải thay là đường Nguyễn Du. Dân nói vui: Ông Nguyễn Du nào lại ưng cái việc tranh đường, tranh đất chi với ông Bich Khê – nhà thơ ïhậu thế – mang tiếng tội cho ổng”. (11)

Và để bác bỏ những nghi “ án trên” , Nguyễn Trung Hiếu còn đưa ra chi tiết để chứng minh rằng Bích Khê không Trotskist mà là Marxist: “Tháng 8 năm 1945, Quảng Ngãi như một chảo lửa, hừng hực khí thế toàn đân nỗi lên cướp chính quyền. Quân Nhật như gà phải cáo…. Chính giờ phút thiêng liêng ấy, Bích Khê đã nhờ người nhà khiêng ông ra ngõ (Ông bị lao phổi thời kỳ cuối, ngót 10 năm lâm bệnh) để được chào đón ngọn cờ đỏ sao vàng…”(12) Người ta lại mặc cho Bích Khê chiếc áo Marxist để đưa ông lên ghế ngồi trong ngày 20-2-2006, ngày Hội thảo thơ Bích Khê tại Quảng Ngãi. Thật là tội nghiệp cho nhà thơ tài hoa nhưng mệnh bạc! Trong Tinh Huyết cũng như trong Tinh Hoa, Bích Khê không có một bài thơ nào, thậm chí không có một đoạn thơ hay một câu thơ nào có thể đánh giá là Trotskist hay là Marxist cả.


 

 

Thay Lời Kết

Ðọc lại thơ của Bích Khê tôi mới nhân ra: Chính thơ Bích Khê đã hút hết Tinh hoa và Tinh huyết cuả ông. Và qua lời đề tựa tập Tinh Huyết, Hàn Mặc Tử đã cho ta thấy thêm rằng: “chỉ trong vòng 3 tháng thôi, chàng đã viết được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn thi sĩ…”(13) Như vậy, làm sao Bích Khê không chết sớm được? Bích Khê đã hy sinh hoàn toàn cho thơ! Thơ đối với Bích Khê như một nghiệp chướng! Bích Khê đã chết vì thơ. Cuộc đời dù ngắn ngủi buồn đau, Bích Khê cũng đã hướng lòng mình lên cao để đạt đến cái Ðẹp và cái Thực.

Ba mươi năm trần thế, một bước trần ai, với thể chất mong manh và trái tim nhạy cảm, Bích Khê không có một thứ chủ nghĩa nào khác ngoaì thơ! Sống 30 năm ngắn ngủi, mất 10 năm lao phổi, Bích Khê đã lăn lộn với thơ và bệnh tật của mình. Liệu ông còn có

thời gian nào để làm việc gì khác nữa không huống hồ là để làm chính trị, để theo Trotskist hay theo Marxist? Bởi lẽ, đối với Bích Khê, thơ là lẽ sống, là máu thịt, là tâm linh. Chính khát vọng và nỗi đam mê thơ đã đốt cháy tâm hồn thành những cơn đau sáng tạo, nên Tinh Huyết ra đời đã làm ngạc nhiên thi đàn bởi giá trị cách tân cuả nó. Bích khê không bao giờ muốn dùng thơ làm bậc thang hay gậy chống cho đời mình.

Qua những hồi ức của nhà thơ Quách Tấn(14) và Nữ sĩ Ngọc Sương (15) cho ta thấy, dù chỉ ở độ tuổi đôi mươi, Bích Khê vẫn luôn chứng tỏ mình tự chủ, tự quyết và tự biết mình trong học tập, trong lập thân, trong văn chương, trong tình yêu, ngay cả trong cái chết. Và ngay trong Lời Tuyệt mệnh, Bích Khê đã tự đề thơ trên mộ chí của mình, như một dự báo đầy tự tin và thật ung dung tự tại của một nhà thơ hiên đại trên khu vườn thơ ca Dân tộc. Trong thơ và ngay cả trong đời sống, Bích Khê như người đạt đạo ở tuổi 30!

Thân bệnh: Ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.


Nguyễn Cao Can


———————–

Ghi Chú:

[1] 70 Năm Ðọc Thơ Bích Khê, Nxb Thanh niên 2003, Tr.25-26

[2] Văn số 66 ngày 15-9-1966, tr.112

[3] Những chữ nghiêng trong câu thơ là có âm chất Quảng Ngãi

[4] Tựa Ðiêu Tàn. Thơ Mới 1932-1945, Tác giả và tác phẩm,Nxb HNV, tr.804

[5] 70 Năm Ðọc Thơ Bích Khê, Nxb Thanh Niên 2003, tr.98

[6] …………………………………………tr. 100

[7] Tuyển Tập thơ Bích Khê, Nxb HNV VN –

HVHNT QN 2006, tr.186-187

[8] 70 Năm Ðọc thơ Bích Khê, Nxb Thanh Niên 2003, tr.186-187

[9] Tuyển Tập thơ Bích Khê, Nxb HNV VN- HVHNT QN 2006, tr.188

[10] 70 Năm Ðọc thơ Bích Khê, Nxb Thanh Niên 2003, tr.191

[11]………………………………..……tr.190-191

[12]………………………………………….tr.198

[13]…………………..………………………tr. 100

[14]…………….……………………………tr.171

[15]…………………………………………….tr.7

 
  
Gia đình Bích Khê